Chuyên đề thực tập
1
GVHD: GS.TS Hoàng Ngọc Việt
LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành chuyên đề này, ngoài sự nỗ lực và cố gắng của
bản thân, em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình về nhiều mặt của các tổ
chức và cá nhân.
Trước tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Hoàng Ngọc Việt,
người thầy đã tận tình chỉ dạy, hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.
Tôi cũng xin được cảm ơn Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông
nghiệp, nông thôn đã tạo điều kiện để tôi thực tập, nghiên cứu và hoàn thành
chuyên đề.
Hà Nội, tháng 12 năm 2010
Sinh Viên
Đặng Thị Thúy Hằng
SVTH: Đặng Thị Thúy Hằng
Lớp KTNN & PTNT K49
Chuyên đề thực tập
2
GVHD: GS.TS Hoàng Ngọc Việt
trên là do thị trường lao động của chúng ta chưa hoàn thiện, khả năng tiếp cận thị
trường lao động của người dân đặc biệt là đối với người nghèo còn nhiều hạn chế.
Vì vậy hoàn thiện hệ thống thị trường lao động, tạo cơ hội cho mọi người tiếp cận
và tìm kiếm được việc làm không chỉ là vấn đề cấp bách mà còn mang tầm chiến
lược giảm nghèo và tăng trưởng toàn diện trong cuộc thực hiện CNH – HĐH.
Thị trường lao động là một trong những thị trường cơ bản. Đặc biệt tại đại hội
SVTH: Đặng Thị Thúy Hằng
Lớp KTNN & PTNT K49
Chuyên đề thực tập
3
GVHD: GS.TS Hoàng Ngọc Việt
Đảng toàn quốc lần thứ X đã xác định thị trường lao động ở nước ta trong giai đoạn
này: “Phát triển thị trường sức lao động trong mọi khu vực kinh tế, tạo sự gắn kết
cung - cầu lao động, phát huy tính tích cực của người lao động trong học nghề, tự
tạo và tìm việc làm. Có chính sách ưu đãi các doanh nghiệp thu hút nhiều lao động,
nhất là ở khu vực nông thôn. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động, đặc biệt là xuất khẩu
lao động đã qua đào tạo nghề, lao động nông nghiệp. Hoàn thiện cơ chế, chính sách
tuyển chọn và sử dụng lao động trong khu vực kinh tế nhà nước và bộ máy công
quyền. Đa dạng hoá các hình thức giao dịch việc làm; phát triển hệ thống thông tin
về thị trường sức lao động trong nước và thế giới. Có chính sách nhập khẩu lao
động có chất lượng cao trong lĩnh vực công nghệ và quản lý ở những ngành, nghề
cần ưu tiên phát triển. Xây dựng hệ thống luật pháp về lao động và thị trường sức
lao động nhằm bảo đảm quyền lựa chọn chỗ làm việc và nơi cư trú của người lao
động; thực hiện rộng rãi chế độ hợp đồng lao động; bảo đảm quyền lợi của cả người
4
GVHD: GS.TS Hoàng Ngọc Việt
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG
LAO ĐỘNG CHO NGƯỜI NGHÈO
Một số lý luận cơ bản về lao động, việc làm
1.1.1 Lao động
1.1.1.1 Khái niệm về lao động và lực lượng lao động
1.1.
Lao động
Lao động là hoạt động của con người diễn ra giữa con người với giới tự
nhiên. Trong quá trình lao động, con người vận dụng sức lực tiềm tàng trong cơ thể
tác động vào giới tự nhiên chiếm giữ những chất trong giới tự nhiên, biến đổi những
chất đó làm cho chúng trở nên có ích trong đời sống của con người.
Ngày nay khái niệm lao động đã được mở rộng, lao động là hoạt động có
mục đích của con người, bất cứ ai làm việc gì cũng phải tiêu hao một lượng năng
lượng nhất định, tuy nhiên chỉ có tiêu hao năng lượng có mục đích mới được gọi là
lao động. Vì vậy lao động là điều kiện không thể thiếu được của đời sống con
người, là sự tất yếu vĩnh viễn. Lao động làm cho người ta ngày càng phát triển toàn
diện và mang tính sang tạo cao. Bất kỳ một xã hội nào muốn tồn tại và phát triển
đều phải không ngừng phát triển sản xuất. Điều đó có nghĩa là lao động sản xuất là
hoạt động có ý thức của con người nhằm tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần
phục vụ cho nhu cầu bản thân và xã hội. Lao động mãi là nguồn gốc và động lực
phát triển của xã hội. Bởi vậy, xã hội càng văn minh thì tính chất, hình thức và
phương thức tổ chức lao động càng tiến bộ.
Việt Nam bước vào thời kỳ CNH – HĐH với nền kinh tế vận hành theo cơ
thất nghiệp.
Theo kinh tế học David Begg cho rằng: Lực lượng lao động có đăng ký bao
gồm số người có việc làm cộng với số người thất nghiệp có đăng ký.
Từ các khái niệm trên lực lượng lao động có thể được hiểu như sau: Lực
lượng lao động bao gồm toàn bộ những người từ 15 tuổi trở lên đang có việc làm
hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc.
1.1.1.2 Khái niệm về nguồn lao động
Theo giáo trình Kinh tế Lao động -Trường đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội:
Nguồn lao động là toàn bộ dân số trong độ tuổi trừ đi những người trong độ tuổi
này hoàn toàn mất khả năng lao động.
Theo quy định của Tổng cục Thống kê khi tính toán còn cân đối nguồn lao
động xã hội, theo đó: Nguồn lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động
có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động đang tìm việc làm
trong các ngành kinh tế quốc dân. Nguồn lao động bao gồm số lượng và chất lượng
lao động.
Số lượng lao động là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả
năng lao động. (Theo quy định của Bộ Luật lao động Việt Nam: người trong độ tuổi
lao động 15 – 60 tuổi đối với nam, 15 – 55 tuổi đối với nữ).
Chất lượng lao động: Chúng ta luôn nhìn thấy được lao động là hoạt động
của con người, “Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự
nhiên, một quá trình trong đó, bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung
gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên” [30, tr.230]. Khi lao
động, con người sử dụng chính sức lao động của mình để tác động vào đối tượng
SVTH: Đặng Thị Thúy Hằng
Lớp KTNN & PTNT K49
Chuyên đề thực tập
1.1.2.1 Khái niệm, vai trò và phân loại việc làm
Khái niệm việc làm
Việc làm là một phạm trù tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế xã hội và
nhân khẩu nó thuộc những vấn đề chủ yếu của toàn bộ đời sống xã hội. Tùy theo
cách tiếp cận mà người ta có những khái niệm khác nhau về việc làm:
Việc làm là tất cả các hoạt động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật ngăn
cấm gọi là việc làm.
SVTH: Đặng Thị Thúy Hằng
Lớp KTNN & PTNT K49
Chuyên đề thực tập
7
GVHD: GS.TS Hoàng Ngọc Việt
Các hoạt động được xác định là việc làm bao gồm: làm các công việc được
trả công dưới dạng tiền hoặc hiện vật; những công việc tự làm để thu lợi nhuận cho
bản thân hoặc tạo ra thu nhập cho gia đình nhưng không được trả công bằng tiền
hoặc hiện vật cho công việc đó.
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Việc làm là những hoạt động được trả
công bằng tiền hoặc bằng hiện vật.
Quan điểm xem xét việc làm như một tế bào, một đơn vị nhỏ nhất phân chia
từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thì cho rằng: “Việc làm là một phạm trù để chỉ
trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, hoặc những phương tiện để
sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội”.
Theo điều 13 Bộ luật Lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
8
GVHD: GS.TS Hoàng Ngọc Việt
- Việc làm chính: là công việc chiếm nhiều thời gian nhất so với các công
việc khác của người lao động.
- Việc làm phụ: là những việc mà người lao động dành nhiều thời gian nhất
sau công việc chính.
- Việc là đầy đủ: căn cứ trên hai khía cạnh chủ yếu đó là mức độ sử dụng thời
gian lao động và mức năng suất, thu nhập. Một việc làm đầy đủ đòi hỏi người lao
động làm việc theo chế độ thời gian quy định (8 giờ/ngày). Mặt khác, việc làm đầy
đủ phải mang lại thu nhập không thấp hơn mức lương tối thiểu.
Căn cứ vào thời gian có việc làm thường xuyên trong năm:
- Người có việc làm ổn định là những người làm việc từ 6 tháng trở lên trong
năm, hoặc những người làm việc dưới 6 tháng trong 1 năm nhưng công việc đó kéo
dài trong nhiều năm.
- Người có việc làm tạm thời là những người làm việc dưới 6 tháng trong 1
năm, trong 2 tháng trước thời điểm điều tra đang làm một công việc tạm thời, hoặc
không có việc làm dưới một tháng.
1.1.2.2 Thiếu việc làm và thất nghiệp
Thiếu việc làm
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): người thiếu việc làm là những người
trong tuần lễ tham khảo có số giờ làm việc dưới mức quy định chuẩn cho người có
đủ việc làm và có nhu cầu làm thêm.
Theo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội: Người thiếu việc làm bao gồm
những người trong tuần lễ tính đến thời điểm điều tra có tổng số giờ làm việc dưới
40 giờ, hoặc có số giờ làm việc nhỏ hơn số giờ quy định hiện hành của Nhà nước,
có nhu cầu làm thêm giờ và sẳn sàng làm việc nhưng không có việc để làm.
Theo một số chuyên gia về chính sách lao động việc làm thì cho rằng: Người
thiếu việc làm là những người đang tìm việc, có mức thu nhập thấp dưới mức lương
một đất nước, nó là gánh nặng của gia đình và xã hội.
Khi nền kinh tế không tạo đủ việc làm cho những người có khả năng lao
động và có nhu cầu làm việc thì việc sử dụng không hết nguồn lực lao động sẽ gây
ra sự lãng phí. Hậu quả trực tiếp của nó là sự giảm sút tổng thu nhập quốc dân, là
nguyên nhân của nhiều tai, tệ nạn và các vấn đề phức tạp xã hội nảy sinh.
Đối với cá nhân thất nghiệp, thiếu việc làm đồng nghĩa không có tiền công,
tiền lương hoặc thu nhập thấp và bấp bênh. Đó là một trong những nguyên nhân của
sự nghèo đói.
Thất nghiệp và thiếu việc làm không những làm cho người lao động mất đi
cơ hội trau dồi và nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp mà còn làm hao mòn và
mất đi kiến thức, trình độ chuyên môn đối với những người đã được qua đào tạo.
Việc làm không những đem lại thu nhập cho người lao động mà qua công
việc người lao động có điều kiện để phát triển nhân cách, tự khẳng định mình và là
môi trường để giao tiếp. Do vậy, thất nghiệp và thiếu việc làm đồng nghĩa với việc
hạn chế sự phát triển cả một con người.
Trong xã hội chủ nghĩa, một bộ phận lớn tư liệu sản xuất thuộc sở hữu toàn
dân, về nguyên tắc mọi người đều có quyền bình đẳng về quyền sở hữu đối với tư
liệu sản xuất này. Song, thực tế chỉ một bộ phận dân cư có quyền sử dụng và có thu
nhập còn những người thất nghiệp hoặc thiếu việc làm có quyền sở hữu mà không
có quyền sử dụng và không có thu nhập. Như vậy, thất nghiệp và thiếu việc làm còn
liên quan đến vấn đề công bằng xã hội.
Tóm lại, để lao động tìm được việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng
lao động đều có cơ hội làm việc ngoài trách nhiệm thuộc về bản thân người lao
SVTH: Đặng Thị Thúy Hằng
Lớp KTNN & PTNT K49
Chuyên đề thực tập
một hợp đồng lao động bằng văn bản hoặc bằng miệng, hoặc thông qua các dạng
hợp đồng hay thỏa thuận khác.
1.2.1.2 Sự hình thành thị trường lao động
Sự hình thành thị trường lao động ở Việt Nam cũng như nhiều nước đang
phát triển gắn với quá trình phân hóa tự nhiên của nền sản xuất nhỏ, phổ biến hình
thức thuê mướn lao động theo kiểu hợp đồng miệng, thời gian ngắn, tạm thời,
không ổn định.
SVTH: Đặng Thị Thúy Hằng
Lớp KTNN & PTNT K49
Chuyên đề thực tập
11
GVHD: GS.TS Hoàng Ngọc Việt
Trước thời kỳ 1986 (thời kỳ kế hoạch hóa tập trung trước Đổi mới): thời kỳ
này chưa có sự hình thành và hoạt động của thị trường lao động chính thống, sức
lao động chưa được công nhận là hàng hóa. Trong nền kinh tế tồn tại một số hình
thức thuê mướn lao động số lượng nhỏ, lẻ, manh mún. Sự di chuyển lao động trên
lãnh thổ còn nhiều hạn chế.
Thời kỳ từ năm 1986 đến nay sự cải cách kinh tế theo cơ chế thị trường đã
tạo môi trường cho thị trường lao động nước ta hình thành, phát triển và hội nhập
ngày càng sâu rộng hơn vào thị trường lao động quốc tế. Kết quả đã làm xuất hiện
cấu trúc mới về việc làm, với sự hình thành các chủ sử dụng lao động mới phù hợp
với nền kinh tế thị trường và hoạt động của thị trường lao động. Trong thời kỳ này
thị trường lao động nước ta cung lớn hơn cầu lao động, thị trường lao động bị phân
mảng lớn, thiếu cung lao động chất lượng cao, dư thừa lao động phổ thông và lao
GVHD: GS.TS Hoàng Ngọc Việt
động: Các loại hàng hóa, dịch vụ đặc biệt là hàng hóa công nghiệp thường được
chuẩn hóa cao, đảm bảo tính đồng nhất về mẫu mã, chất lượng. Nhưng hàng hóa
sức lao động không đồng nhất. Mỗi người lao động khác nhau về tuổi tác, nguồn
gốc, giới tính, trí thông minh, sự khéo léo, thể lực, động lực làm việc và chúng đều
có ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả lao động. Đồng thời, người lao động còn
có sự khác nhau về trình độ văn hóa, cấp trình độ chuyên môn kỹ thuật, số năm kinh
nghiệm công tác…
Ba là, giá cả sức lao động trên thị trường lao động do quan hệ cung cầu
xác định: Sự hoạt động của quy luật cung - cầu lao động trên thị trường lao động
xác định giá cả sức lao động. Nó biểu hiện thông qua trạng thái quan hệ thỏa thuận
giữa người lao động và người sử dụng lao động về tiền lương, tiền công. Ngoài ra,
các vấn đề khác liên quan đến quan hệ lao động cũng được thảo thuận như: việc
làm, thời gian làm việc, bảo hiểm xã hội, môi trường lao động và các điều kiện làm
việc khác.
Bốn là, giá cả không phải là tín hiệu duy nhất để điều chỉnh quan hệ cung cầu lao động. Ngoài sự hoạt động của quy luật cung - cầu lao động còn có vai trò
của Chính phủ đối với các khuyết tật của thị trường lao động để đạt được các mục
tiêu kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ. Chính phủ điều tiết bằng lương tối thiểu
chung toàn quốc, tiền lương tối thiểu ngành, tiền lương tối thiểu vùng. Ngoài ra,
Chính phủ còn quy định các tiêu chuẩn lao động, các chuẩn mực quan hệ lao động
mà bắt buộc người lao động và người sử dụng lao động phải tuân thủ trong quá
trình mua bán sức lao động.
Năm là, thị trường lao động hoạt động đa dạng với nhiều phân lớp khác
nhau. Ngoài thị trường lao động chung toàn quốc, người ta còn xác định các phân
mảng thị trường lao động khác như: thị trường lao động theo lãnh thổ địa lý, khu
vực thị trường lao động theo trình độ kỹ năng.
Sáu là, vị trí yếu hơn của người lao động trong đàm phán trên thị trường
lao động, bởi các lý do sau:
thuận các điều kiện và giá cả của dịch vụ lao động.
1.2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường lao động Việt Nam
Nước ta thuộc diện một trong số các nước đang phát triển và có đặc điểm là
trải qua nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp. Do đó, việc đảm bảo các điều
kiện cho sự phát triển của thị trường lao động có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với
giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội bức xúc của quốc gia trong quá trình phát triển
nền kinh tế thị trường. Xuất phát từ đặc điểm phát triển nền kinh tế thị trường, các
nhân tố chính thúc đẩy sự phát triển kinh tế thị trường lao động nước ta được xác
định gồm:
- Đảm bảo tăng trưởng của nền kinh tế: Thông qua tăng trưởng kinh tế cao
mới có khả năng tạo ra mức cầu lao động cao, mới có cơ sở vật chất cho phát triển
chất lượng của cung lao động.
- Thúc đẩy hiệu quả quá trình CNH – HĐH đất nước: Quá trình CNH – HĐH
được thúc đẩy đạt tốc độ càng cao thì thị trường lao động càng có mức độ phát triển hơn.
- Nâng cao chất lượng của cung lao động: Chất lượng lao động có vai trò
quan trọng trong quá trình thúc đẩy thị trường lao động phát triển.
- Thiết lập chính sách thị trường lao động hiện đại.
1.2.1.5 Các yếu tố của thị trường lao động
Cung, cầu về lao động
* Cung về lao động: Cung về lao động là tổng số lượng lao động đang tham
SVTH: Đặng Thị Thúy Hằng
Lớp KTNN & PTNT K49
Chuyên đề thực tập
14
Cầu thực tế về lao động
+
Số chổ làm sẽ được tạo ra
trong tương lai.
Quan hệ cung cầu và giá cả hàng hóa sức lao động
Quan hệ cung cầu lao động có ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả sức lao động
(tiền lương, tiền công) trên thị trường, biểu hiện cụ thể qua hình sau:
SVTH: Đặng Thị Thúy Hằng
Lớp KTNN & PTNT K49
Chuyên đề thực tập
W
W1
15
GVHD: GS.TS Hoàng Ngọc Việt
S
D
Lớp KTNN & PTNT K49
Chuyên đề thực tập
16
GVHD: GS.TS Hoàng Ngọc Việt
giữa cung và cầu lao động, trường hợp này cầu lớn hơn cung. Theo quy luật của thị
trường thì giá cả sức lao động luôn có xu hướng trở về W0.
Đối với thị trường lao động nước ta hiện nay, có đặc trưng là cung lớn hơn
cầu, do nguồn nhân lực tăng nhanh, nền kinh tế đang trong quá trình cơ cấu lại, cầu
lao động của ngành công nghiệp, dịch vụ còn thấp… Vì vậy, để có thể cân bằng
được cung - cầu lao động cần có chính sách tăng cầu lao động trên cơ sở thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế, phát triển nhanh các khu vực kinh tế, kích cầu tiêu dùng, hội
nhập quốc tế mạnh mẽ và có cơ chế chính sách nâng cao chất lượng nguồn lao
động.
1.2.2. Thông tin thị trường lao động
1.2.2.1 Khái niệm về thông tin thị trường lao động
Thông tin thị trường lao động là hệ thống các chỉ tiêu phản ánh trạng thái các
thành tố của thị trường lao động như: cung lao động, cầu lao động, các điều kiện
làm việc (tiền lương, trợ cấp… ) và các trung gian thị trường lao động (các tổ chức
và cơ chế hỗ trợ việc kết nối người tìm việc (sức lao động) và chổ làm việc trống
(người sử dụng lao động)).
Ngoài các thông tin định lượng, thông tin thị trường lao động được thu thập
có thể là thông tin định tính, thí dụ các văn bản pháp luật, quy định, báo cáo, bản
ghi dữ liệu về điều kiện làm việc, nhu cầu đào tạo, lỗ hổng kỹ năng, đào tạo nghề và
đầu ra.
1.2.2.2 Vai trò thông tin thị trường lao động
hiện các chương trình đào tạo theo tín hiệu, yêu cầu kỹ năng nghề nghiệp, ngành
nghề của lao động trên thị trường.
- Thông tin thị trường thực sự quan trọng cho người tìm việc, qua các kênh
thông tin thị trường người tìm việc có thể biết được nơi nào cần tuyển dụng, yêu cầu
của nhà tuyển dụng như thế nào… Mặt khác dự báo tốt về thị trường lao động trong
tương lai giúp cho người lao động có định hướng về nghề nghiệp của mình từ đó
đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động.
Thông tin thị trường giúp cho người tìm việc và việc tìm người dễ dàng gặp
nhau hơn.
1.3. Một số lý luận về người nghèo
Nghèo là sự diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng
với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định. Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên
nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian. Tổ chức Y
tế Thế giới định nghĩa nghèo theo thu nhập. Theo đó một người là nghèo khi thu
nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm
(Per Capita Incomme, PCI) của quốc gia.
1.3.1 Nghèo tuyệt đối
Để có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước đang phát triển,
Robert McNamara, khi là giám đốc của Ngân hàng Thế giới, đã đưa ra khái niệm
nghèo tuyệt đối. Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: "Nghèo ở mức
độ tuyệt đối...là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt
đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong
tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh
ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta."
Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương
đương của địa phương so với (đô la thế giới) để thỏa mãn nhu cầu sống như là
chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối. Trong những bước sau đó các trị ranh giới
nghèo tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được xác định, từ 2 đô
SVTH: Đặng Thị Thúy Hằng
tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn. Việc nghèo đi về văn hóaxã hội, thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một phần được
các nhà xã hội học xem như là một thách thức xã hội nghiêm trọng.
1.3.3 Ranh giới nghèo tương đối
Ranh giới cho nạn nghèo tương đối dựa vào nhiều số liệu thống kê khác nhau
cho một xã hội. Một con số cho ranh giới của nạn nghèo được dùng trong chính trị
và công chúng là 50% hay 60% của thu nhập trung bình. Vì thế từ năm 2001 trong
các nước thành viên của Liên minh châu Âu những người được coi là nghèo khi có
ít hơn 60% trị trung bình của thu nhập ròng tương đương. Lý luận của những người
phê bình cho rằng con số này trên thực tế cho biết rất ít về chuẩn mực cuộc sống
của con người. Những ai hiện tại có ít hơn 50% của thu nhập trung bình thì cũng
vẫn có ít hơn 50% của trung bình khi tất cả các thu nhập đều tăng gấp 10 lần. Vì thế
những người đó vẫn còn là nghèo tương đối. Và khi những người giàu bỏ đi hay
SVTH: Đặng Thị Thúy Hằng
Lớp KTNN & PTNT K49
Chuyên đề thực tập
19
GVHD: GS.TS Hoàng Ngọc Việt
mất tiền của thì sẽ giảm trung bình của thu nhập đi và vì thế làm giảm thiểu nghèo
tương đối trong một nước. Ngược lại nghèo tương đối sẽ tăng lên khi một người
không nghèo có thể tăng được thu nhập ngay cả khi những người có thu nhập khác
vẫn không có thay đổi. Người ta còn phê bình là ranh giới nghèo trộn lẫn vấn đề
nghèo với vấn đề phân bố thu nhập. Vì một sự phân chia rõ ràng giữa nghèo và giàu
trên thực tế không có nên khái niệm ranh giới nguy cơ nghèo cũng hay được dùng
cho ranh giới nghèo tương đối.
Chuyên đề thực tập
20
GVHD: GS.TS Hoàng Ngọc Việt
công nghiệp hóa đang phát triển mạnh, nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn
kiệt, thiếu tư liệu sản xuất. Việc di chuyển lực lượng lao động dôi dư này sàng các
khu vực khác còn gặp nhiều hạn chế, tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn và cộng
đồng người nghèo còn chiếm tỷ lệ cao.
Mang tính thời vụ: Chủ yếu lực lượng lao động này tập trung trong lĩnh vực
nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp lại chịu sự tác động và bị chi phối bởi các quy
luật sinh học và các điều kiện tự nhiên. Vì vậy, quá trình sản xuất nông nghiệp
mang tính thời vụ cao, việc sử dụng lao động trong nông nghiệp phụ thuộc vào điều
kiện tự nhiên và quy luật sinh trưởng của sinh vật, cho nên có thời kỳ cần nhiều lao
động, có thời ký cần rất ít lao động. Điều đó dẫn đến khả năng thu hút lao động
trong nông nghiệp, nông thôn là không đều, tạo ra tính nông nhàn trong nông thôn.
Thời kỳ nông nhàn, một bộ phận lao động chuyển sàng làm các công việc khác theo
tính thời vụ và ngắn hạn tạm thời. Người ta có xu hướng là nhận bất cứ việc gì, bất
kể những công việc ấy có thích hợp với họ hay không, ngay cả trong môi trường
mất an toàn lao động, thiếu thiết bị bảo hộ lao động, không được sự hỗ trợ từ phái
người sử dụng lao động.
Lao động ít chuyên sâu: Hầu hết lao động trong cộng đồng người nghèo hoạt
động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, ngành mà có nhiều laoij công việc mang
tính chất khác nhau. Một lao động có thể làm được nhiều việc và nhiều lao động có
thể làm cùng một việc. Chính vì vây, lao động trong lĩnh vực này ít được chuyên
sâu, công việc lao động phổ thông, lao động ít được đào tạo, chủ yếu sản xuất bằng
kinh nghiệm là chính. Vì thế, hiệu quả lao động thấp, khó khăn trong việc chuyển
việc tiếp cận thị trường lao động.
1.4. Kinh nghiệm nâng cao năng lực tiếp cận thị trường số nước và vùng lãnh thổ
1.4.1. Kinh nghiệm một số nước và vùng lãnh thổ
Một số nước trong khu vực có những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khá
giống nước ta, nhưng trình độ phát triển kinh tế lại hơn ta khá xa, điều đó do nhiều
nguyên nhân, song có một nguyên nhân đáng kể đó là do lao động của họ đáp ứng
được yêu cầu của thị trường lao động, lao động có việc làm đầy đủ và mang lại
năng suất lao động cao, có thu nhập cao. Có thể điểm qua một số nét về việc nâng
cao chất lượng nguồn lao động ở một số nước sau:
1.4.1.1. Singapore
Singapore là một quốc gia thuộc Đông Nam châu Á¸ với diện tích đất nhỏ và
dân số ít, nguồn tài nguyên thiên nhiên khan hiếm nhưng đã đạt được nhiều thành
tựu kinh tế kỳ diệu. Việc phát triển kinh tế - xã hội Singapore trông chờ vào tài năng
và kỹ năng của con người để phát triển.
“Giáo dục, đào tạo là động lực chủ yếu thông qua đó mỗi cá nhân đều có
được cơ hội phát triển ngang nhau. Chiến lược phát triển nguồn lao động của
Singapore dựa trên những nguyên tắc sau:
- Giáo dục cho tất cả mọi người có được năng lực tối đa.
- Phát triển những kỹ năng đáp ứng được nhu cầu của các ngành công nghiệp
và doanh nghiệp.
- Khuyến khích tiếp tục đào tạo và đào tạo lại để thích ứng với sự phát triển
nhanh chóng của kỹ thuật và tiếp thu thêm những kỹ năng mới”
Đồng thời Chính phủ Singapore tập trung vào việc thiết lập và mở rộng các
trung tâm đào tạo để có tiêu chuẩn hóa chất lượng lao động trên phạm vi toàn quốc,
chú trọng tới định hướng nghề nghiệp cụ thể là việc thực hành cho các học sinh tại
các trường Trung học phổ thông và các trường đại học cũng như các học viện.
Thực tế cho thấy ngân sách dành cho giáo dục ở Singapore rất cao và tăng
SVTH: Đặng Thị Thúy Hằng
Lớp KTNN & PTNT K49
phủ còn xây dựng hệ thống thông tin công cộng nhằm cung cấp miễn phí thông tin
thị trường cho nông dân. Nông dân có thể thông qua hệ thống này tự tìm thị trường
cho sản phẩm của mình.
Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp trong nông thôn Trung Quốc đang rất cao (khoảng
78 triệu trong số 1,3 tỷ lao động nông thôn), lao động nông thôn làm việc trong các
doanh nghiệp phần lớn đều trở về quê hương, vì nhu cầu tiêu dùng giảm mạnh
khiến các doanh nghiệp đứng trên bờ vực phá sản hoặc cắt giảm nhân công. Nhưng
trở về địa phương, họ đều nắm bắt được trình độ kỹ thuật nhất định, họ có thể vận
dụng vào chế biến nông sản, nâng cao kỹ thuật trồng trọt, từ đó cải thiện cuộc sống.
Ở một chừng mực nhất định có thể giảm nhẹ tình trạng thất nghiệp.
1.4.2. Kinh nghiệm từ trong nước
Một số bài học có thể xem xét và vận dụng vào nước ta
SVTH: Đặng Thị Thúy Hằng
Lớp KTNN & PTNT K49
Chuyên đề thực tập
23
GVHD: GS.TS Hoàng Ngọc Việt
Qua nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước kinh tế phát triển và các nước
trong khu vực về nâng cao khả năng tiếp cận thị trường cho lao động nông thôn nói
chung và người nghèo nói riêng có thể rút ra một số bài học để xem xét, vận dụng
vào nước ta:
Thứ nhất, coi trọng giáo dục chuyên nghiệp dạy nghề.
Giáo dục chuyên nghiệp chuyên nghiệp dạy nghề sẽ tạo ra đội ngũ lao động có
chuyên môn, có tay nghề. Cần coi trọng giáo dục dạy nghề theo giác độ mở rộng quy
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VỀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN
THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG CHO NGƯỜI NGHÈO
Ở HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN
2.1. Đặc điểm của địa bàn huyện Con Cuông
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lí
Hình 2.1. Bản đồ hành chính huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An
Huyện Con Cuông nằm ở phía tây nam của tỉnh Nghệ An, cách Thành phố
Vinh 130 km về phía Đông Nam, có tọa độ địa lý từ 18 046’30” đến 19023’42” vĩ độ
Bắc; từ 104031’57” đến 105030’80” kinh độ Đông, vị trí của huyện tiếp giáp với các
huyện sau:
- Phía Đông Bắc giáp 2 huyện Quỳ Hợp và Tân Kỳ
- Phía Tây Bắc giáp huyện Tương Dương
SVTH: Đặng Thị Thúy Hằng
Lớp KTNN & PTNT K49
Chuyên đề thực tập
25
GVHD: GS.TS Hoàng Ngọc Việt
- Phía Tây Nam giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào
- Phía Đông Nam giáp huyện Anh Sơn
Huyện có dòng sông Lam chảy qua, có Quốc lộ 7 chạy dọc từ đầu đến cuối
huyện; đây là lợi thế cơ bản để phát triển kinh tế, giao lưu và trao đổi hàng hoá với
SVTH: Đặng Thị Thúy Hằng
Lớp KTNN & PTNT K49