LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết
quả trong khoá luận là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì một công
trình nào.
Tác giả
Phan Thị Lành
i
Lêi c¶m ¬n
Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô Trường Đại học Quảng
Bình và các thầy cô trong khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non đã truyền đạt cho em
những kiến thức cơ bản trong suốt bốn năm học tại trường. Đó chính là hành trang
quý giá để em tự tin, vững vàng hơn trong cuộc sống cũng như trong sự nghiệp sau
này của mình.
Em xin đặc biệt gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo Th.S Trương Thị Thanh
Thoài, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên em để hoàn thành khóa
luận tốt nghiệp này.
Qua đây, em cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, các
em học sinh Trường Tiểu học Lộc Ninh - Đồng Hới - Quảng Bình. Cảm ơn các bạn
trong tập thể lớp ĐHGD Tiểu học B K56, những người thân yêu trong gia đình…đã
động viên, khích lệ và tạo điều kiện cho em rất nhiều trong thời gian học tập và thực
hiện khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn !
Quảng Bình, tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Phan Thị Lành
ii
1.1. Cơ sở lý luận....................................................................................................................... 7
1.1.1. Đặc trưng văn tả đồ vật và việc dạy học sinh viết văn tả đồ vật trong Nhà trường .... 7
1.1.2. Cơ chế hoạt động viết văn tả đồ vật và việc dạy tập làm văn cho học sinh lớp 4 .... 13
1.1.3. Những đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 4 có liên quan đến việc tạo lập văn bản và
việc dạy TLV cho học sinh trong Nhà trường ....................................................................... 17
1.2. Cơ sở thực tiễn ................................................................................................................. 22
1.2.1. Mục tiêu, chương trình dạy học văn tả đồ vật ở lớp 4 ................................................ 22
1.2.2. Thực trạng việc dạy học văn tả đồ vật cho học sinh lớp 4 ở trường Tiểu học trong
giai đoạn hiện nay ................................................................................................................... 24
1.2.3. Những định hướng về xây dựng biện pháp nâng cao kết quả................................... 30
1
Chương 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG VIẾT VĂN TẢ ĐỒ VẬT CHO
HỌC SINH LỚP 4 .................................................................................................................. 32
2.1. Rèn học sinh kỹ năng cảm nhận - nhận xét tổng quan về thế giới đồ vật .................... 32
2.2. Rèn học sinh kỹ năng quan sát - nhận xét về từng đồ vật cụ thể .................................. 34
2.3. Rèn học sinh kỹ năng lựa chọn đề tài miêu tả................................................................ 39
2.4. Rèn học sinh kỹ năng lập dàn ý bài văn miêu tả ............................................................ 41
2.5. Rèn học sinh kỹ năng tạo lập bài văn miêu tả ................................................................ 45
2.6. Rèn học sinh kĩ năng kiểm tra, khắc phục lỗi diễn đạt cho bài văn .............................. 50
2.7. Rèn học sinh kỹ năng cảm nhận - đánh giá hiệu quả giao tiếp của văn bản đã tạo lập52
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM.............................................................................. 56
3.1. Mục đích thực nghiệm ..................................................................................................... 56
3.2. Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm ................................................................. 56
3.3. Phương pháp tiến hành thực nghiệm .............................................................................. 57
3.4. Nội dung thực nghiệm ..................................................................................................... 57
3.5. Kết quả thực nghiệm ........................................................................................................ 58
3.5.1. Chỉ tiêu đánh giá ........................................................................................................... 58
kiểu bài khác nhau, thể hiện trí tuệ, tình cảm, tâm hồn, tính cách của mỗi em.
1.3. Từ việc tìm hiểu nội dung chương trình, chúng tôi nhận thấy phân môn Tập
làm văn là một môn học khó. Bởi lẽ, chính môn học đòi hỏi ở các em sự sáng tạo, cách
suy nghĩ độc lập cao, đặc biệt là loại văn miêu tả đồ vật. Để viết tốt một bài văn miêu
tả đồ vật, học sinh phải biết quan sát, biết sử dụng từ ngữ, hình ảnh so sánh, độc đáo
và biết thể hiện tình cảm của mình trong đó.
Thực tế việc này còn gặp nhiều vấn đề bất cập. Các em trở nên thụ động khi làm
bài, khả năng định hướng phải làm gì, viết gì dần bị hạn chế. Nếu không được hướng
dẫn cặn kẽ, chu đáo dẫn đến các em thiếu tự tin vào bản thân và kết quả cuối cùng
3
mang lại sẽ ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng bài làm. Mặt khác, một số giáo viên còn
vội trong việc truyền thụ kiến thức, xem nhẹ việc thực hành nên học sinh thiếu chủ
động, không hứng thú trong giờ học Tập làm văn. Giáo viên chưa thực sự nắm vững lí
thuyết về văn miêu tả đồ vật một cách toàn diện.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Một số biện
pháp rèn kỹ năng viết văn tả đồ vật cho học sinh lớp 4” làm đề tài nghiên cứu, mong
muốn cụ thể hóa một phần nội dung dạy học vào thực tế, góp phần thực hiện yêu cầu
đổi mới và nâng cao chất lượng hiệu quả dạy học phân môn Tập làm văn nói chung
và văn tả đồ vật trong chương trình Tập làm văn lớp 4 nói riêng.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay, nghiên cứu phương pháp dạy Tiếng Việt ở tiểu học nói chung và phân
môn Tập làm văn nói riêng gồm có các giáo trình và sách tham khảo. Tiểu biểu có:
1. Cuốn “Văn miêu tả và phương pháp dạy học văn miêu tả ở tiểu học”, tác giả
Nguyễn Trí.
2. Cuốn “Dạy Tập làm văn ở trường Tiểu học”, (2002), tác giả Hoàng Hòa Bình.
3. Cuốn “Phương pháp dạy học tiếng Việt ở Tiểu học”, tác giả Lê Phương Nga –
Đặng Kim Nga, Nhà xuất bản Giáo dục.
4. Cuốn “Văn miêu tả trong nhà trường Phổ thông”, (2003), tác giả Đỗ Ngọc
- Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp rèn kỹ năng viết văn tả đồ vật cho học sinh
lớp 4.
- Phạm vi nghiên cứu: Một số biện pháp rèn kỹ năng viết văn tả đồ vật cho học
sinh lớp 4, phát huy được tiềm lực dạy học thực tiễn, khắc phục được những nhược
điểm còn tồn tại.
6. Phương pháp nghiên cứu
Nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra trong khóa luận, chúng tôi đã kết hợp sử dụng
các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Đây là phương pháp được sử dụng nhiều trong quá trình xem xét, lý giải các vấn
đề có tính chất lý luận như tính chất văn tả đồ vật, đặc điểm tâm sinh lý học sinh lớp 4,
con đường hình thành kỹ năng viết tập làm văn của học sinh tiểu học, từ đó rút ra
những kết luận xác đáng làm tiền đề cho việc đưa ra các biện pháp rèn kỹ năng viết
văn tả đồ vật cho học sinh lớp 4 một cách phù hợp nhất.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Thực tiễn phương pháp dạy học liên quan đến đề tài này bao gồm:
+ Về mục tiêu, chương trình dạy học văn tả đồ vật ở lớp 4.
+ Về việc dạy học văn tả đồ vật cho học sinh lớp 4 ở trường tiểu học hiện nay.
5
+ Định hướng về việc dạy học sinh lớp 4 viết văn tả đồ vật.
Để nắm được tình hình thực tiễn, ngoài việc dự giờ, quan sát hoạt động dạy học
chúng tôi còn khảo sát kết quả viết văn tả đồ vật của học sinh, soạn phiếu điều tra
dành cho giáo viên và học sinh gồm các câu hỏi về những vấn đề mà chúng tôi quan
tâm nghiên cứu, rồi xử lý kết quả điều tra đó.
6.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp này được sử dụng trong khâu hoàn tất quá trình nghiên cứu nhằm
xem xét, xác nhận tính đúng đắn, hợp lý, tính khả thi của các biện pháp mà tác giả đề
xuất trong đề tài.
1.1.1 Đặc trưng văn tả đồ vật và việc dạy học sinh viết văn tả đồ vật trong
Nhà trường
1.1.1.1. Đặc trưng của văn tả đồ vật
a, Văn miêu tả
Trong từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa: “Miêu tả là dùng
ngôn ngữ hoặc một phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho người khác có thể hình
dung được cụ thể sự vật, sự việc hoặc thế giới nội tâm của con người”.
Theo SGK Tiếng việt 4 - Tập 1:“Miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi
bật của cảnh, của người, của vật để giúp người nghe, người đọc hình dung được các
đối tượng ấy”.
Vì vậy, miêu tả là thể loại văn dùng lời nói có hình ảnh có cảm xúc làm cho
người nghe, người đọc hình dung một cách rõ nét, cụ thể về người, vật, cảnh vật, sự
việc như nó vốn có trong đời sống. Một bài văn miêu tả hay không những phải thể
hiện rõ nét, chính xác, sinh động đối tượng miêu tả mà còn thể hiện được trí tưởng
tượng, cảm xúc và đánh giá của người viết với đối tượng được miêu tả. Bởi vì trong
thực tế, không ai tả chỉ để tả mà thường là “tả để ngụ tình”, để gửi gắm những suy
nghĩ, những tư tưởng tình cảm của người viết với đối tượng miêu tả và rộng hơn nữa
là đối với cuộc đời. Cho nên, dù miêu tả bất kỳ đối tượng nào từ cây bàng trước ngõ,
con đường hằng ngày ta qua đến những người bạn thân thiết cùng lớp, những người
ruột thịt trong gia đình…, chúng ta đều có thể nhận ra những tình cảm, những thái độ
nào đó của người viết, khi bộc lộ trực tiếp, khi kín đáo, thông qua cách thức miêu tả,
chi tiết miêu tả. Văn miêu tả không chấp nhận sự lạnh lùng.
b, Văn miêu tả đồ vật
Theo cách hiểu thông thường thì “Đồ vật” được hiểu là sự vật do con người
sáng tạo ra được sử dụng trong đời sống hằng ngày. Đồ vật không có sự sống như
cây cỏ, loài vật. Sự có mặt của thế giới đồ vật làm cho không gian sống của con
người trở nên sinh động, đáng yêu mang lại nguồn sống ấm áp và tiện dụng.
7
8
“Đồ vật” trong tác phẩm văn chương luôn được các nhà văn xây dựng có mục
đích, có chủ định chứ không như những đồ vật bình thường, chúng trở nên có “hồn”.
Cái hồn ở đây được thể hiện qua cách nhìn nhận, quan sát, cảm nhận của các nhà
văn, biến nó từ những đồ vật vô tri, vô giác thành những đồ vật có tiếng nói, có những
tâm tư, suy nghĩ như một con người qua cách xưng hô rất thân thiện và hết sức gần gũi
như: Anh, chị, chú, bác…
Mỗi bài văn là một sản phẩm không lặp lại, nó mang dấu ấn chủ quan của mỗi
người trước đối tượng miêu tả. Có nghĩa là cùng một đối tượng miêu tả nhưng sẽ có
một cách tả, cách diễn đạt suy nghĩ khác nhau thông qua lăng kính chủ quan của mình.
Từ đó mới tạo nên cái nét riêng trong phong cách viết văn của mỗi người. Khi miêu tả
đồ vật các nhà văn không nhằm vào giới thiệu những tri thức thuần túy về sự vật như:
Cấu tạo, công dụng, ích lợi của nó. Đó là công việc của người bán hàng, của nhà kĩ
thuật, thông qua việc tả những điểm đặc sắc của đồ vật để gợi lên mối quan hệ của nó
với đời sống tình cảm con người. Đồ vật được vẽ ra gắn liền với cảm xúc của người
miêu tả. Mỗi đồ vật có nhiều bộ phận, từ đơn giản đến phức tạp. Đơn giản như cái
bàn, quyển lịch cũng không phải chỉ có một, hai bộ phận. Đến các đồ vật phức tạp có
thể chuyển động được như cái xe lu, chiếc cần trục, chiếc ô tô... thì các bộ phận của nó
lại càng phong phú, miêu tả ở đây không nhằm tả cho đủ các bộ phận đó như có người
lầm tưởng. Nếu đồ vật trong khoa học là sự chính xác về đặc điểm, hình dáng bên
ngoài và khô khan đến lạnh lùng thì đồ vật trong văn học bao giờ cũng chứa đầy tình
cảm của người viết.
Trong các tác phẩm thì đồ vật không chỉ được tả bao quát về hình dáng, khối
lượng, màu sắc mà còn chú ý đến các hoạt động hoặc việc sử dụng nó. Tuy nhiên,
cũng chỉ chọn các ích lợi và công dụng cần thiết gắn với ý định miêu tả mà có sự xen
kẽ các nhận xét hay những tình cảm, ý kiến đánh giá bình luận của mình. Nhờ vậy, các
chi tiết miêu tả bao giờ cũng mang ấn tượng, cảm xúc chủ quan.
các em xây dựng khác xa so với hình ảnh đồ vật trong các tác phẩm văn chương, bởi
các em còn nhỏ chưa suy nghĩ nhiều và chưa thể có được những cái nhìn sâu sắc về
đối tượng miêu tả như các nhà văn.
Văn tả đồ vật ở Tiểu học gồm 3 phần:
1. Phần Mở bài
- Giới thiệu đồ vật (Đồ vật em định tả là gì? Tại sao em có nó? Có nó vào thời
gian nào?).
2. Phần Thân bài
- Tả bao quát: Hình dáng, kích thước, màu sắc…
- Tả chi tiết: Tả các bộ phận của đồ vật.
- Ích lợi, công dụng của đồ vật.
3. Phần Kết bài
- Nêu tình cảm của em đối với đồ vật.
11
Như vậy, mức độ văn tả đồ vật chỉ dừng lại ở việc khái quát về đặc điểm hình
dáng, màu sắc và tác dụng của nó. Đối tượng miêu tả của các em luôn gần gũi, gắn
liền với cuộc sống hằng ngày với các em, có ảnh hưởng trực tiếp tới các em, ngôn ngữ
miêu tả mà các em sử dụng đơn giản, dễ hiểu và không yêu cầu quá cao. Các em chỉ
cần đáp ứng những yêu cầu cơ bản và đặc trưng nhất của một bài văn tả đồ vật, đồng
thời thể hiện đượng những cái nhìn ban đầu của mình về đối tượng, thể hiện được
những tình cảm, bộc lộ cảm xúc của mình dành cho đối tượng vào bài văn làm cho bài
văn đậm chất “chân thực”. Làm được như vậy xem như các em đã đạt được yêu cầu
của một bài văn tả đồ vật.
Để hiểu rõ hơn chúng ta cùng đến với một bài văn tả “cái đồng hồ báo thức” của
một học sinh để thấy được những đặc trưng trên:
“Cả nhà em chỉ có một chiếc đồng hồ và đấy là chiếc đồng hồ để bàn. Từ mấy
măn nay nó vẫn đứng ở một góc bàn nước, phía trước chân thờ, ngay gian giữa của
ngôi nhà ba gian 2 trái bằng gỗ.
nắm rõ được đối tượng cần tả từ đó tình trạng lạc đề rất dễ xảy ra.
Là một giáo viên Tiểu học, để giúp các em làm tốt bài văn tả đồ vật thì trước hết
người giáo viên phải giúp các em xác định đúng đối tượng, đúng mục đích cần tả cũng
như dạy các em biết cách lập luận của một bài văn tả đồ vật đồng thời tạo cơ hội cho
các em phát triển vốn từ, sử dụng từ ngữ giàu hình ảnh và biện pháp tu từ sao cho phù
hợp để đưa lại hiệu quả cao cho bài làm. Muốn vậy, người giáo viên nên cho học sinh
có một cái nhìn toàn diện về việc nắm đặc điểm của văn tả đồ vật để không bị nhầm
lẫn một cách đáng tiếc.
1.1.2. Cơ chế hoạt động viết văn tả đồ vật và việc dạy tập làm văn cho học
sinh lớp 4
1.1.2.1. Cơ chế của hoạt động tạo lập văn bản
TLV được hiểu là tập sản sinh ngôn bản, dạy TLV là dạy các kiến thức và kỹ
năng giúp học sinh tạo lập, sản sinh ra ngôn bản. Nhiệm vụ cơ bản của phân môn TLV
là giúp học sinh tạo ra được các ngôn bản nói và viết theo các phong cách chức năng
ngôn ngữ, hình thành và phát triển năng lực tạo lập ngôn bản - một năng lực được tổng
hợp từ các kỹ năng bộ phận như: Xác định mục đích nói, lập ý, triển khai ý thành lời.
Để làm rõ hơn về vấn đề này, trước hết, cần khẳng định:
* Dạy TLV là dạy một hoạt động
Công việc đầu tiên của dạy học TLV cho học sinh nói chung và học sinh lớp 4
nói riêng là tạo ra động cơ, nhu cầu nói năng, kích thích học sinh tham gia vào hoạt
động giao tiếp (nói, viết). Vì cũng như các hoạt động tâm lý khác, hoạt động lời nói
chỉ chỉ nảy sinh khi có động cơ nói năng.
13
Các giai đoạn của hoạt động lời nói và kỹ năng làm văn
Theo A.N.Lê-ôn-chép: “Để giao tiếp được trọn vẹn về mặt nguyên tắc thì con
người phải nắm được hàng loạt các kỹ năng:
Một là: Phải định hướng nhanh chóng và đúng đắn trong các điều kiện giao tiếp.
Hai là: Phải biết lập đúng chương trình lời nói của mình, lựa chọn nội dung giao
Sự hiểu biết về hoạt động lời nói đòi hỏi chúng ta phải xây dựng được các đề bài
gắn với tình huống giao tiếp, tổ chức các giờ học TLV làm sao để cho học sinh có nhu
cầu giao tiếp.
Khi nghiên cứu hoạt động lời nói, người ta thấy rằng cái kích thích hành vi nói là
cái gì đó nằm ngoài ngôn ngữ. Chính vì vậy, xét đến tận cùng, dạy TLV không phải
bắt đầu từ hoạt động ngôn ngữ, từ sự tổ chức hoạt động ngôn ngữ mà phải bắt đầu từ
sự hoạt động khác của học sinh. Nói cách khác, những kích thích nói năng không thể
tách rời những kỹ năng sống khác.
Vì vậy, để dạy tốt TLV trước hết phải trau dồi vốn sống của học sinh, phải dạy
cho các em biết suy nghĩ, tạo cho các em cảm xúc, tình cảm rồi mới dạy cho các em
cách thể hiện những suy nghĩ, tình cảm đó bằng ngôn ngữ nói và viết.
Các dạng thức của lời nói
Lời nói được chia thành hai dạng đó là: Lời nói miệng (khẩu ngữ) và lời nói viết
(bút ngữ). Tương ứng với hai dạng thức cơ bản của lời nói, kỹ năng tập làm văn được
chia thành kỹ năng nói và kỹ năng viết.
+ Dạy kỹ năng nói trong phân môn TLV: Luyện nói là một nội dung quan trọng
của phân môn TLV. Các giờ TLV nói có nhiệm vụ luyện cho học sinh khả năng độc
thoại để trình bày ý tưởng về các vấn đề khác nhau trong các thể loại văn. Hoạt động
luyện nói được sử dụng trong các bài dạy giúp học sinh tìm ý, triển khai ý thành lời.
Bằng cách trả lời các câu hỏi, học sinh đề xuất những ý kiến chính, chọn lựa ngôn từ
để diễn đạt các ý. Loại bài tập luyện nói theo dàn bài cũng là một đặc trưng của phân
môn TLV.
+ Căn cứ vào hoạt động giao tiếp hai dạng nói được xác lập là đối thoại và độc
thoại. Trong dạy học TLV cho học sinh kỹ năng nói đối thoại cũng được chú trọng
trong quá trình tổ chức và lựa chọn hình thức học tập tích cực. Học sinh có thể trao
đổi, làm việc theo nhóm để hoạch định một nội dung mà giáo viên đề xuất hay tranh
luận về một tình huống dạy học được nêu ra trong đề bài.
+ Dạy kỹ năng làm văn trong phân môn TLV
Kỹ năng là một khái niệm phức tạp, xung quanh khái niệm này có nhiều định
nghĩa khác nhau. Tác giả Nguyễn Sinh Huy cho rằng: “Kỹ năng là khả năng của con
vào dạy học TLV.
+ Trong chương trình Tiếng Việt hiện hành, đoạn có thể xem là đơn vị trung tâm
của dạy học TLV. Về chức năng, có các kiểu dạng: Đoạn Mở bài, đoạn Thân bài, đoạn
Kết bài. Để tăng cường rèn luyện kỹ năng tạo lập, sản sinh ngôn bản cho học sinh, nội
dung dạy học TLV còn đề cập đến các dạng thức đoạn: Mở bài trực tiếp và mở bài
gián tiếp, kết bài mở rộng và kết bài không mở rộng.
16
Như vậy, để có thể dạy tốt các bài văn miêu tả ở Tiểu học nói chung và văn tả đồ
vật cho học sinh lớp 4 nói riêng, giáo viên cần vận dụng các tri thức về TLV, trong đó
cần phải nắm chắc các hiểu biết chi tiết về văn tả đồ vật về ngôn ngữ, về đề tài, tư
tưởng. Các tri thức này góp phần chỉ ra nội dung luyện tập của các kỹ năng làm văn.
Nói cách khác, có các hiểu biết về thể loại văn học, giáo viên mới hiểu rõ tính đặc thù
của từng kỹ năng trong từng kiểu văn. Để học sinh làm tốt bài văn tả đồ vật thì người
giáo viên phải hướng dẫn học sinh cách quan sát và ghi chép các nhận xét, biết vận
dụng các giác quan để quan sát, biết lựa chọn vị trí và thời gian quan sát, biết liên
tưởng, tưởng tượng khi nhận xét sự vật và diễn đạt điều quan sát được một cách gợi
cảm, gợi tả, tức là có hình ảnh và cảm xúc qua từng câu, từng đoạn và từng bài văn.
1.1.2.2. Kết luận sư phạm
Qua việc tìm hiểu về cơ chế hoạt động tạo lập văn bản và việc dạy học sinh lớp 4
viết văn tả đồ vật thông qua việc phân tích một số cơ sở khoa học chi phối một cách
trực tiếp đến dạy học TLV, chúng tôi nhận thấy muốn cho học sinh viết tốt một bài
văn miêu tả nói chung và bài văn tả đồ vật nói riêng thì trong quá trình dạy học, người
giáo viên phải luôn nhớ rằng: Dạy văn là dạy một hoạt động để nhằm tạo được động
cơ, nhu cầu nói năng, kích thích học sinh giao tiếp, phải nắm được một cách chính xác
các giai đoạn của hoạt động lời nói để hình thành và rèn luyện cho các em được các kỹ
năng liên quan nắm được các dạng thức của lời nói, các đặc trưng của văn bản đồng
thời nắm vững ngữ pháp văn bản và việc ứng dụng vào dạy học TLV để nhằm nâng
cao chất lượng dạy học TLV nói chung, văn tả đồ vật nói riêng.
được mục đích viết văn, phân tích, suy luận những chi tiết đặc trưng khi tri giác về đối
tượng miêu tả, và phải làm sao để các em lồng được cảm xúc của mình vào việc phân
tích đối tượng.
Về mặt chú ý: Ở lứa tuổi cuối của bậc Tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ
chức, điều chỉnh chú ý của mình. Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở
trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một
công thức toán hay một bài hát dài,...Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới
hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm
một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định.
Căn cứ vào đặc điểm chú ý của học sinh, người giáo viên khi dạy học sinh viết
văn cần phát huy một cách tích cực các đặc điểm này của các em, vì khi viết văn nhất
là văn tả đồ vật thì chú ý đóng vai trò quan trọng, có chú ý tốt trong quá trình quan
sát thì các em sẽ nhận ra được những đặc điểm cơ bản về đồ vật được tả, có chú ý
trong quá trình phân tích, lập dàn ý, quá trình lập luận thì bài viết sẽ đạt kết quả cao.
Cũng căn cứ vào đặc điểm này người giáo viên khi ra bài tập cho học sinh viết văn
cần giới hạn về mặt thời gian để các em chú ý và hoàn thành một cách tốt nhất các bài
tập đó, nếu để quá lâu các em sẽ rơi vào tình trạng viết một cách “lan man” và “lạc đề”.
18
Việc tiếp nhận và tạo lập ngôn bản trong một bài văn rất cần ở học sinh khả năng
tư duy và tưởng tượng.
Tư duy: Đặc điểm tư duy của các em chủ yếu còn là trực quan sinh động, tư duy
trừu tượng chưa phát triển, khả năng suy đoán của các em còn hạn chế. Chính vì thế
các em sẽ gặp khó khăn trong việc miêu tả đối tượng mà các em không được nhìn thấy
tận mắt. Do vậy, đối tượng miêu tả phải gần gũi, quen thuộc với học sinh tiểu học như
cái bút, cái cặp sách, cái bàn...
Tưởng tượng của học sinh các lớp đầu bậc Tiểu học còn đơn giản, chưa bền
vững, càng về cuối cấp hình ảnh của các em bền vững và gần với thực tế hơn, đặc biệt
lúc này các em đã có khả năng tưởng tượng dựa trên tri giác từ trước và ngôn ngữ,
học sinh viết văn tả đồ vật giáo viên phải làm sao để các em sử dụng vốn ngôn ngữ
của mình để tạo nên một bài văn hấp dẫn, lôi cuốn người đọc. Muốn vậy, giáo viên
cần phải trau dồi vốn ngôn ngữ cho trẻ bằng cách rèn luyện vốn ngôn ngữ không chỉ
trong giờ dạy TLV mà còn trong các phân môn khác của bộ môn Tiếng Việt như là
phân môn Luyện từ và câu, phân môn Chính tả, Kể chuyện, hướng hứng thú của trẻ
vào các loại sách báo có lời và không lời, có thể là sách văn học, truyện tranh, truyện
cổ tích, báo nhi đồng,...
Ngoài ra giáo viên có thể trau dồi vốn ngốn ngữ và tạo cơ hội cho các em thể
hiện năng lực hành văn của mình qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp, tổ chức các
cuộc thi kể truyện, đọc thơ, viết truyện,.... Tất cả đều có thể giúp trẻ có được một vốn
ngôn ngữ phong phú và đa dạng.
1.1.3.3. Đặc điểm tình cảm, xúc cảm
Trước hết tình cảm của các em mang tính cụ thể, trực tiếp. Đối tượng gây cảm
xúc cho trẻ thường là những sự vật, hiện tượng, việc làm, con người cụ thể, sinh động
mà đã được nhìn thấy hay tiếp xúc. K.Đ.Usinxki đã từng thừa nhận trẻ suy nghĩ bằng:
“Hình thù, màu sắc, âm thanh và cảm xúc”. Tính dễ cảm xúc của học sinh tiểu học
còn thể hiện ở tính dễ xúc động. Các em có thể vui sướng reo lên khi được điểm tốt,
buồn bã khi được điểm kém hay bị chê trách, dễ khóc trước những tình tiết, hoàn cảnh
thương tâm...Trẻ thường bộc lộ tình cảm của mình một cách hồn nhiên, chân thật,
chưa biết ngụy trang. Tình cảm của học sinh tiểu học còn mong manh chưa bền vững
và chưa sâu sắc. Điều này thể hiện rất rõ sự dễ dàng chuyển hóa cảm xúc như có thể
khóc đấy nhưng rồi cười ngay.
20
Tình cảm của các em không chỉ biểu hiện trong đời sống thường ngày đối với
mọi người xung quanh mà còn trong cả hoạt động trí tuệ, các em tiếp thu kiến thức
không đơn thuần bằng lý trí, mà còn dựa nhiều vào cảm tính và đượm màu sắc tình
cảm, các em dễ bị “lây” những cảm xúc của người khác. Nó chứa đựng nội dung
21
Ngoài các đặc điểm chính nêu trên thì tâm sinh lý học sinh lớp 4 còn có những
đặc điểm khác dù không mang tính nổi trội nhưng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến
việc học tập văn tả đồ vật của học sinh như đặc điểm trí nhớ, đặc điểm về ý chí. Có trí
nhớ tốt các em sẽ nhớ lâu được các đặc điểm về đối tượng trong quá trình quan sát và
tri giác, nắm được điều này, người giáo viên khi dạy học sinh viết văn tả đồ vật phải
giúp các em biết cách khái quát hóa và đơn giản đối tượng miêu tả, giúp các em xác
định đâu là đặc điểm quan trọng, nét tiêu biểu của đối tượng miêu tả mà mình cần ghi
nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ, đặc biệt phải hình thành ở các
em tâm lý hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức.
1.1.3.5. Kết luận sư phạm
Qua đó, cho ta thấy rằng muốn giúp học sinh học tốt các môn học thì điều đầu
tiên người giáo viên phải làm đó là: Nắm vững đặc điểm tâm lý, thường xuyên bồi
dưỡng tâm hồn cho học sinh trong suốt quá trình học bởi lẽ chính yếu tố tâm lý có ảnh
hưởng rất lớn đến kết quả học tập của các em, ảnh hưởng tới chất lượng giảng dạy
của người giáo viên.
Đối với việc dạy học phân môn TLV nói chung và văn tả đồ vật nói riêng thì
người giáo viên không ngừng tạo điều kiện cho các em phát huy hết đặc điểm về nhận
nhức cũng như đặc điểm ngôn ngữ, tình cảm của bản thân để các em biết nhìn nhận
đúng đối tượng được miêu tả thông qua việc quan sát, tri giác, tưởng tượng, tư
duy...Từ đó các em có thể đạt được mục đích của đề tài đưa ra.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Mục tiêu, chương trình dạy học văn tả đồ vật ở lớp 4
1.2.1.1. Mục tiêu
a, Kiến thức
Giúp học sinh:
- Học sinh nắm được cấu tạo ba phần của một bài văn tả đồ vật.
- Biết cách quan sát, tìm ý, lập dàn ý cho một đề văn tả đồ vật