0
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÃ HỘI ĐỐI VỚI DI SẢN
VĂN HÓA VẬT THỂ
1.1. Khái niệm và đặc điểm của quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể
1.2. Nội dung quản lý xã hội đối với văn hóa vật thể
1.3. Những yếu tố tác động đến hoạt động quản lý xã hội đối với di sản
văn hóa vật thể
Chương 2: KHÁI QUÁT VỀ DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ VÀ THỰC
TRẠNG
QUẢN LÝ XÃ HỘI ĐỐI VỚI DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ
Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
2.1. Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và di sản văn hóa vật thể
của thành phố Hà Nội
2.2. Thực trạng quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể ở thành phố
Hà Nội hiện nay
Chương 3: QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG
CƯỜNG
QUẢN LÝ XÃ HỘI ĐỐI VỚI DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂỞ THÀNH
PHỐ
HÀ NỘI HIỆN NAY
3.1. Quan điểm, phương hướng của Đảng và Nhà nước ta về quản lý xã hội
đối với di sản văn hóa vật thể ở thành phố Hà Nội hiện nay
3.2. Giải pháp tăng cường quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể ở
thành phố Hà Nội hiện nay
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
và các cơ quan chức năng đã dẫn đến tình trạng các giá trị di sản văn hóa vật
2
thể ở Hà Nội ngày càng bị mai một, lai căng. Một số di sản văn hóa vật thể ở
Hà Nội không còn giữ được nét đẹp, giá trị truyền thống từ ngàn xưa để lại.
Vấn đề quản lý di sản văn hóa đã được nhiều công trình quan tâm,
nghiên cứu, song chưa có đề tài nào nghiên cứu cụ thể về quản lý xã hội đối
với di sản văn hóa ở Hà Nội. Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tác
giả lựa chọn đề tài “Quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể ở thành
phố Hà Nội hiện nay” làm khóa luận tốt nghiệp cử nhân chuyên ngành Quản
lý xã hội.
2. Tình hình nghiên cứu
Có thể nói nghiên cứu về di sản văn hoá vật thể là một lĩnh vực quan
trọng được rất nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu trong các công trình, đề tài
khoa học cũng như được đề cập tới trong hội nghị chương trình trong thời
gian qua. Tiêu biểu có các công trình cụ thể như:
Một là, “Một số vấn đề bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa các
dân tộc hiện nay”, Nguyễn Văn Huy, Tạp chí Cộng sản, 2003.
Bài viết của tác giải Nguyễn Văn Huy đã khái quát chung ngắn gọn về
thực trạng di sản văn hóa của cả nước (cả di sản văn hóa vật thể và phi vật
thể). Tác giả đã nêu các nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa
các dân tộc dưới góc độ của lĩnh vực văn hóa nói chung, chưa nêu rõ giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đối với di sản văn hóa nói chung và di
sản văn hóa vật thể nói riêng.
Hai là, “Giữ gìn, phát huy di sản văn hóa các dân tộc Tây Bắc”, Nhà
xuất bản Văn hóa dân tộc, Tạp chí văn hóa nghệ thuật, 2005.
Bài viết này khái quát về về đặc điểm tự nhiên, thực trạng di sản văn
hóa và đưa ra tính cấp thiết cần quản lý hiệu quả di sản văn hóa vùng Tây
chưa đưa ra được các quan điểm, phương hướng nhằm nâng cao vai trò của
quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể.
Ở trên là những công trình, bài viết tiêu biểu nhất, bên cạnh đó còn một
số công trình, bài viết được đăng trên các trang thông tin khác nhau.
Có thể thấy các công trình nghiên cứu, bài viết trên đã cơ bản làm rõ về
di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa vật thể nói riêng, các di tích, danh
thắng tiêu biểu của cả nước cũng như của thành phố Hà Nội và các vấn đề
xoay quanh việc quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể, song chưa có
công trình, bài viết nào nghiên cứu về hoạt động quản lý xã hội đối với di sản
văn hóa vật thể trên địa bàn thành phố Hà Nội, chính vì vậy đề tài “Quản lý
4
xã hội đối với di sản văn hóa vật thể ở thành phố Hà Nội hiện nay” càng có ý
nghĩa trên thực tế.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý luận về quản lý xã hội cũng như thực trạng di sản văn hóa
vật thể, thực trạng quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể ở hà Nội,
khóa luận chỉ ra phương hướng, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm tăng
cường quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể trong thời gian tới ở thành
phố Hà Nội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục đích trên, khóa luận đã thực hiện những nhiệm vụ
nghiên cứu sau:
Một là, làm rõ cơ sở lý luận về di sản văn hóa vật thể và quản lý xã hội
đối với di sản văn hóa vật thể.
Hai là, làm rõ thành tựu và hạn chế của quản lý xã hội đối với di sản
văn hóa vật thể ở thành phố Hà Nội hiện nay và phân tích những nguyên nhân
góp, bổ sung một số giá trị, ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn trong hoạt
động quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể của Đảng và Nhà nước ta.
+ Ý nghĩa lý luận: Vận dụng các kiến thức chuyên ngành quản lý xã hội
cũng như chuyên ngành văn hóa, khóa luận đã đưa ra một số cơ sở lý luận về
quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể, góp phần làm phong phú thêm
kho tàng tri thức lý luận khoa học của khoa học xã hội nói chung và khoa học
quản lý di sản văn hóa nói riêng.
+ Ý nghĩa thực tiễn: Từ việc nghiên cứu thực trạng quản lý xã hội đối
với di sản văn hóa vật thể ở thành phố Hà Nội giúp các chủ thể quản lý có cái
nhìn toàn diện về những mặt đạt được cũng như những hạn chế còn tồn tại
trong quản lý đối với di sản văn hóa vật thể, từ đó có nhận thức và hành động
tích cực để quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể có hiệu quả nhằm bảo
tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa vật thể cả ở hiện tại và trong tương
lai.
7. Kết cấu của khóa luận
6
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần nội dung chính của khóa luận bao
gồm 03 chương. Cụ thể:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật
thể
Chương 2: Khái quát chung về di sản văn hóa vật thể và thực trạng
quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể ở thành phố Hà Nội hiện nay
Chương 3: Quan điểm, phương hướng và giải pháp tăng cường quản lý
xã hội đối với di sản văn hóa vật thể ở thành phố Hà Nội hiện nay.
sóc, vun trồng, chăm sóc cây cối, chăm sóc con người, trồng cây - trồng
8
người “ vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”(lời
Chủ tịch Hồ Chí Minh).
Theo từ điển tiếng việt do Hoàng Phê chủ biên, Nhà xuất bản Đà Nẵng
– trung tâm Từ điển học, Hà Nội – Đà Nẵng 1998, giải thích từ văn hóa với
năm góc độ: tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo ra trong lịch sử. Nói một cách tổng quát là những hoạt động
của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống và tinh thần. Nói khái quát về
tri thức, trình độ cao trong sinh hoạt xã hội là biểu hiện cao về văn minh.
Trong trình độ chuyên môn khái niệm văn hóa dùng để chỉ văn hóa của một
thời kỳ lịch sử, được xác định trên cơ sở của một tổng thể di vật lưu lại được
có những đặc điểm giống nhau.
UNESCO cho rằng: văn hóa nên được đề cập đến như một tập hợp của
những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và cảm xúc của một xã hội hay
một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng ngoài văn hóa và nghệ thuật,
cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị truyền thống và đức
tin.
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất và văn
hóa tinh thần. Người đã lý giải giản dị và dễ hiểu rằng: “ vì lẽ sinh tồn cũng
như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo, phát minh ra ngôn ngữ
chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những
công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo đó gọi là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi
phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loại người đã sản sinh ra
nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.
Kết luận chung là nếu chúng ta nhìn một cách tổng quát, văn hóa là một
truyền. Các thế hệ người Việt Nam, ngay từ buổi đầu dựng nước đã biết tôn
trọng, sáng tạo và giữ gìn các giá trị văn hóa, đặc biệt đã biết sáng tạo và huy
động sức mạnh sức mạnh văn hóa vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
Quốc.
Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc
Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn
trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Theo điều 4 của Luật
Di sản văn hóa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì:
Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa
vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học,
10
được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa,
khoa học bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ
vật, bảo vật quốc gia.
Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn
hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng
truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền
khác, bao gồm tiếng nói chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật , khoa học,
ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí
quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y dược học cổ truyền, về văn
hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống văn hóa dân tộc và những tri thức
dân gian khác.
1.1.1.2. Khái niệm quản lý xã hội
Quản lý là một dạng hoạt động xuất hiện rất sớm trong trong lịch sử,
trở thành một hoạt động phổ biến mọi lúc, mọi nơi, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ
của quản lý xã hội rất đa dạng và luôn luôn vận động. Do đó yêu cầu cần huy
động các chủ thể khác nhau trong xã hội tham gia vào quá trình quản lý.
Quản lý xã hội là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể
quản lý đối với các hoạt động của đời sống xã hội nhằm hướng tới mục tiêu
nhất định. Một mặt hướng tới phát triển những giá trị tốt đẹp, mặt khác hạn
chế những tác động tiêu cực tới xã hội hướng tới một xã hội phát triển toàn
diện và ổn định.[15;15]
Quản lý xã hội là một hệ thống bao gồm những nhân tố cơ bản: chủ thể
quản lý xã hội, đối tượng quản lý xã hội, mục tiêu quản lý xã hội, công cụ,
phương pháp quản lý xã hội và môi trường quản lý. Các nhân tố này có mối
quan hệ biện chứng, tác động qua lại với nhau để hình thành nên quy luật và
tính quy luật trong quản lý xã hội.
1.1.1.3. Khái niệm quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể
Quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể là tổng hợp các biện pháp,
luật pháp, chính sách, kinh tế, kỹ thuật, văn hóa, xã hội thích hợp nhằm bảo
vệ, bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc và phát triển
bền vững kinh tế - xã hội quốc gia.
Có thể khái quát hoạt động quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể
gồm những hoạt động sau:
12
- Xây dựng, hoàn thiện, sửa đổi bổ sung hệ thống thể chế và thiết chế
về di sản văn hoá vật thể. Đầu tư ngân sách cho sự nghiệp bảo tồn và phát huy
giá trị di sản văn hoá vật thể của dân tộc.
- Tổ chức hệ thống các cơ quan quản lý, nghiên cứu, sưu tầm, giới
thiệu, tổ chức bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hoá vật thể.
- Tăng cường mối quan hệ hợp tác, giao lưu quốc tế về di sản văn hoá.
- Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ chuyên môn về
Chủ thể quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể rất đa dạng, phong
phú. Trong đó, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và
xã hội. Đảng thực hiện vai trò chỉ đạo, định hướng của mình trên những nội
dung sau: ban hành các Nghị quyết, Chỉ thị và các văn bản khác nhằm triển
khai công tác bảo tồn di sản văn hóa vật thể với những mục tiêu và phương
thức thực hiện phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh xã hội, đất nước; bố trí phân
công cán bộ trực tiếp chỉ đạo và thực hiện việc quản lý các di sản văn hóa vật
thể; tuyên truyền, vận động cán bộ, đảng viên và toàn dân tham gia thực hiện
bảo tồn di sản văn hóa vật thể; kiểm tra đánh giá tình hình thực hiện Nghị
quyết, Chỉ thị, chương trình có liên quan đến hoạt động quản lý di sản văn
hóa vật thể.
Thứ hai, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là chủ thể trực tiếp chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc bảo tồn và
quản lý di sản văn hóa vật thể. Nhà nước quản lý di sản văn hóa vật thể thông
qua việc thiết lập bộ máy quản lý. Hiện nay, để quản lý văn hóa nói chung,
quản lý di sản văn hóa vật thể nói riêng, ở nước ta đã thiết lập và ngày càng
hoàn thiện hệ thống các cơ quan quản lý từ trung ương đến đia phương. Trong
đó bao gồm:
Một là, các cơ quan có thẩm quyền chung.
Theo nhiệm vụ quyền hạn của mình, Chính phủ thống nhất quản lý di
sản văn hóa trên phạm vi cả nước. Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý
di sản văn hóa tại địa phương. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban
14
nhân dân các cấp trong quản lý di sản văn hóa được quy định cụ thể trong
Nghị định số 98/2010/ NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính Phủ quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong phạm vi,
nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tuyên truyền, vận động các
thành viên của tổ chức, gia đình và nhân dân tham gia vào việc bảo tồn và
phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của di sản văn hóa vật thể.
Thứ tư, các thiết chế xã hội khác
Bên cạnh các chủ thể trên, hoạt động quản lý di sản văn hóa vật thể còn
có sự tham gia của các thiết chế xã hội khác. Sự tham gia quản lý xã hội của
các thiết chế xã hội giữ vai trò quan trọng, quyết định tới sự thành công hay
thất bại của hoạt động quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể tại địa
phương. Các thiết chế xã hội khác như: các tổ chức, đoàn thể xã hội, các thiết
chế làng xã, gia đình và toàn thể nhân dân tham gia quản lý trên các phương
diện sau: tích cực và ủng hộ tham gia các hoạt động bảo tồn và phát huy giá
trị di sản văn hóa vật thể tại địa phương như tuyên truyền, phổ biến chủ
trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về quản lý xã hội đối
với di sản văn hóa vật thể, giám sát các hoạt động của bộ máy quản lý, đội
ngũ cán bộ tham gia quản lý.
1.1.2.2. Đặc điểm về đối tượng quản lý
Muốn quản lý hiệu quả , các chủ thể quản lý xã hội phải nắm vững và
hiểu rõ về đối tượng quản lý.
Đối tượng của quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể được xác
định là di sản văn hóa vật thể và những vấn đề xoay quanh di sản văn hóa vật
thể. Bao gồm tổng thể các hoạt động kiểm kê, phân tích, đánh giá hiện trạng
của các di tích, danh thắng…, hoạt động trùng tu, tôn tạo, bảo tồn và phát huy
những giá trị của di sản văn hóa vật thể, và các hoạt động khác có liên quan
đén di sản văn hóa vật thể. Đối tượng của quản lý di sản văn hóa vật thể luôn
gắn với truyền thống lịch sử của dân tộc. Vì vậy chủ thể quản lý cần phải hiểu
nguồn gốc, giá trị văn hóa lịch sử, hiểu được quy luật và tính quy luật của đối
tượng quản lý để có thể đưa ra được các phương pháp, chủ trương, chính sách
phù hợp nhằm thực hiện mục tiêu quản lý.
1.1.2.3. Đặc điểm về phương pháp quản lý
nhằm cung cấp kiến thức và giáo dục một cách rộng rãi, phổ biến; Nhà nước
phải có đường lối và thể chế chính trị đúng đắn, bảo vệ và thể hiện ý chí,
nguyện vọng của nhân dân; phải có cơ quan chức năng và đội ngũ công chức
có phẩm chất và trình độ và cần có hệ thống pháp luật đồng bộ, phù hợp.
17
Thông qua phương pháp này, ý thức của cộng đồng về bảo tồn và phát
huy những giá trị truyền thống của di sản văn hóa vật thể được nâng cao từ đó
tham gia quản lý di sản văn hóa vật thể tích cực và có ý thức tự giác hơn.
Ba là, phương pháp kinh tế
Là phương pháp chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý thông
qua các lợi ích vật chất, làm cho đối tượng quản lý tự giác chấp hành đúng
các quy đinh, quy tắc quản lý.
Thực chất của phương pháp kinh tế trong quản lý di sản văn hóa vật thể
là việc dùng lợi ích vật chất để kích thích đối tượng thực hiện những hoạt
động bảo vệ các di sản văn hóa vật thể để các di sản còn mãi với thời gian, và
phát huy được những giá trị trong văn hóa truyền thống của dân tộc; sử dụng
biện pháp kinh tế chi phối lên động cơ hành động của con người nhờ đó biến
con người thụ động thành chủ động, sáng tạo đưa ra các sáng kiến bảo vệ
cũng như giữ gìn và phát huy những giá trị tốt đẹp trong các di sản văn hóa
vật thể để nhân rộng ra tất cả các địa phương trong cả nước.
Trong quản lý và bảo vệ di sản văn hóa vật thể, biện pháp kinh tế cũng
phát huy được tác dụng của nó. Cụ thể như thành lập các quỹ bảo vệ di sản
văn hóa vật thể. Đồng thời xét khen thưởng đối với những người có thành tích
cao trong bảo vệ di sản văn hóa vật thể, và kỷ luật, xử phạt đối với những cá
nhân, gia đình, tổ chức có hành vi xâm phạm làm ảnh hưởng đến di sản văn
hóa vật thể hay vi phạm pháp luật trong quá trình quản lý di sản văn hóa vật
thể để từ đó nêu cao tinh thần tự giác bảo vệ và phát huy những giá trị truyền
được Nhà nước đảm bảo thực hiện trên thực tế để điều chỉnh các quan hệ xã
hội. Bao gồm các văn bản như Hiến Pháp, luật và các văn bản dưới luật khác
như: Nghị định, quyết định, thông tư, chỉ thị…
Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý di sản văn
hóa vật thể cần được ban hành đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền để góp phần
nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể.
Đồng thời các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa vật thể phải
phản ánh được yêu cầu của việc điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá
trình quản lý. Những văn bản này phải là công cụ hữu hiệu để các chủ thể
quản lý tác động lên các quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý di sản văn
hóa vật thể.
Các cơ quan nhà nước, nhất là cơ quan quản lý chuyên môn về di sản
văn hóa phải xuất phát từ thực tế khách quan đối với yêu cầu bảo vệ di sản
19
văn hóa vật thể, từ những vấn đề nảy sinh trong quản lý di sản văn hóa vật thể
để ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
1.2.2. Kiện toàn bộ máy quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
làm nhiệm vụ quản lý di sản văn hóa vật thể
Hoạt động quản lý văn hóa nói chung và di sản văn hóa vật thể nói
riêng thành công hay không phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức bộ máy và đội ngũ
cán bộ làm nhiệm vụ quản lý văn hóa. Bởi quản lý chính là hoạt động của con
người, do con người do đó nó phải được tiến hành thông qua bàn tay khéo léo
của con người theo một bộ máy tổ chức nhất định làm nhiệm vụ quản lý.
Để hoạt động quản lý di sản văn hóa vật thể có hiệu quả, yêu cầu phải
xây dựng được bộ máy quản lý đồng bộ, có sự phân công chức năng, nhiệm
vụ rõ ràng giữa các bộ phận và phân cấp quản lý từ trung ương đến cơ sở theo
nguyên tắc tập trung dân chủ. Trong bộ máy quản lý di sản văn hóa vật thể
phù hợp văn hóa nếp sống của từng địa phương có như vậy thì hoạt động
quản lý mới đạt được hiệu quả tối đa.
1.2.4. Thanh tra, kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện chiến lược,
chính sách, pháp luật và xử lý vi phạm trong lĩnh vực quản lý di sản văn
hóa vật thể
Mục đích của hoạt động thanh tra, kiểm tra là nhằm phòng ngừa, ngăn
chặn, xử lý kịp thời những vi phạm trong lĩnh vực quản lý di sản văn hóa vật
thể. Đây chính là hoạt động nhằm đảm bảo pháp chế trong quản lý xã hội.
Nếu hoạt động quản lý mà không có hoạt động thanh tra, kiểm tra sẽ tạo điều
kiện cho những sai sót xảy ra.
Hoạt động thanh tra, kiểm tra có thể được tiến hành định kỳ hoặc đột
xuất. Tuy nhiên để tránh được những sai phạm cần phải kiểm tra thường
xuyên bởi kiểm tra thường xuyên giúp nhà quản lý nắm chắc được tình hình
thực hiện kế hoạch, chính sách, pháp luật trong lĩnh vực quản lý văn hóa vật
thể. Từ đó có những đánh giá khách quan về mặt tích cực và hạn chế của công
tác trên thực tế, xử lý kịp thời những vi phạm, đồng thời khuyến khích những
nhân tố tích giúp hoạt động quản lý đạt hiệu quả cao nhất.
Đánh giá là việc xem xét, nhận định về các giá trị các kết quả thu được
khi thực hiện chiến lược, chính sách. Đánh giá kết quả thực hiện chính sách là
một công việc tương đối phức tạp bởi khó xác định được căn cứ nhất quán để
đánh giá, cơ sở của việc đánh giá không cụ thể.
21
Trong quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể cần phải kết hợp hài
hòa giữa hoạt động thanh tra, kiểm tra với hoạt động đánh giá kết quả thực
hiện chiến lược, chính sách để có thể vừa kịp thời bổ sung, hoàn thiện chiến
lược, chính sách vừa chấn chỉnh công tác thực hiện, góp phần nâng cao hiệu
quả thực hiện chính sách.
động quản lý này có hiệu quả, trước hết cần phải tăng cường tuyên truyền
nâng cao ý thức tôn trọng, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa vật thể
trong mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh niên, coi đây là biện pháp cực
kỳ quan trọng có ý nghĩa lau dài trong bảo tồn di sản văn hóa dân tộc. ban
hành các chính sách cụ thể để khuyến khích nhân dân tham gia vào sự nghiệp
bảo tồn di sản văn hóa dân tộc. Khắc phục tư tưởng bao cấp trong nhân dân
đối với bảo vệ, tu bổ và tôn tạo di tích, đặt di tích vào các thiết chế văn hóa xã hội truyền thống xóm làng, thực hiện nhân dân có quyền quản lý, bảo vệ
tham gia và đóng góp bảo vệ tu bổ di tích.[ 3;112,113]
Đồng thời, việc triển khai công tác đấu thầu và tổ chức thi công tu bổ
các di tích các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phụ trách quản lý các di sản
văn hóa vật thể phải thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở và cùng đơn vị thi
công, trùng tu lên kế hoạch trùng tu, tôn tạo, sửa chữa để tránh việc sửa chữa
trùng tu di tích mất đi những giá trị truyền thống nguyên bản vốn có từ xa xưa
để lại.
1.3. Những yếu tố tác động đến hoạt động quản lý xã hội đối với di
sản văn hóa vật thể
Công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa vật thể là một công
việc phức tạp, đòi hỏi phải có sự tham gia của toàn xã hội. Quản lý xã hội đối
với di sản văn hóa vật thể là đặc biệt quan trọng, góp phần lưu giữ và phát
huy những giá trị truyền thống tốt đẹp mà ông cha để lại. Đồng thời, góp phần
ổn định kinh tế - xã hội của đất nước. Trong quá trình quản lý xã hội đối với
di sản văn hóa vật thể có rất nhiều yếu tố tác động đến theo cả hai chiều
hướng tích cực và tiêu cực. Các yếu tố tác động đến hoạt động quản lý xã hội
đối với di sản văn hóa vật thể bao gồm:
Một là, sự định hướng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Định hướng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước được coi là
yếu tố đầu tiên quyết đến sự thành công trong quản lý. Đây chính là những
công cụ, phương tiện, những giải pháp của chủ thể quản lý nhằm định hướng
dẫn dắt, khích lệ, điều hòa, phối hợp hoạt động của con người và cộng đồng
người trong việc đạt được mục tiêu đề ra. Theo quy luật chủ thể quản lý tác
văn hóa vật thể đồng thời tạo điều kiện thuận lợi, giúp các chủ thể có thể tiến
hành hoạt động quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể và ngược lại.
Chính ý thức bảo vệ di sản chưa tốt của con người cũng có thể là nguyên nhân
chính gây hủy hoại, xuống cấp và thậm chí mất đi những nét đẹp, giá trị
nguyên bản của các di sản văn hóa vật thể.
24
Thực tế cho thấy trong thời gian qua những sai phạm trong trùng tu sửa
chữa, hay những xâm phạm về di tích, cổ vật chủ yếu đều được cộng đồng
dân cư phát hiện và báo cho cơ quan nhà nước để kịp thời xử lý. Vì vậy, đời
sống văn hóa tinh thần và ý thức bảo tồn di sản văn hóa vật thể của cộng đồng
tốt sẽ tạo điều kiện cho hoạt động quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật
thể đạt hiệu quả cao hơn và ngược lại.
Bốn là, yếu tố số lượng đội ngũ cán bộn quản lý và trình độ chuyên
môn, năng lực tổ chức thực hiện chính sách của đội ngũ cán bộ quản lý xã
hội về văn hóa
Cán bộ văn hóa nhận nhiệm vụ theo kiểu bổ nhiệm. Theo số lượng của
trường Bồi dưỡng cán bộ quản lý ngành văn hóa thì toàn ngành văn hóa thông
tin có gần 45.000 công chức. Trực thuộc Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch
quản lý là 4.308 người trong đó cán bộ quản lý gồm lãnh đạo, cục, vụ và
tương đương 258 người; trưởng phó phòng ban thuộc Bộ khoảng 1.500 người,
khối quản lý Nhà nước về văn hóa thông tin là 625 người. Cán bộ văn hóa
trực thuộc quản lý cấp huyện, tỉnh là trên 40.000 người, trong đó ở các sở
Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh, thành phố 22.284 người, cấp huyện là
khoảng 22.000 người.
Trên phương diện chủ thể quản lý, trình độ chuyên môn, năng lực tổ
chức thực hiện chính sách của đội ngũ cán bộ quản lý xã hội về văn hóa có tác
động tích cực hoặc tiêu cực tới hoạt động quản lý. Nếu các cán bộ, công chức