ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐINH XUÂN LƯỢNG
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA
CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG
RỪNG HUYỆN ĐỒNG VĂN - TỈNH HÀ GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
THÁI NGUYÊN - 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐINH XUÂN LƯỢNG
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA
CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG
RỪNG HUYỆN ĐỒNG VĂN - TỈNH HÀ GIANG
Ngành: Phát triển Nông thôn
Mã số ngành: 8.62.01.16
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn khoa học: TS. BÙI ĐÌNH HÒA
THÁI NGUYÊN - 2018
Xin cám ơn và ghi nhận công sức và những đóng góp to lớn và nhiệt
tình của Giáo viên chủ nhiệm lớp, Ban cán sự lớp Cao học K 24b chuyên
ngành Phát triển nông thôn.
Trong quá trình thực hiện luận văn còn có những hạn chế nhất định nên
luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng
góp ý kiến của các thầy cô giáo, các nhà khoa học, cùng bạn bè đồng nghiệp
để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin trân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 05 tháng 7 năm 2018
TÁC GIẢ
Đinh Xuân Lượng
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................. I
LỜI CÁM ƠN .................................................................................................. II
MỤC LỤC ....................................................................................................... III
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT .................................. V
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ................................................................... VI
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ........................................................................VII
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Mục tiêu của đề tài ........................................................................................ 4
3. Ý nghĩa của đề tài .......................................................................................... 4
Chương 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU .................................................... 5
1.1. Tổng quan kết quả nghiên cứu trên thế giới .............................................. 5
1.2. Tổng quan kết quả nghiên cứu ở Việt Nam ............................................. 10
1.2.1. Kinh nghiệm thực hiện .......................................................................... 10
3.2.3. Tác động của chính sách chi trả DVMTR đến môi trường................... 53
3.2.4. Thuận lợi, khó khăn, hạn chế trong quá trình triển khai chính sách chi
trả DVMTR tại huyện Đồng Văn .................................................................... 58
3.3. Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả của chính sách chi trả
DVMTR huyện Đồng Văn trong thời gian tới ................................................ 60
3.3.1. Giải pháp về cơ chế chính sách ............................................................. 60
3.3.2. Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực .................................................... 61
3.3.3. Giải pháp về vốn ................................................................................... 61
3.3.4. Giải pháp kỹ thuật ................................................................................. 63
3.3.5. Giải pháp về tổ chức thực hiện ............................................................. 66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 72
v
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BNNPTNT
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
BVR
Bảo vệ rừng
DV-CC-MT
Dịch vụ - Công cộng - Môi trường
DVMTR
yếu, cơ hội và thách thức
TT
Thông tư
TTLT
Thông tư liên tịch
UBND
Ủy ban nhân dân
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1:
Kết quả tham gia kết hợp đồng, phụ lục hợp đồng với
các đơn vị sử dụng DVMTR ................................................... 30
Bảng 3.2:
Kế hoạch ủy thác tiền DVMTR của các đơn vị sử dụng......... 32
Bảng 3.3:
Kết quả thanh toán tiền DVMTR cho chủ rừng, hộ
nhận khoán .............................................................................. 36
Bảng 3.10:
Số hộ, người dân, tổ đội tham gia bảo vệ rừng ....................... 49
Bảng 3.11:
Kết quả đánh giá nhận thức và mức độ hài lòng của đối
tượng tham gia chính sách chi trả DVMTR được phỏng vấn ....... 50
Bảng 3.12:
Diện tích đất sản xuất lúa nước và sản lượng lúa hàng năm........ 54
Bảng 3.13:
Số vụ sói mòn, sạt lở đất đá, đường giao thông, tà luy
sau nhà, công trình thủy lợi, sạt lở vùi lấp đất sản xuất, lũ
ống lũ quét ............................................................................... 56
vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1:
Kết quả tham gia ký kết hợp đồng, phụ lục hợp đồng với
các đơn vị sử dụng DVMTR ................................................... 30
Biểu đồ 3.2:
Kế hoạch thu tiền DVMTR của các đơn vị sử dụng
Biểu đồ 3.9:
Tình hình thu nhập của người dân tham gia bảo vệ rừng ....... 48
Biểu đồ 3.10: Mức độ nhận thức của đối tượng tham gia chính sách chi
trả DVMTR được phỏng vấn .................................................. 51
Biểu đồ 3.11: Mức độ hài lòng của đối tượng tham gia chính sách chi trả
DVMTR được phỏng vấn ....................................................... 51
Biểu đồ 3.12: Diện tích đất sản xuất lúa nước hàng năm .............................. 55
Biểu đồ 3.13: Tổng sản lượng lúa nước hàng năm........................................ 55
Biểu đồ 3.14: Số vụ xói mòn, sạt lở đất đá, đường giao thông, tà luy sau
nhà, công trình thủy lợi, sạt lở vùi lấp đất sản xuất, lũ ống
lũ quét...................................................................................... 57
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong tổ
chức và hành động bảo vệ và phát triển rừng; Ban hành hệ thống pháp luật,
nhiều chủ chương, chính sách và hàng năm đầu tư nguồn kinh phí lớn nhằm
bảo vệ, duy trì và phát triển nguồn tài nguyên rừng. Tuy nhiên, bên cạnh
những kết quả đạt được thì tình trạng suy thoái tài nguyên rừng, tài nguyên đa
dạng sinh học trên thực tế đã và đang diễn ra chưa được ngăn chặn kịp thời,
có nguy cơ suy thoái nhiều hơn trong giai đoạn 2010 - 2015. Hà Giang là một
tỉnh miền núi giao thông đi lại rất khó khăn, quỹ đất dùng cho gieo trồng sản
xuất nông nghiệp rất hạn chế. Nhằm đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế, công
nghiệp và đô thị hóa đặc biệt là công nghiệp khai khoáng dẫn đến sự suy giảm
về tài nguyên rừng, trong đó nghiêm trọng nhất là sự thu hẹp diện tích rừng đã
hoạch cho Lâm nghiệp là 588.068,43 ha chiếm 74,3% tổng diện tích đất tự
nhiên của toàn tỉnh, trong đó diện tích rừng có cung ứng DVMTR (DVMTR)
trên địa bàn tỉnh là 275.407,61 ha/453.491,30 ha (theo kết quả kiểm kê và diễn
biến tài nguyên rừng năm 2017) chiếm 60,7% diện tích rừng toàn tỉnh với 06
chủ rừng là tổ chức, hơn 1.500 chủ rừng là cộng đồng dân cư thôn đại diện
cho 579.500 người dân (chiếm 71,8% dân số của toàn tỉnh) có diện tích rừng
cung ứng DVMTR, vì vậy chính sách chi trả DVMTR có vị trí quan trọng
trong việc ổn định đời sống và phát triển kinh tế, tăng thu nhập cho người làm
nghề rừng ổn định an ninh xã hội đặc biệt khu vực vùng sâu, xa vùng biên
giới tỉnh Hà Giang điển hình như tại huyện Đồng Văn.
Sau 6 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh Hà
Giang đã đạt được những kết quả đáng kể: Đã phát huy được vai trò lãnh, chỉ
đạo, quản lý điều hành của Hội đồng quản lý Quỹ; Sự tham gia vào cuộc phối
hợp tích cực của các Sở, ban ngành, chính quyền địa phương; Bí thư chi bộ,
trưởng các thôn bản; Một số đơn vị sử dụng DVMTR đã thực hiện việc ủy
3
thác tiền DVMTR đúng đủ và quan tâm, phối hợp với các ngành chức năng,
chính quyền địa phương kiểm tra, giám sát việc quản lý bảo vệ rừng và chi trả
tiền DVMTR. Nhờ vậy chính sách chi trả DVMTR đã và đang, nhận được sự
đồng thuận, ủng hộ của toàn xã hội trong công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Từng bước nâng cao nhận thức, thu nhập, chất lượng cuộc sống cho người
dân. Công tác quản lý, sử dụng tiền DVMTR từ tỉnh đến cơ sở được thực hiện
theođúng quyđịnh; Công tác giải ngân cho chủ rừng, hộ nhận khoán bảo vệ
rừng đã cơ bản đảm bảo kịp thời, công bằng, công khai, minh bạch. Tuy nhiên
bên cạnh những thuận lợi, kết quả đạt được trong trong quá trình triển khai
thực hiện chính sách tại địa phương cũng bộc lộ một số khó khăn ảnh hưởng
không nhỏ đến công tác thực thi chính sách, cụ thể như: Chậm trả, nợ đọng
tiền DVMTR của một số đơn vị còn cao (Công ty CP năng lượng Bitexco,
- Đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu về đánh giá tác động của chính sách
chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh Hà Giang.
- Đề tài giải quyết những vấn đề chưa được làm rõ trong quá trình triển
khai chính sách chi trả DVMTR huyện Đồng Văn. Đồng thời xây dựng được cơ
sở lý luận khoa học và cơ sở thực tiễn trong quá trình triển khai thực hiện chính
sách chi trả DVMTR huyện Đồng Văn, từ đó có thế áp dụng để đánh giá tác
động của chính sách chi trả DVMTR trên toàn tỉnh Hà Giang và có thể vận dụng
đánh giá ở các địa phương khác có điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tương tự.
5
Chương 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan kết quả nghiên cứu trên thế giới
"Dịch vụ môi trường rừng" là một khái niệm mới, tư duy, trừu tượng
được đưa vào thực tiễn bảo tồn gần một thập kỷ trở lại đây, tuy nhiên, nó đã
nhanh chóng trở nên phổ biến ở một số nước. Sự phát triển của DVMTR ngày
càng được lan rộng và ở một số nước, thì DVMTR còn được thể chế hoá
trong các văn bản pháp luật. Hiện nay, DVMTR đã nổi lên như một giải pháp
chính sách để khuyến khích, chia sẻ các lợi ích trong cộng đồng và xã hội
trong công tác bảo vệ và phát triển rừng.
“Chi trả dịch vụ môi trường rừng” (PFES) là quan hệ tài chính tương đối
mới trên thế giới, bắt nguồn từ quan điểm chính sách về “dịch vụ môi trường”.
Theo quan điểm này, các hệ sinh thái, trong đó có hệ sinh thái rừng, có vai trò
cung cấp các dịch vụ có tác dụng không chỉ đảm bảo sự trong lành về môi trường
mà còn đảm bảo sản xuất và sức khỏe của con người, thông qua các tác động tích
cực và đa dạng như bảo vệ nguồn nước, phòng hộ đầu nguồn, điều hòa khí hậu,
phòng chống dịch bệnh, tạo điều kiện phát triển du lịch, văn hóa và cải tạo đất…
Ngày nay, trong khi nhu cầu về các dịch vụ này tăng, thì khả năng để cung cấp các
dịch vụ đó của các hệ sinh thái ngày càng đứng trước nguy cơ bị suy giảm vì môi
Chương trình PFES ở Costa Rica (Pagiola, 2008), chương trình PFES ở
Mexico (Muñoz-Piña et al., 2008-this issue), chương trình dịch vụ bảo tồn ở
Mỹ (Claassen et al., 2008), chương trình vùng nhạy cảm môi trường và sơ đồ
quản lý quốc gia ở Anh (Dobbs and Pretty, 2008), dự án mô hình Northeim ở
Đức (Bertke and Marggraf, 2004), chương trình Wimmera ở Úc (Shelton and
Whitten, 2005), chương trình tương tự chi trả dịch vụ môi trường ở
CAMPFIRE, Zimbabwe (Frost and Bond, 2008), chương trình hoạt động vì
nước ở Nam Phi (Turpie et al., 2008). Cụ thể như:
- Úc: Đã luật hóa quyền phát thải carbon từ năm 1998, cho phép các
nhà đầu tư đăng ký quyền sở hữu hấp thụ carbon của rừng. Đang thực hiện
chiến lược bồi hoàn đa dạng sinh học và chương trình bảo tồn nhằm giảm
7
thiểu tác động của hoạt động mở rộng khai thác mỏ. Các ông ty khai thác mỏ
phải thực hiện bồi hoàn lại môi trường do hoạt động khai thác mỏ gây ra bằng
cách thiết lập những khu rừng mới.
- Chi-lê: Người dân Chi-lê đã đầu tư vào Khu Bảo tồn Tư nhân phục vụ
mục đích chính là bảo tồn và điểm nghỉ dưỡng có giá trị đa dạng sinh học cao.
Chi trả được thực hiện theo hình thức tự nguyện với mong muốn bổ sung
thêm cho nguồn ngân sách bảo tồn sinh cảnh xung yếu của chính phủ.
- Costa Rica: Luật Lâm nghiệp (được thông qua năm 1996) đã xây
dựng chương trình chi trả dịch vụ hệ sinh thái tại Costa Rica trong một nỗ lực
nhằm bảo vệ các khu rừng nhiệt đới của quốc gia. Bộ Môi trường được thành
lập để thực hiện chương trình quốc gia này và đã công nhận 4 loại dịch vụ hệ
sinh thái chính mà các khu rừng nhiệt đới của đất nước cung cấp: Giảm phát
thải khí nhà kính; Phòng hộ đầu nguồn; Bảo tồn đa dạng sinh học; Bảo tồn vẻ
đẹp cảnh quan. Cả 4 dịch vụ này tạo ra một gói dịch vụ kết hợp phản ánh giá
trị sinh thái tổng hợp của một diện tích rừng, và Bộ Môi trường nhận được 10
USD/1ha/năm từ bên mua (gồm các công ty thủy điện, công ty sản xuất bia).
Dương để áp dụng hình thức quản lý rừng trong vùng Đông Bắc, Chính phủ
Mỹ đưa ra các sáng kiến của mình nhằm góp phần đáng kể đối với việc tích
lũy những bài học mới về ứng dụng các công cụ chi trả hệ sinh thái cho quản
lý các dịch vụ hệ sinh thái có liên quan tới nguồn nước [5].
- Brazil: Chính phủ Brazil đã tài trợ cho chương trình Bolsa Floresta để
hỗ trợ cho hộ gia đình tham gia bảo vệ rừng với đơn giá 360 USD/hộ/năm [5].
- Châu Phi: Tổng số chương trình chi trả dịch vụ hệ sinh thái ở Châu
Phi là 20 với khoảng 10 chương trình đang hoạt động vào năm 2008 đem lại
tổng giá trị chi trả là 62,7 triệu USD với gần 200 ngàn ha đất. Hầu hết các
trường hợp thực hiện ở theo các chương trình bảo tồn hệ sinh thái quốc gia,
trong đó bao gồm đầu tư cho tăng cường và phục hồi các dịch vụ vùng đầu
nguồn, và cải thiện năng lực cho cộng đồng địa phương nhằm xác định, hình
thành và thực hiện các hoạt động quản lý gắn với hệ sinh thái [5], [11].
9
- Châu Á: Chi trả DVMTR cũng đã được phát triển và thực hiện thí
điểm tại nhiều nước như Indonesia, Philippines, Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal…
đặc biệt là Trung Quốc đã xây dựng các chương trình chi trả DVMTR với quy
mô lớn, chi trả trực tiếp cho các chủ rừng để thực hiện các biện pháp sử dụng
rừng nhằm tăng cường cung cấp các dịch vụ thuỷ văn, bảo tồn đa dạng sinh
học, chống xói mòn, hấp thụ các bon và vẻ đẹp cảnh quan [9]; Số lượng và
chủng loại các chương trình chi trả dịch vụ hệ sinh thái ở Trung Quốc đang
tăng nhanh trong những năm gần đây, từ 8 chương trình năm 1999 đến hơn 47
chương trình ở năm 2008 với tổng giá trị giao dịch khoảng 7,8 tỷ USD đã tác
động đến hơn 290 triệu ha đất. Các chương trình chi trả ở Trung Quốc nhằm
nhằm thúc đẩy sự phát triển và đổi mới trong “các cơ chế đền bù sinh thái”.
Một động lực tiềm năng khác cho dịch vụ sinh thái ở cả cấp tỉnh và quốc gia
là từ hệ thống mới về mua bán quyền sả thải vào nước và hệ thống này có sẽ
thực hiện sớm ở nhiều nơi trên toàn quốc [5], [11].
lao động lâm nghiệp (gọi là các chủ rừng), trực tiếp đầu tư vốn, lao động để
trồng rừng, bảo vệ rừng tức là sản xuất ra của cải vật chất gọi là các giá trị sử
dụng của rừng. Các giá trị sử dụng này được cung ứng cho mọi người trong xã
hội thụ hưởng, vì vậy các chủ rừng phải được chi trả, hoàn lại phần vốn, lao
động mà họ đã đầu tư cho rừng. Giá trị sử dụng của rừng là loại hàng hoá đặc
biệt. Giá trị hàng hóa này cần phải được hình thành thị trường để trao đổi giữa
người sản xuất cung ứng các giá trị sử dụng của rừng với người hưởng thụ các
giá trị sử dụng này. Các hoạt động trao đổi cung ứng dịch vụ các giá trị sử dụng
từ môi trường rừng như trên được gọi là chi trả DVMTR [12].
Mục tiêu của chính sách nhằm huy động nguồn vốn ngoài ngân sách
Nhà nước hỗ trợ cho công tác bảo vệ và phát triển rừng giúp một phần nào đó
giảm nguồn ngân sách của Nhà nước đầu tư cho công tác bảo vệ và phát triển
rừng. Từ đó hình thành tổ chức Quỹ bảo vệ và phát triển rừng trên cả nước
phát triển bền vững.
11
Cơ chế và cách thực vận hành chi trả DVMTR: Là đưa chính sách chi
trả DVMTR vào thực tế cuộc sống nhằm xã hội hoá nghề rừng, nâng cao ý
thức trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi tổ chức, cá nhân đối với sự nghiệp bảo vệ
và phát triển rừng. Huy động các nguồn lực của xã hội để bảo vệ và phát triển
rừng, tạo điều kiện để ngành lâm nghiệp hoạt động đúng quy luật của nền
kinh tế sản xuất hàng hoá. Thực hiện tiến tới giảm nguồn ngân sách Nhà nước
đầu tư cho các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng. Bảo đảm cho người lao
động trực tiếp tham gia hoạt động sản xuất, bảo vệ phát triển rừng (người
cung ứng DVMTR) được chi trả giá trị của rừng do mình tạo ra, đúng giá trị
của rừng đem lại cho xã hội loài người được hưởng.
Vai trò của Nhà nước trong quản lý thực hiện chính sách chi trả
DVMTR là người định hướng, hỗ trợ về cơ sở văn bản pháp lý nhằm tăng
cường hiệu quả việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR. Đồng thời nâng
Hiện nay, Quỹ Bảo tồn hoang dã Thế giới (WWF) đang thực hiện một
số dự án về các mô hình chi trả DVMTR như bảo vệ đầu nguồn, bảo tồn đa
dạng sinh học, và du lịch sinh thái; tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
(IUCN) còn thực hiện Dự án chi trả dịch vụ môi trường - ứng dụng tại khu
vực ven biển. Những dự án này được tổ chức thực hiện trong các chương
trình do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Tổ chức
Winrock International. Ngoài ra, Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
(IUCN) còn thực hiện dự án chi trả dịch vụ môi trường - ứng dụng tại khu vực
ven biển. Dự án xây dựng cơ chế chi trả cho hấp thụ Các-bon trong lâm
nghiệp, thí điểm tại huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình do Trung tâm nghiên
cứu sinh thái và môi trường rừng thực hiện [7].
Viện chiến lược, chính sách tài nguyên và môi trường thuộc Bộ Tài
nguyên và Môi trường đang đề xuất nghiên cứu đề tài khoa học công nghệ
“Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất cơ chế chi trả dịch vụ môi
trường đất ngập nước ở Việt Nam”, với mục tiêu đề xuất cơ chế DVMTR phù
hợp với điều kiện Việt Nam, nhằm bảo tồn, phát triển bền vững các vùng đất
ngập nước. Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng hỗ trợ một số hoạt động đánh
giá và tìm cơ hội thị trường cho DVMTR ở tỉnh Quảng Nam và Quảng Trị.
13
Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng - Viện khoa học
lâm nghiệp Việt Nam thực hiện đề tài "nghiên cứu lượng giá kinh tế môi
trường rừng và dịch vụ môi trường của một số loại rừng chủ yếu ở Việt
Nam". Bằng phương pháp xây dựng mô hình SWAT (Soil & Water
Assesement Tool), tạo ra những kịch bản để tính toán thiệt hại, đã lượng được
giá trị của rừng về hạn chế xói mòn đất và điều tiết nước của một số loại rừng
ở lưu vực Sông Cầu và vùng đầu nguồn hồ Thác Bà (thuộc địa giới hành
chính các tỉnh: Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Hà
Giang và Hà Nội) [15].
điện Hoà Bình, nhà máy thuỷ điện Suối Sập, công ty Cấp nước Phù Yên và
công ty Cấp nước Mộc Châu, bên cung cấp dịch vụ là các chủ rừng trên địa
bàn 2 huyện thí điểm Mộc Châu và Phù Yên. Mức chi trả của từng công ty
được xác định dựa trên tổng lượng điện/tổng lượng nước kinh doanh hàng
năm trong đó đối với 1Kwh là 20 đồng, 1m3 nước là 30 đồng và bình quân/ha
là 100.432 đồng. Chủ rừng đã nhận được mức chi trả tiền DVMTR như sau:
rừng phòng hộ là rừng tự nhiên 140.243 đồng/ha/năm; rừng phòng hộ là rừng
trồng: 126.219 đồng/ha/năm; rừng sản xuất là rừng tự nhiên: 84.146
đồng/ha/năm và rừng sản xuất là rừng trồng: 70.121 đồng/ha/năm [2].
Tại Lâm Đồng, chương trình thí điểm đã nhận được sự đồng thuận cao
của các bên liên quan và hiện nay các nhà máy thuỷ điện Đa Nhim và Đại
Ninh đã chi trả khoảng 55 tỷ đồng cho hơn 8.000 hộ dân bảo vệ rừng.
Người dân tham gia nhận khoán bảo vệ rừng tại lưu vực hồ thuỷ điện
Đa Nhim đã nhận được mức chi trả tiền DVMTR là 290.000 đồng/ha/năm;
lưu vực hồ thuỷ điện Đại Ninh là 270.000 đồng/ha/năm. Tại lưu vực hai nhà
máy thuỷ điện, bình quân mỗi hộ gia dình nhận khoán từ 15-20 ha, mỗi năm
nhận được khoảng từ 4- 5 triệu đồng [2].
Tuy nhiên, thực hiện chi trả DVMTR tại 2 tỉnh Sơn La và Lâm Đồng
còn có những hạn chế nhất định, đó là một số diện tích rừng chưa có chủ quản
lý cụ thể, do đó tiền DVMTR chưa được chi trả trực tiếp cho chủ rừng; cơ sở
để tính toán hệ số K điều chỉnh mức chi trả DVMTR ở các tỉnh rất khác nhau
15
(tỉnh Sơn La: hệ số K chưa được dựa trên yếu tố về mức độ khó khăn, thuận
lợi bảo vệ rừng; tỉnh Lâm Đồng: hệ số K chưa được dựa trên yếu tố về trạng
thái lô rừng được chi trả) [10].
Căn cứ kết quả thí điểm chi trả DVMTR tại 2 tỉnh Sơn La, Lâm Đồng
và kết quả thực hiện tại một số quốc gia, xét đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn, ngày 24/9/2010 Chính phủ đã ban hành Nghị định số
- Tổng số tiền DVMTR thu được từ 3 loại DVMTR (Dịch vụ bảo vệ
đất, hạn chế xói mòn, bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối; Dịch vụ bảo vệ
cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng
phục vụ cho dịch vụ du lịch) cung ứng cho 3 đối tượng phải chi trả tiền
DVMTR (Các cơ sở sản xuất thủy điện; Các cơ sở sản xuất, cung ứng nước
sạch; Các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch): 5.226,025 tỷ đồng.
- Tổng số tiền đã chi trả, thanh toán cho chủ rừng, hộ nhận khoán bảo
vệ rừng có cung ứng DVMTR: 4.419,911 tỷ đồng
- Tổng diện tích rừng có cung ứng DVMTR cả nước là 5,23 triệu ha
rừng (chiếm 38,4% tổng diện tích rừng cả nước), với tổng số 208 Ban quản lý
rừng đặc dụng và phòng phộ; 81 Công ty lâm nghiệp; 467 UBND xã; 195 chủ
rừng khác (đơn vị công an, bộ đội, doanh nghiệp, trung tâm nghiên cứu);
506.298 hộ dân được hưởng tiền DVMTR. Thu nhập bình quân chung của cả
nước khoảng 2,0 triệu đồng/hộ/năm, đã góp phần nâng cao thu nhập giúp
giảm khó khăn trong cuộc sống cho đồng bào. Tiền DVMTR chưa lớn nhưng
cũng là nguồn thu quan trọng cho các hộ gia đình nghèo ở vùng sâu, vùng xa.
- Tiếp tục triển khai thí điểm thu tiền DVMTR đối với các đối tượng
khác: Thu tiền DVMTR đối với cơ sở nuôi cá nước lạnh có sử dụng nước từ
rừng thực hiện thí điểm tại tỉnh Lào Cai, nuôi trồng thủy sản tại tỉnh Cà Mau;
Thu tiền DVMTR đối với các cơ sở công nghiệp có sử dụng nước mặt thực
hiện thí điểm tại tỉnh Lào Cai, Thanh Hóa, Nghệ An.