TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
ĐÀO THỊ HÀ
DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
“CHÍ PHÈO” (NGỮ VĂN 11, TẬP 1)
THEO ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Ngữ văn
HÀ NỘI - 2018
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
ĐÀO THỊ HÀ
DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
“CHÍ PHÈO” (NGỮ VĂN 11, TẬP 1)
THEO ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Ngữ văn
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. TRẦN HẠNH PHƢƠNG
Viết tắt
Viết đầy đủ
PPDH
Phƣơng pháp dạy học
THPT
Trung học phổ thông
HS
Học sinh
GV
Giáo viên
CT
Chƣơng trình
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................ 6
2.2.2. Phân tích nêu vấn đề ............................................................................. 24
2.2.2.1. Mục đích............................................................................................. 24
2.2.2.2. Cách thức thực hiện............................................................................ 24
2.2.3. Biện pháp trao đổi, thảo luận ............................................................... 27
2.2.3.1. Mục đích............................................................................................. 27
2.2.3.2. Cách thức thực hiện............................................................................ 27
Chƣơng 3.THIẾT KẾ THỰC NGHIỆM ......................................................... 31
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhƣ chúng ta đã biết giáo dục có ý nghĩa vô cùng lớn đối với công
cuộc xây dựng và bảo vệ đất nƣớc. Những năm gần đây, trong hành trình đổi
mới căn bản và toàn diện giáo dục đã có rất nhiều nghị quyết nhằm đổi mới
giáo dục ra đời. Chẳng hạn nhƣ nghị quyết đại hội XI của Đảng cộng sản Việt
Nam, chiến lƣợc phát triển giáo dục 2011-2021 đặt con ngƣời làm trung tâm
của chiến lƣợc phát triển. Hay nhƣ kết luận của hội nghị Trung ƣơng VI (khóa
XI) nhấn mạnh: Mục tiêu cốt lõi của giáo dục và đào tạo là hình thành và phát
triển phẩm chất, năng lực của con ngƣời Việt Nam.
Đứng trƣớc đòi hỏi thay đổi của giáo dục thời đại mới, giáo dục đã có
những bƣớc đi mới, chuyển biễn rõ rệt, hƣớng vào mục tiêu quan trọng là
hình thành và phát triển năng lực phẩm chất của ngƣời học. Nghị quyết 29NQ/TW ngày 4/11/2013 của ban chấp hành Trung ƣơng Đảng về đổi mới căn
bản và toàn diện giáo dục và đào tạo đã đƣa ra quan điểm chỉ đạo nhƣ sau:
“Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dƣỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức
sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất ngƣời học” [3; 3].
Nghị quyết 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về đổi mới
chƣơng trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông đã nêu lên mục tiêu: “Đổi
chốt thì đến nay đã có những thay đổi căn bản trong vấn đề này. Cách đọc
hiểu không nhằm truyền thụ một chiều cho học sinh những cảm nhận của giáo
viên về văn bản đang học mà bắt đầu hƣớng đến cung cấp cho học sinh cách
đọc, tiếp cận, khám phá nội dung và nghệ thuật của văn bản. Từ việc đó, hình
thành năng lực tự đọc cho học sinh một cách tích cực và chủ động, mang màu
sắc cá nhân. Hoạt động đọc hiểu của học sinh cần đƣợc trình bày theo trật tự
từ dễ đến khó hoặc từ thấp đến cao, qua các giai đoạn từ đọc đúng đến hiểu và
2
đọc tái hiện sang đọc sáng tạo. Khi hình thành năng lực đọc hiểu của học sinh
cũng chính là hình thành năng lực cảm thụ thẩm mĩ, năng lực giao tiếp, khơi
gợi liên tƣởng, tƣ duy…
Là sinh viên sƣ phạm Ngữ văn đƣợc tiếp xúc với những bài giảng của
các thầy cô và những công trình nghiên cứu về dạy học theo định hƣớng phát
triển năng lực, tôi nhận thấy dạy học không chỉ nhằm cung cấp cho học sinh
kiến thức, kỹ năng, thái độ mà quan trọng là hình thành và phát triển năng lực
đọc hiểu nói riêng cũng nhƣ các năng lực khác nói chung cho các em.
Đặc biệt tôi nhận thấy Ngữ văn là môn học có lợi thế rất lớn trong việc
phát triển năng lực đọc hiểu. Ngữ văn là môn học thâm nhập vào mọi lĩnh vực
của đời sống con ngƣời. Do thế phát triển năng lực đọc hiểu cho học sinh là
rất cần thiết.
Xuất phát từ bối cảnh đổi mới giáo dục và phƣơng pháp dạy học Ngữ
văn hiện nay, cùng mong ƣớc có một đề tài đóng góp vào sự nghiệp cải cách
giáo dục Việt Nam, thôi thúc tôi quyết định tìm hiểu và nghiên cứu đề tài
khoa học “Dạy học đọc hiểu văn bản “Chí Phèo” (Ngữ văn 11, tập 1) theo
định hƣớng phát triển năng lực”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở Việt Nam, trƣớc hành trình đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục
phổ thông, rất nhiều bài viết bàn về vấn đề năng lực ra đời nhƣ: Bài viết về
nhiều công trình nghiên cứu về PPDH Ngữ văn từ khi đổi mới giáo dục và
thay SGK 2000. Những công trình nghiên cứu của các tác giả đều cho thấy
tầm quan trọng của hoạt động đọc hiểu và sự cần thiết đổi mới của việc dạy
và học Ngữ văn trong nhà trƣờng THPT hiện nay.
Nhƣng chúng tôi đặc biệt quan tâm đến những nghiên cứu của các tác
giả sau:
4
Phan Trọng Luận với chuyên luận “Cảm thụ văn học, giảng dạy văn
học”. Chuyên luận đã phân tích vai trò quan trọng của hoạt động đọc, tƣ
tƣởng ấy đƣợc đề xuất rõ thêm trong giáo trình “Phƣơng pháp dạy văn”.
Nguyễn Trọng Hoàn với các bài viết nhƣ: “Một số vấn đề về đọc hiểu
văn bản Ngữ văn”, “Hình thành năng lực đọc cho học sinh trong dạy học Ngữ
văn”. Trong bài viết, tác giả đã nêu lên cách thức tiếp nhận đọc hiểu: đọc hiểu
gắn với minh họa và đọc hiểu huy động vốn ngôn ngữ và kinh nghiệm.
Trần Đình Sử với bài viết “Đọc hiểu văn bản- Một khâu đột phá trong
nội dung và phƣơng pháp dạy học hiện nay” đã nhấn mạnh: “Đề xuất vấn đề
đọc hiểu văn bản nhƣ một khâu đột phá trong việc đổi mới học Ngữ văn… là
một yêu cầu bức thiết đối với đào tạo nguồn nhân lực cho đất nƣớc”. Rất
nhiều bài viết khác nhƣ “Văn bản văn học và đọc hiểu văn bản”, “Văn bản
văn học: ngôn từ, thông báo, ý nghĩa và những ngả đƣờng đọc hiểu”, “Từ
giảng văn qua phân tích tác phẩm đến dạy học đọc hiểu tác phẩm văn học”.
Tất cả các bài viết đều khẳng định tầm quan trọng của khâu đọc hiểu văn bản
cũng nhƣ sự thiết yếu phải đổi mới việc dạy và học văn học trong nhà trƣờng
THPT.
Nhìn chung có rất nhiều bài viếtđề cập đến năng lực, năng lực Ngữ văn
nhƣ Phan Trọng Luận với chuyên luận “Cảm thụ văn học, giảng dạy văn
học”, Nguyễn Trọng Hoàn với bài viết “Một số vấn đề về đọc hiểu văn bản
Ngữ văn” và những bài viết của tác giả Trần Đình sử. Tuy nhiên chƣa có một
Đây là phƣơng pháp sử dụng để phân loại, phân tích kết quả khảo sát
thực trạng của học sinh khi tiến hành thí nghiệm và phân tích kết quả thực
nghiệm.
6
5.2. Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
Phân tích là nghiên cứu về các tài liệu, lý luận khác nhau bằng cách
phân tích chúng thành từng bộ phận để tìm hiểu sâu sắc về đối tƣợng tạo ra
một hệ thống.
Tổng hợp là liên kết từng mặt, từng bộ phận, thông tin đã đƣợc phân
tích tạo ra một hệ thống lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc về đối tƣợng.
5.3. Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm
Là phƣơng pháp dùng để nghiên cứu, xem xét lại những thành quả thực
tiễn trong quá khứ để rút ra kết luận bổ ích cho thực tiễn và khoa học.
6. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận đóng góp một phần vào việc đổi mới phƣơng pháp dạy học
Ngữ văn theo định hƣớng đổi mới hiện nay trong các trƣờng phổ thông.
7. Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận bố cục có ba chƣơng chính:
Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
Chƣơng 2. Biện pháp tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản “Chí Phèo” theo định
hƣớng phát triển năng lực
Chƣơng 3. Thiết kế thực nghiệm
7
NỘI DUNG
thông thường. Đặc biệt, hành động làm phải gắn với ý thức thái độ, phải có
kiến thức, kỹ năng và kỹ sảo chứ không dừng lại ở làm việc máy móc, mù
quáng, thiếu hiệu quả.
Năng lực Ngữ văn
Trong giáo trình Phương pháp dạy học văn tập 2, Tác giả Phan Trọng
Luận đã quan tâm đến việc triển khai quan niệm về năng lực trong dạy học
văn chƣơng. Tác giả cho rằng có ba loại năng lực văn chƣơng: năng lực sáng
tạo, năng lực phê bình, năng lực tiếp nhận, trong đó năng lực tiếp nhận là
năng lực cần hình thành cho học sinh.
Theo tác giả Phạm Minh Diệu trong bài viết “Bàn về năng lực chuyên
biệt trong môn Ngữ văn ở trƣờng trung học phổ thông” cho rằng các năng lực
cơ bản cần hình thành và phát triển ở HS trong môn Ngữ văn gồm: Năng lực
đọc hiểu (tiếp nhận văn bản), năng lực làm văn (tạo lập văn bản)
Theo tác giả Nguyễn Xuân Lạc trong bài viết “Phát triển năng lực
ngƣời học qua môn Ngữ văn” trên báo Giáo dục và thời đại đã chỉ ra đặc
trƣng của môn Ngữ văn là môn học đƣợc tích hợp từ ba phân môn là văn,
tiếng Việt, tập làm văn nhƣng về cơ bản đó là môn nghệ thuật. Vì vậy môn
Ngữ văn cần hình thành và phát triển cho thế hệ trẻ hai năng lực đó là: Năng
lực thẩm mĩ và năng lực ngôn ngữ.
Những công trình nghiên cứu đƣợc xem xét ở những góc độ khác nhau
về năng lực Ngữ văn, nhƣng đều có điểm chung đó là năng lực Ngữ văn bao
gồm hai năng lực chính là tạo lập và tiếp nhận văn bản.
Nói tóm lại, năng lực Ngữ văn có thể hiểu đơn giản nhƣ sau: Năng lực
Ngữ văn là năng lực HS có được và được hình thành khi học bộ môn Ngữ
văn. Năng lực đó giúp HS có thể tiếp nhận và cảm thụ văn học tốt (HS nghe
tốt, đọc tốt) và tạo lập văn bản tốt (HS nói tốt và viết tốt).
9
1.1.1.2. Cấu trúc năng lực Ngữ văn
hƣớng tới hình thành cho HS những năng lực chuyên biệt đó là năng lực đọc
hiểu và năng lực thƣởng thức văn học. Hai năng lực trên có đƣợc do đặc trƣng
của bộ môn Ngữ văn, do đó ngƣời GV cần hình thành và phát triển hai năng
lực trên khi dạy học Ngữ văn trong nhà trƣờng.
1.1.1.4. Biểu hiện
Định hƣớng xây dựng chƣơng trình giáo dục phổ thông sau năm 2015
xác định một số năng lực chung cốt lõi của học sinh Việt Nam cần có để thích
ứng với nhu cầu của xã hội. Mỗi môn học với thế mạnh và đặc trƣng riêng sẽ
tập trung hƣớng đến số một năng lực. Các năng lực mà môn Ngữ văn cần
hƣớng đến đƣợc thể hiện nhƣ sau:
Năng lực đọc hiểu: Đây là năng lực chuyên biệt cơ bản mà bộ môn
Ngữ văn cần hình thành cho học sinh cho HS. Năng lực này thể hiện ở việc:
- HS đọc hiểu từ ngữ trong văn bản.
- Đọc hiểu các hình ảnh, chi tiết nghệ thuật, biện pháp tu từ.
- Đọc hiểu nhân vật trong văn bản.
- Đọc hiểu tƣ tƣởng, tình cảm trong văn bản.
- Hiểu hàm ý, ý nghĩa, tình cảm của tác giả.
Năng lực cảm thụ thẩm mĩ: Đây đƣợc xem là năng lực mà chỉ riêng
môn Ngữ văn có ƣu thế hình thành và phát triển cho HS do đặc trƣng mang
tính nghệ thuật của môn học. Năng lực cảm thụ thẩm mĩ thể hiện ở khả năng
của mỗi cá nhân trong việc nhận ra đƣợc các giá trị thẩm mĩ của các sự vật,
hiện tƣợng, con ngƣời và cuộc sống thông qua những cảm nhận, rung động
trƣớc cái đẹp và cái thiện, từ đó hƣớng suy nghĩ của mình về cái đẹp, cái thiện
đó. Cụ thể biểu hiện nhƣ sau:
- Cảm nhận vẻ đẹp của ngôn ngữ văn học, biết rung động trƣớc những
hình ảnh, hiện tƣợng đƣợc khơi gợi trong tác phẩm.
11
- Nhận ra đƣợc những giá trị thẩm mĩ đƣợc thể hiện trong tác phẩm văn
đối thoại với ngƣời tạo ra văn bản (hƣởng thụ, giải trí, học tập). Ba, đọc là quá
trình tiêu dùng văn hóa văn bản (hƣởng thụ, giải trí, học tập). Bốn, đọc là quá
trình tạo ra các năng lực ngƣời (năng lực hiểu mình, hiểu văn hóa, hiểu thế
giới). Nhƣ thế đọc là một hoạt động văn hóa có tầm nhân loại và ý nghĩa giáo
dục sâu sắc” [11; 9].
- Tác giả Nguyễn Thanh Hùng cho rằng: “Kỹ năng đọc gồm có kỹ năng
đọc đúng, kỹ năng đọc hay, kỹ năng đọc diễn cảm”; “đọc hiểu tầng cấu trúc
ngôn từ, đọc hiểu giá trị ý nghĩa tầng cấu trúc hình tƣợng nghệ thuật đọc hiểu
giá trị ý nghĩa tầng cấu trúc tƣ tƣởng và ý vị nhân sinh của tác phẩm” [8; 5974].
Nói tóm lại, năng lực đọc hiểu khả năng biết đọc, là một quá trình tổng
hợp, đòi hỏi sử dụng nhiều kỹ năng để chủ động khám phá văn bản. Năng lực
đọc hiểu là vấn đề cơ bản của nội dung và PPDH tác phẩm văn chương trong
nhà trường phổ thông.
1.1.2.2. Biểu hiện của năng lực đọc hiểu
- Hiểu ý nghĩa của các từ ngữ trong văn bản (hiểu tầng ngôn từ của văn
bản): Văn học là nghệ thuật ngôn từ, ngôn từ là phƣơng tiện vật chất cấu
thành hệ thống hình tƣợng, truyền đạt thông tin thẩm mĩ. Ngôn từ chi phối
nhà văn trong toàn bộ quá trình sáng tác, gắn bó mật thiết với quá trình thai
nghén, phát triển, trƣởng thành của hình tƣợng nghệ thuật. Biểu hiện này yêu
cầu HS nắm đƣợc nghĩa đen, nghĩa bóng của các từ ngữ trong văn bản, bƣớc
đầu đọc hiểu để có tri thức về văn bản, xác định đƣợc đề tài của văn bản. Khi
đọc văn bản văn học, ta phải hiểu rõ nghĩa của từ và cách sử dụng chúng nhƣ
một phƣơng tiện nghệ thuật. Từ việc hiểu từ ngữ, HS sẽ phân tích, cắt nghĩa,
phân loại, phân tích, so sánh, kết nối, tổng hợp,… thông tin để tạo nên hiểu
biết chung về văn bản. Giải thích đƣợc nghĩa và tác dụng của các từ ngữ và
13
biện pháp nghệ thuật của văn bản. Cuối cùng đƣa ra thông tin và quan điểm
mà ngƣời viết gửi gắm.
a. Đọc thông – đọc thuộc: Đây là cấp độ đầu tiên khi cảm thụ văn học.
Hoạt động đọc ở giai đoạn này sẽ kết nối với tri giác cảm giác của ngƣời đọc
để các ký hiệu ngôn từ nghệ thuật đƣợc tái hiện lại trong đầu. Để phát triển
năng lực đọc hiểu văn bản thì đây là bƣớc bắt buộc đầu tiên cần có.
Yêu cầu của đọc thông dừng lại ở việc đọc lƣu loát, đúng âm, đúng
chính tả, đọc chính xác và rõ ràng ngữ âm của văn bản. Đọc thông là bƣớc tri
giác toàn bộ văn bản, chuẩn bị về mặt ý thức cũng nhƣ tâm thế cho bƣớc tiếp
theo làm việc với văn bản.
Sau khi đọc thông, HS nhớ đƣợc tên tác phẩm, tên tác giả, hoàn cảnh
sáng tác của văn bản…Để thực hiện bƣớc này giáo viên có thể tiến hành bằng
phƣơng pháp khác nhau nhƣ: Phỏng vấn, thảo luận nhóm, thuyết trình,...
Đọc thuộc là nhớ đƣợc văn bản, có thể tái hiện văn bản đó mà không
cần có văn bản in trƣớc mắt. Đối với văn xuôi đƣợc thể hiện ở việc học sinh
tóm tắt đƣợc nội dung tác phẩm.
b. Đọc hiểu – đọc sáng tạo: là bƣớc thứ hai của quá trình phát triển
năng lực đọc hiểu, đòi hỏi ngƣời đọc phải huy động kiến thức từ nhiều ngành,
lĩnh vực liên quan đến văn bản, lựa chọn phƣơng pháp thích hợp để tìm hiểu
về nội dung và ý nghĩa văn bản. Bƣớc này đƣợc xem là quá trình đồng sáng
tạo của ngƣời đọc, giúp ngƣời đọc hiểu và cảm nhận về văn bản. Qua bƣớc
này ngƣời đọc thấy đƣợc nội dung mà tác phẩm phản ánh, thấy giá trị biểu
hiện bề sâu, nhận thức đƣợc văn bản.
c. Đọc ứng dụng – đọc đánh giá: là bƣớc cuối cùng trong quá trình phát
triển năng lực đọc hiểu. Mỗi tác phẩm văn học là kho tàng về những bài học
nhân sinh và ý nghĩa tƣ tƣởng. Ở bƣớc này sẽ giúp HS đọc hiểu đúng hơn về
bản thân mình, về hành vi, hành động, suy nghĩ…; giáo dục cho các em về
15
tình cảm; thái độ với các vấn đề thực tế đang diễn ra trong cuộc sống. Từ đó
các em sẽ hoàn thiện bản thân mình hơn, có ƣớc mơ, có lý tƣởng sống…GV
dẫn các em lĩnh hội tri thức. Tuy nhiên đa phần HS vẫn thụ động, chƣa tiếp
thu kiến thức một cách sáng tạo, việc đọc chép vẫn tồn tại, không chủ động
lĩnh hội bài học.
- Về phƣơng pháp: Phƣơng pháp chủ yếu đƣợc GV sử dụng để làm nổi
bật nội dung và nghệ thuật đó là phƣơng pháp thuyết giảng, nêu câu hỏi phát
vấn hay bình giảng. Những phƣơng pháp dạy học tích cực vẫn chƣa đƣợc sử
dụng. Đặc biệt, hình thức thực hành có tổ chức trò chơi không đƣợc sử dụng
vì quan điểm của hầu hết GV cho rằng: Đây là giờ học đọc hiểu văn bản nên
phƣơng pháp chủ yếu là thuyết giảng và phân tích. Phần lớn GV không quan
tâm đến yếu tố ngoài văn bản. Việc khám phá văn bản theo lối khép kín trong
chỉnh thể nghệ thuật của văn bản khó tạo sự liên thông, HS cảm thấy lạc lõng,
lạ lẫm với tác phẩm.
- Về nội dung dạy học: Theo phân phối chƣơng trình SGK Ngữ văn lớp
11, tập 1, văn bản “Chí Phèo” đƣợc dạy trong hai tiết. Trong khi quỹ thời gian
đó, GV còn sử dụng để nhắc nhở những yếu tố ngoài giờ. Tất cả điều đó,
khiến các em không đủ thời gian để học văn bản với những bài tập luyện tập,
vận dụng, mở rộng. Vì vậy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của các em chƣa
đƣợc phát huy sau mỗi giờ học.
Tóm lại, xuất phát từ thực tế dạy học văn bản “Chí Phèo” của trƣờng
trung học phổ thông Tiên Du số 1 nói riêng và của những trƣờng trung học
phổ thông hiện nay nói chung, chúng tôi nhận thấy việc dạy Ngữ văn hiện nay
vẫn chƣa đảm bảo đƣợc việc phát huy năng lực đọc hiểu Ngữ văn cho học
sinh, đồng thời sau khi học xong văn bản học sinh vẫn chƣa có năng lực đọc
hiểu một văn bản tƣơng tự cùng thể loại. Chính điều đó, trong xu thế giáo dục
hiện đại, việc thay đổi cách dạy học trong những giờ học Ngữ văn là hết sức
17
cần thiết để giúp học sinh phát huy tối đa những năng lực của bản thân và làm
cho bộ môn Ngữ văn thực sự có ý nghĩa đối với đời sống thực tiễn của các