NIÊN LUẬN Thực tiễn đình chỉ điều tra vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Huế và kiến nghị - Pdf 50

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT

NIÊN LUẬN
ĐỀ TÀI:
THỰC TIỄN ĐÌNH CHỈ ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ VÀ KIẾN NGHỊ

Giáo viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

Th.S Nguyễn Ngọc Kiện

Võ Trọng Hiếu
Lớp: K37E – Luật Học
MSV: 13A5011113

Huế, tháng 03 năm 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan niên luận: “Thực tiễn đình chỉ điều tra vụ án hình
sự trên địa bàn thành phố Huế và kiến nghị” là công trình nghiên cứu khoa
học của riêng tôi, không sao chép bất kì tài liệu nào và chưa công bố nội dung
này ở bất kì đâu. Các số liệu, kết quả được sử dụng trung thực, nguồn trích
dẫn có chú thích rõ ràng, minh bạch, có tính kế thừa, phát triển từ các tài liệu,
các công trình nghiên cứu đã được công bố, các website.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của tôi.
Huế, ngày 14 tháng 03 năm 2016
Sinh viên


Tính cấp thiết của việc nghiên cứu..........................................................1

2.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu...........................................................2

3.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...........................................................2

4.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu..............................................2

5.

Kết cấu của Niên luận..............................................................................3

Chương 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÌNH CHỈ ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH
SỰ.....................................................................................................................4
1.1. Khái niệm của đình chỉ điều tra vụ án hình sự trong tố tụng hình sự........4
1.2. Mục đích, ý nghĩa của đình chỉ điều tra vụ án hình sự...............................6
1.3. Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc áp dụng
thủ tục đình chỉ điều tra vụ án hình sự..............................................................8
Chương 2. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ ĐÌNH
CHỈ ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ. THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ
HUẾ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ..................................................................10
2.1. Quy định pháp luật tố tụng hình sự về đình chỉ điều tra vụ án hình sự....10
2.1.1. Căn cứ đình chỉ điều tra........................................................................10

đau lòng như vụ ông Huỳnh Văn Nén, Nguyễn Thanh Chấn,… bị oan sai,
chịu tù tội hàng chục năm, lợi ích chính đáng của con người bị xâm phạm
nghiêm trọng.
Trong khi Bộ luật Tố tụng hình sự đã quy định cụ thể rằng nếu không
có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm thì vụ án phải bị
đình chỉ hoặc đình chỉ đối với bị can không thực hiện tội phạm. Tuy nhiên
quy định đó lại không được áp dụng một cách triệt để và công tâm. Vẫn có
những cán bộ, công chức nhà nước mang danh là người bảo vệ công lý, có
trách nhiệm làm sáng tỏ sự thật vụ án lại không tìm những chứng cứ gỡ tội
cho bị can mà lại cố tình quy kết mọi tội phạm cho họ để hưởng thành tích.
Những vụ án, bị can đáng lẽ phải đình chỉ lại làm bản kết luận điều tra đề
nghị truy tố dẫn đến hàng loạt sai phạm khác. Không chỉ thế, việc đình chỉ
điều tra hiện nay còn rất nhiều bất cập, vi phạm khác. Việc này không thể tiếp
diễn như vậy được, phải có biện pháp cứng rắn giải quyết tận gốc vấn đề này.
Đình chỉ điều tra vụ án hình sự là một hoạt động rất quan trọng. Cần
phải nhận thức rõ đó là quá trình các Cơ quan điều tra nhìn nhận lại vụ án một
cách toàn diện khách quan những gì đã thu thập được trong quá trình điều tra,
từ đó đưa ra quyết định chính xác. Quá trình nhìn nhận đó phải thực sự công
tâm, đúng pháp luật, không vì chạy đua theo thành tích mà có những quyết
định sai lầm, đưa người vô tội vào vòng lao lý.
1


Chính vì những lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Thực tiễn đình
chỉ điều tra vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Huế và kiến nghị”. Qua
việc nghiên cứu đề tài, tôi hi vọng có thể tìm hiểu sâu hơn các quy định của
pháp luật về đình chỉ điều tra và thực tiễn áp dụng tại thành phố Huế. Từ đó
có thể đưa ra một số đề xuất, kiến nghị giúp hoạt động đình chỉ điều tra đạt
chất lượng tốt hơn.
2.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của bài là quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng chống tội
phạm, cũng như thành tựu của các chuyên ngành khoa học pháp lý khác.
Bài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp
phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương
pháp lịch sử,…
5.

Kết cấu của Niên luận

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Nội dung của niên luận gồm hai
chương:
Chương 1: Lý luận chung về đình chỉ điều tra vụ án hình sự.
Chương 2: Quy định pháp luật tố tụng hình sự về đình chỉ điều tra vụ
án hình sự. Thực tiễn tại thành phố Huế và một số kiến nghị.

3


Chương 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÌNH CHỈ ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH
SỰ
1.1. Khái niệm của đình chỉ điều tra vụ án hình sự trong tố tụng
hình sự
Để hiểu rõ khái niệm “đình chỉ điều tra vụ án hình sự” trong tố tụng
hình sự, trước hết ta cần tìm hiểu khái niệm “đình chỉ”. Theo từ điển Tiếng
Việt, “đình chỉ” nghĩa là ngừng lại hoặc làm cho phải ngừng lại trong một thời
gian hay vĩnh viễn. Tuy nhiên đình chỉ điều tra trong tố tụng hình sự không có
nghĩa là ngừng lại trong một thời gian mà chỉ có nghĩa là dừng lại vĩnh viễn.

án hình sự khác. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Kiện: “Đình chỉ điều tra là kết
thúc một quá trình điều tra (đóng lại vụ án) khi xuất hiện các lý do khách
quan hoặc chủ quan, theo quy định của pháp luật bắt buộc phải kết thúc hoạt
động điều tra”. [4, tr. 150]
Khái niệm trên của tác giả Nguyễn Ngọc Kiện tuy là chính xác, nhưng
lại không làm rõ được việc đình chỉ điều tra không chỉ kết thúc quá trình điều
tra mà còn kết thúc cả vụ án, bởi vì nó chỉ được đưa ra trong dấu ngoặc đơn
do đó sẽ có nhiều người vô tình bỏ qua điều này, dẫn đến cách hiểu sai về
khái niệm này. Cần phải biết rằng việc kết thúc hoạt động điều tra không chỉ
là đình chỉ điều tra mà còn cả trong trường hợp cơ quan điều tra làm bản kết
luận điều tra đề nghị truy tố:
Khoản 2 Điều 162 BLTTHS 2003: “Việc điều tra kết thúc khi Cơ quan
điều tra ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra bản kết luận điều tra
và quyết định đình chỉ điều tra”.
Điều này cũng được thể hiện rõ trong quan điểm của tác giả Võ Khánh
Vinh: “Đình chỉ điều tra là một trong hai hình thức kết thúc hoạt động điều
tra mà nội dung của nó là dựa trên những lý do và căn cứ nhất định chấm dứt
mọi hoạt động nhằm phát hiện, thu thập, kiểm tra đánh giá những thông tin
dùng làm chứng cứ để giải quyết vụ án hình sự. Đình chỉ điều tra được áp
dụng khi quá trình điều tra vụ án mặc dù chưa đi đến chứng minh một cách
chắc chắn rằng vụ việc xảy ra nhưng có căn cứ pháp lý thấy rằng không thể
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện những hành vi liên quan
đến vụ việc đó”. [6, tr. 5]
5


Mặc dù đã nêu rõ đình chỉ điều tra là một trong hai hình thức kết thúc
hoạt động điều tra, nhưng tác giả Võ Khánh Vinh vẫn chưa làm nổi bật được
sự khác biệt của hai hình thức này. Cụm từ “chấm dứt mọi hoạt động nhằm
phát hiện, thu thập, kiểm tra đánh giá những thông tin dùng làm chứng cứ để

của công dân, nhất là việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam khi không
cần thiết sẽ gây mất thời gian, xâm phạm quyền tự do thân thể của công dân.
Nhưng khi đã đình chỉ điều tra thì mọi biện pháp ngăn chặn đã áp dụng
đều phải được hủy bỏ, CQĐT không thể viện cớ để giữ bị can lại, các quyền
chính đáng của công dân được khôi phục, bị can được trả tự do. Đồng thời,
các giá trị danh dự của công dân được khôi phục, nhất là khi họ được xác định
không thực hiện tội phạm.
- Giúp vụ án được giải quyết một cách khách quan, toàn diện, tránh
được sự phiến diện của các CQĐT trong việc xác định sự thật của vụ án, chỉ
tìm các chứng cứ buộc tội mà bỏ qua các chứng cứ gỡ tội. Việc các Điều tra
viên chỉ cố tìm các chứng cứ buộc tội mà không tìm kiếm các chứng cứ gỡ tội
trên thực tế không phải là ít. Điển hình là Điều tra viên Trần Nhân Luật (trong
vụ án ông Nguyễn Thanh Chấn) đã ép cung, dùng nhục hình đối với ông Chấn
để có các chứng cứ buộc tội.
Nếu đình chỉ điều tra được thực hiện một cách nghiêm minh, CQĐT bắt
buộc phải nhìn nhận một cách khách quan vụ án về khả năng phạm tội hoặc
không phạm tội của bị can, đưa ra những tình huống có thể xảy ra, xem xét
những tình tiết có thể miễn trách nhiệm hình sự cho bị can,…
- Thể hiện sự nhân đạo trong pháp luật hình sự Việt Nam. Đối với
những trường hợp không cần phải áp dụng trách nhiệm hình sự vẫn đáp ứng
được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, giáo dục cải tạo người phạm
tội thì họ sẽ không buộc phải chịu trách nhiệm hình sự.
- Bắt buộc các cơ quan có thẩm quyền phải có trách nhiệm trong việc
tiến hành điều tra một cách nhanh chóng có hiệu quả thông qua thời hạn điều
tra. Hết thời hạn này mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm
thì phải đình chỉ điều tra.

7




- Theo mục 19 Thông tư liên tịch 05/2005/ TTLT-VKSTC-BCA-BQP
về quan hệ phối hợp giữa cơ quan điều tra và VKS trong việc thực hiện một
số quy định của BLTTHS 2003:
+ Trước khi ra quyết định đình chỉ điều tra, Điều tra viên phải phối hợp
với Kiểm sát viên rà soát lại các chứng cứ và các căn cứ đình chỉ điều tra.
+ Trường hợp bị can đang bị tạm giam thì chậm nhất là năm ngày trước
khi ra quyết định đình chỉ điều tra, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị
Viện kiểm sát hủy bỏ biện pháp tạm giam để trả tự do ngay cho bị can.
+ Viện kiểm sát có quyền ý kiến để Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ
quan điều tra cùng cấp làm lại bản kết luận điều tra và ra quyết định đình chỉ
điều tra trong trường hợp Cơ quan điều tra đã làm bản kết luận điều tra đề
nghị truy tố nhưng hồ sơ chưa chuyển sang Viện kiểm sát và những người có
liên quan.
Trong mối quan hệ đó, cũng bởi vì Viện kiểm sát thực hiện chức năng
kiểm sát nên giữa Viện kiểm sát và CQĐT không bình đẳng với nhau, CQĐT
có sự phụ thuộc rất lớn vào Viện kiểm sát:
- VKS có quyền đưa ra các yêu cầu đối với CQĐT như yêu cầu CQĐT
làm bản kết luận điều tra đề nghị truy tố bị can, tiếp tục điều tra, phục hồi điều
tra. Các yêu cầu này có tính bắt buộc CQĐT phải thực hiện (Điều 114
BLTTHS)
- CQĐT có thẩm quyền ra quyết định ĐCĐT nhưng VKS có quyền hủy
bỏ quyết định ĐCĐT đó. Khi CQĐT đã làm bản kết luận điều tra đề nghị truy
tố nhưng hồ sơ chưa chuyển sang Viện kiểm sát và những người có liên quan
thì VKS vẫn có thể có ý kiến để CQĐT làm lại bản kết luận điều tra và ra
quyết định ĐCĐT. Như vậy vô hình trung quyết định của CQĐT trở nên
không có giá trị và rõ ràng là quyết định của VKS có giá trị hơn cả. Và để
tránh quyết định của mình bị hủy bỏ hoặc không còn giá trị, CQĐT thường
phải dựa vào ý kiến của VKS hơn là đưa ra các quyết định một cách độc lập.
- Trước khi ra quyết định đình chỉ điều tra, Điều tra viên phải phối hợp


của người khác;


Điều 105 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe

của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh;
10




Điều 106 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe

của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;


Điều 108 Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe

của người khác;


Điều 111 Tội hiếp dâm;



Điều 113 Tội cưỡng dâm;




BLTTHS).
Căn cứ không được khởi tố VAHS bao gồm: không có sự việc phạm
tội; hành vi không cấu thành tội phạm; người thực hiện hành vi nguy hiểm
11


cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; người mà hành vi phạm tội
của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; đã
hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; tội phạm đã được đại xá; người
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm
đối với người khác.
Khoản 4 Điều 107 chỉ quy định không khởi tố khi đã có quyết định
đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật. Vậy nếu đã có quyết định đình chỉ điều
tra có hiệu lực pháp luật thì có phải căn cứ không được khởi tố cũng như căn
cứ đình chỉ điều tra không?
BLTTHS 2015 đã bổ sung một trường hợp không được khởi tố VAHS
cũng như là căn cứ để đình chỉ điều tra đó là Tội phạm quy định tại khoản 1
các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình
sự 2015 mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.
Thứ ba, các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự.


Điều 19 BLHS: Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.

Trường hợp này chỉ đặt ra trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc ở giai
đoạn chưa đạt chưa hoàn thành. Nếu tội phạm dừng ở giai đoạn chưa đạt đã
hoàn thành hoặc tội phạm hoàn thành thì không đặt ra việc tự ý nửa chừng
chấm dứt việc phạm tội bởi vì hành vi đã thể hiện rõ tính nguy hiểm cho xã
hội. Việc người phạm tội tự ý chấm dứt việc phạm tội phải do nguyên nhân
chủ quan từ ý thức của người phạm tội, chứ không phải do bị người khác phát

Điều 70 Hiến pháp 2013). Thông thường căn cứ vào tình hình chính trị xã hội,
nhân dịp có sự kiện lịch sử đặc biệt quan trọng của đất nước cũng như diễn
biến tội phạm trong từng thời kỳ mà Quốc hội quyết định đại xá cho những
hành vi phạm tội hay những loại tội phạm nào. Người được đại xá sẽ là người
không có tội và cũng sẽ không có án tích trong lý lịch tư pháp của mình. Nhà
nước ta chỉ mới tiến hành hai lần đại xá vào năm 1946 và năm 1976 nhân dịp
Cách mạng tháng Tám thành công và Việt Nam hoàn toàn giải phóng.


Khoản 2 Điều 69 BLHS: Người chưa thành niên phạm tội có thể

được miễn trách nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc
tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia
đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục.
Ngoài ra, trong BLHS, ta còn tìm thấy những trường hợp khác được
quy định miễn trách nhiệm hình sự như:


Khoản 3 Điều 80: Người đã nhận làm gián điệp, nhưng không

thực hiện nhiệm vụ được giao và tự thú, thành khẩn khai báo với cơ quan nhà
nước có thẩm quyền.


Khoản 6 Điều 289: Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng

đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm
hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.
13


trong việc quy định các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự như trên đã
phân tích. Do đó cần quy định rõ các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự
khác cũng là căn cứ đình chỉ điều tra, tránh gây ra các cách hiểu khác nhau
cho CQĐT cũng như các cơ quan khác.
Thứ tư, hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực
hiện tội phạm.
14


Thời hạn điều tra vụ án hình sự là khoảng thời gian tối đa được pháp
luật xác định để cơ quan điều tra phải có trách nhiệm tiến hành các hoạt động
điều tra tìm kiếm chứng cứ nhằm xác định tội phạm và giải quyết các vấn đề
liên quan đến vụ án, kết thúc điều tra vụ án hình sự. [4, tr. 131]
Thời hạn điều tra được tính kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc
điều tra (Khoản 1 Điều 119 BLTTHS).
Như vậy pháp luật đã cho các CQĐT một khoảng thời gian để có trách
nhiệm điều tra vụ án hình sự. Hết thời hạn này mà không chứng minh được bị
can đã thực hiện tội phạm thì vụ án phải bị đình chỉ. Nếu không đình chỉ thì
dễ dẫn đến việc các CQĐT cố tình kéo dài việc điều tra, các quyền lợi cơ bản
của công dân bị xâm phạm do áp dụng kéo dài các biện pháp ngăn chặn.
Lưu ý: Nếu trong một vụ án có nhiều bị can mà căn cứ để đình chỉ điều
tra không liên quan đến tất cả các bị can, thì có thể đình chỉ điều tra đối với
từng bị can. Các căn cứ đình chỉ điều tra bị can tương tự như căn cứ đình chỉ
điều tra vụ án hình sự.
2.1.2. Thẩm quyền đình chỉ điều tra
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 162 BLTTHS 2003 thì thẩm quyền
đình chỉ điều tra thuộc về Cơ quan điều tra: “Việc điều tra kết thúc khi Cơ
quan điều tra ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra bản kết luận điều
tra và quyết định đình chỉ điều tra”.
Cụ thể, tại điểm e Khoản 2 và Khoản 3 Điều 34 BLTTHS 2003:

Thứ hai, CQĐT ra quyết định đình chỉ điều tra. Quyết định đình chỉ
điều tra ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định, lý do và căn cứ đình chỉ điều
tra, việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, trả lại đồ vật, tài liệu đã tạm giữ, nếu có
và những vấn đề khác liên quan. [1, K2 K3 Đ164]
Thứ ba, CQĐT gửi bản kết luận điều tra kèm theo quyết định đình chỉ
điều tra cùng hồ sơ vụ án cho VKS cùng cấp; gửi quyết định đình chỉ điều tra
cho bị can, người bào chữa. [1, K4 Đ162]
Thứ tư, sau khi nhận được quyết định đình chỉ điều tra của CQĐT, VKS
xem xét quyết định đó có căn cứ hay không. Nếu thấy quyết định đình chỉ
điều tra có căn cứ thì Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều
16


tra để giải quyết theo thẩm quyền; nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra không
có căn cứ thì hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra
phục hồi điều tra; nếu thấy đủ căn cứ để truy tố thì hủy bỏ quyết định đình chỉ
điều tra và ra quyết định truy tố. [1, K4 Đ164]
2.1.4. Các quan hệ pháp luật tố tụng hình sự sau khi đình chỉ điều
tra
Sau khi quyết định đình chỉ điều tra có hiệu lực thì mối quan hệ tố tụng
hình sự giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và vụ án, bị can chấm dứt. Các
biện pháp ngăn chặn đã áp dụng đối với bị can phải bị hủy bỏ, các quyền,
nghĩa vụ của bị can đã được khôi phục.
CQĐT, Viện kiểm sát không còn tư cách tiến hành tố tụng đối với vụ
án, bị can. Bị can không còn tư cách người bị khởi tố phải chịu các chế tài của
luật hình sự và tố tụng hình sự.
2.2. Thực tiễn đình chỉ điều tra trên địa bàn thành phố Huế
2.2.1. Tình hình kinh tế - xã hội và tội phạm trên địa bàn thành phố
Huế
Thành phố Huế nằm ở tọa độ địa lý 16-16,80 vĩ Bắc và 107,8108,20 kinh Đông, phía Bắc và phía Tây giáp thị xã Hương Trà, phía Nam

trường Đại học Phú Xuân, trường Cao đẳng nghề Du lịch Huế,…
Tình hình tội phạm: trong thời gian qua Đảng, chính quyền các cấp, các
cơ quan, ban ngành, đoàn thể và toàn xã hội đã rất quan tâm đến công tác
phòng chống tội phạm. Tuy vậy, hoạt động của các loại tội phạm trên địa bàn
thành phố vẫn có những diễn biến phức tạp. Địa bàn thành phố Huế là nơi xảy
ra tội phạm chiếm khoảng 50% tội phạm toàn tỉnh. Các loại tội phổ biến ở
thành phố Huế là trộm cắp tài sản, cố ý gây thương tích, cướp giật tài sản. Các
tội phạm về ma túy ngày càng gia tăng.
2.2.2. Tình hình đình chỉ điều tra
Dưới đây là số liệu thống kê do VKSND thành phố Huế cung cấp phản
ánh tình hình đình chỉ điều tra trên thành phố Huế từ năm 2011 – 2015:

18


BẢNG 1: ÁN ĐÌNH CHỈ ĐIỀU TRA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ HUẾ TỪ NĂM 2011 - 2015
Số vụ
2
4
3
4
3
16

Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Năm 2014
Năm 2015

Năm 2012

Năm 2013

Năm 2014

Năm 2015

Biểu đồ số vụ án, số bị can đình chỉ điều tra trên địa bàn thành phố
Huế từ năm 2011 – 2015
Nhận xét:
Qua bảng số liệu cũng như biểu đồ trên, ta có thể nhận thấy một số điều
sau:
Thứ nhất, về số vụ án bị đình chỉ điều tra:
19


Số vụ bị ĐCĐT tăng giảm đều. Năm 2012 tăng so với năm 2011, năm
2013 giảm so với năm 2012, năm 2014 tăng so với năm 2013, năm 2015 giảm
so với năm 2014.
Số vụ bị đình chỉ điều tra khá thấp. Thấp nhất là 2 vụ (năm 2011), cao
nhất cũng chỉ có 4 vụ (năm 2012 và năm 2014).
Thứ hai, về số bị can bị đình chỉ điều tra:
Số bị can bị ĐCĐT có xu hướng gia tăng qua các năm. Mặc dù năm
2013 giảm 2 bị can so với năm 2012, nhưng từ năm 2013 đến năm 2015 thì số
bị can bị ĐCĐT liên tục tăng từ 4 đến 9 bị can.
Số bị can bị ĐCĐT tương đối thấp, trung bình hơn 6 bị can/năm. Tuy
nhiên những năm gần đây (2014, 2015) số bị can bị ĐCĐT tăng cao (8, 9 bị
can).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status