Tác động của các mức thuế suất đến tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia - Pdf 50

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
------

VŨ THỊ TUYẾT LIÊN

TÁC ĐỘNG CỦA MỨC THUẾ SUẤT ĐẾN TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ Ở CÁC QUỐC GIA

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
------

VŨ THỊ TUYẾT LIÊN

TÁC ĐỘNG CỦA CÁC MỨC THUẾ SUẤT ĐẾN TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ Ở CÁC QUỐC GIA

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Lê Quang Cường

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2018

2.1.3. Phân loại thuế ...........................................................................................8
2.1.4. Vai trò của thuế ........................................................................................9
2.1.5. Lý thuyết về thuế ....................................................................................11
2.2. Lý thuyết tăng trưởng kinh tế .....................................................................15
2.2.1. Các chỉ tiêu đo lường tăng trưởng kinh tế ...........................................15
2.2.2. Các mô hình tăng trưởng kinh tế ..........................................................17
2.3. Sự tác động của các mức thuế suất đến tăng trưởng kinh tế....................18
2.4. Lược khảo một số nghiên cứu thực nghiệm có liên quan .........................22
CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................29
3.1. Mô hình nghiên cứu ......................................................................................29


3.2. Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu ...........................................................31
3.2.1. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................31
3.2.2. Dữ liệu nghiên cứu..................................................................................33
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU..............................................................37
4.1. Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu .............................................................37
4.2. Kết quả kiểm định các giả định hồi quy .....................................................39
4.2.1 Phân tích tương quan ..............................................................................39
4.2.2. Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến các biến độc lập .......................40
4.2.3. Kiểm định hiện tượng tự tương quan ...................................................40
4.2.4. Kiểm định hiện tượng phương sai sai số không đổi ............................40
4.2.5. Kiểm định phân phối chuẩn của phần dư ............................................41
4.3. Kết quả ước lượng các hệ số hồi quy của ba bộ dữ liệu nghiên cứu ........45
4.4. Thảo luận kết quả nghiên cứu .....................................................................49
4.4.1. Đối với bộ dữ liệu gộp các nước phát triển và đang phát triển..........49
4.4.2. Đối với bộ dữ liệu các nước phát triển .................................................51
4.4.3. Đối với bộ dữ liệu các nước đang phát triển ........................................54
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ .................................................56
5.1. Tóm tắt các kết quả chính của đề tài ..........................................................56


Mô hình tác động cố định

REM

Random Effects Model

Mô hình tác động ngẫu nhiên

FGLS

Feasible General Least
Square

Mô hình bình phương bé nhất
tổng quát khả thi

GTGT

Thuế giá trị gia tăng
Value Added Tax

TNDN

Corporate Taxes

Thuế thu nhập doanh nghiệp

TNCN


1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Thuế được xem như là một công cụ tài chính của Nhà nước. Khi chính phủ thu
thuế nghĩa là tập trung được một phần của cải của xã hội từ đó hình thành nên quỹ
tiền tệ để có thể vận hành bộ máy nhà nước, chi tiêu các hoạt động của chính phủ,
hay chi phúc lợi xã hội, chi đầu tư... Ngoài ra, thuế còn góp phần điều chỉnh lạm phát,
ổn định thị trường. Nếu nhà nước giảm thuế đối với các nguyên liệu sản xuất đầu vào
sẽ kích thích doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nhiều hơn hoặc bằng cách tăng thuế
để giảm bớt nhu cầu về tiêu dùng, …
Thuế không chỉ đơn thuần là một nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước mà
còn là công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng của Nhà nước, thuế gắn liền với các vấn đề
về tăng trưởng kinh tế, về sự công bằng trong xã hội. Nhà nước thông qua công cụ
thuế để điều tiết nền kinh tế thị trường, định hướng phát triển các ngành sản xuất. Với
tính chất định hướng phân biệt của chính sách thuế góp phần tạo ra sự phát triển hài
hòa cân đối giữa các lĩnh vực, các thành phần kinh tế, góp phần giảm chi phí xã hội
và đẩy mạnh sự tăng trưởng nền kinh tế.
Ngân sách nhà nước là yếu tố tác động trực tiếp đến nền kinh tế, trong điều kiện
nền kinh tế của các quốc gia đang ngày càng phát triển để hội nhập quốc tế, cần có
nguồn thu ngân sách lớn để đầu tư cho các nhu cầu đó, nhưng nguồn thu nó lại không
tăng nhanh bằng việc chi ra.“Dẫn đến quỹ ngân sách ngày càng thâm hụt và khi nó
kéo dài dẫn đến không gian tài khóa trở nên thắt chặt, làm giảm tính chủ động của
chính phủ đối với các phản ứng chính sách trong tình hình thực hiện các gói kích
thích kinh tế. (Sử Đình Thành, 2015) “cho thấy sự gia tăng thu thuế sẽ gây kìm hãm
tăng trưởng kinh tế, cải cách quản lý thuế tại Việt Nam nằm trong thứ hạng thấp về
môi trường thuế. Điều này gây bất lợi cho Việt Nam trong quá trình hiện đại hóa và
hội nhập quốc tế.” Nhận định trên cho thấy, mục tiêu tăng trưởng kinh tế có thể đạt
được nếu chúng ta có một cấu trúc thuế hợp lý làm cân bằng cán cân ngân sách, tăng
tính chủ động trong việc thực thi các chính sách kinh tế - xã hội.


2


3

- Phạm vi nghiên cứu: Tác giả thu thập dữ liệu về các biến trong mô hình nghiên
cứu tại 40 quốc gia có những mức thuế suất thu nhập tương đồng nhau giữa các quốc
gia phát triển và đang phát triển, bao gồm 20 quốc gia phát triển và 20 quốc gia đang
phát triển trong đó có Việt Nam, để tác giả làm rõ hơn mức độ ảnh hưởng của thuế
suất đến sự tăng trưởng kinh tế là tích cực hay tiêu cực có phụ thuộc vào đặc điểm
của nền kinh tế quốc gia đó hay không? Với dữ liệu bảng được thu thập trong giai
đoạn 10 năm từ năm 2007 - 2016.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
Đầu tiên tác giả dùng phương pháp phân tích và tổng hợp để hệ thống hóa cơ sở lý
luận về thuế và mô hình tăng trưởng kinh tế cũng như lược khảo, đánh giá những
nghiên cứu trước đây đã từng nghiên cứ đến đề tài này.
Tiếp đến, tác giả sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến đánh giá mức độ tác
động của các mức thuế suất đến tăng trường kinh tế. Dữ liệu được tác giả sử dụng để
tiến hành hồi quy là dữ liệu bảng (Panel data). Do đó, tác giả sẽ xử lý dữ liệu bảng
bằng ba phương pháp ước lượng khác nhau là: mô hình ước lượng bình phương nhỏ
nhất (Pooled OLS), mô hình tác động cố định (Fixed Effects Model) và mô hình tác
động ngẫu nhiên (Random Effects Model) để ước lượng mức ảnh hưởng của biến độc
lập và các biến kiểm soát trong mô hình nghiên cứu tác động tăng trưởng kinh tế của
các quốc gia. Bên cạnh đó, để chọn lựa mô hình phù hợp nhất với mô hình và dữ liệu
nghiên cứu, tác giả sẽ sử dụng các kiểm định Breusch-Pagan Lagrangian và kiểm
định Hausman để lựa chọn giữa ba phương pháp ước lượng.”
Mặt khác, để đảm bảo tính hiệu quả của các hệ số hồi quy và tính đại diện cho tổng
thể của mô hình nghiên cứu, tác giả sẽ thực hiện kiểm định một số giả định hồi quy
của mô hình bao gồm: hiện tượng đa cộng tuyến, hiện tượng tự tương quan, phương
sai sai số không đổi, phần dư có phân phối chuẩn. Bên cạnh đó, nếu xảy ra hiện tượng
tự tương quan hay phương sai số thay đổi, phương pháp FGLS sẽ được sử dụng kiểm
soát các vi phạm này (Judge, Hill et al, 1988).”

2.1.1. Khái niệm về thuế và thuế suất
2.1.1.1. Khái niệm về thuế
Thuế là một khoản nộp bắt buộc của các tổ chức và cá nhân cho nhà nước theo
luật định. Thuế gắn liền với sự tồn tại của nhà nước. Cùng với sự phát triển của đời
sống kinh tế xã hội, thuế đã thay đổi và phát triển theo sự phát triển của các chức
năng của nhà nước. Trong nền kinh tế tự do cạnh tranh, thuế chỉ đơn thuần là công
cụ tạo nguồn thu cho nhà nước; đến nền kinh tế hiện đại, thuế còn tham gia vào quá
trình điều tiết nền kinh tế (Tổng cục thuế, 2011).
C.Mác đã chỉ rõ: “Để duy trì quyền lực công cộng đó, cần phải có những sự đóng
góp của những người công dân của Nhà nước đó là thuế má…” (Mác - Ăng ghen.
TT. T2 - NXB Sự thật - Hà Nội - 1962. tr522).
Trong cuốn từ điển kinh tế của Chrisopher Pass và Bryan Lowes, đứng trên góc
độ đối tượng chịu thuế đã cho rằng: "Thuế là một biện pháp của chính phủ đánh trên
thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu),
trên việc chi tiêu về hàng hoá và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản" (Tổng cục
thuế, 2011).
Theo hai nhà kinh tế Mỹ Makkollhell và Bruy (1993) định nghĩa thuế như sau:
“Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc là chuyển giao hàng hóa,
dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho Chính phủ, mà trong sự trao đổi đó
họ không nhận được một cách trực tiếp hàng hóa hoặc dịch vụ nào cả, khoản nộp đó
không phải là tiền phạt mà tòa án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật”
Trên giác độ mục đích sử dụng, được định nghĩa: “Thuế là hình thức phân phối và
phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ
tiền tệ tập trung của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các
chức năng nhiệm vụ của Nhà nước” (Tổng cục thuế, 2011).


6

Trên giác độ kinh tế học, thì “thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước


-

Thuế suất trung bình: là tỷ số giữa tổng số tiền thuế phải trả trên tổng giá trị
thu nhập chịu thuế.

-

Thuế suất biên: Là doanh thu thuế tăng thêm khi giá trị thu nhập chịu thuế tăng
thêm một đơn vị.

Phân loại thuế suất:
-

Thuế suất cố định (thuế tuyệt đối, thuế đơn vị):

Được ấn định bằng số tuyệt đối trên cơ sở thuế (ấn định 1 số thu bằng tiền trên 1 đơn
vị tính thuế như trọng lượng, khối lượng, diện tích, đơn vị sản phẩm, ...)
Vd: Thuế môn bài, thuế nhập khẩu ô tô cũ, thuế nhà đất, thuế tài nguyên.
-

Thuế suất tỷ lệ:

Được ấn định bằng tỷ lệ % trên cơ sở thuế nhưng mức thuế suất không thay đổi khi
cơ sở thuế thay đổi.
VD: Thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu
thụ đặc biệt, ...
-

Thuế suất lũy tiến:

nộp thuế như: Thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, …
- Thuế gián thu: là thuế đánh gián tiếp thông qua việc tiêu dùng hàng hóa,
dịch vụ. Thuế gián thu đánh vào người tiêu dùng nhưng lại được thu từ các doanh
nghiệp sản xuất và cung ứng hàng hóa, dịch vụ. Vì vậy, gánh nặng thuế có thể được
chia sẻ giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Thuế gián thu bao gồm: thuế giá trị
gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu.”
 Căn cứ vào cơ sở tính thuế: Hệ thống thuế được chia thành ba loại:
- Thuế thu nhập:
“Bao gồm các loại thuế có cơ sở đánh thuế là thu nhập kiếm được. Thu nhập
kiếm được là toàn bộ số tiền và lợi ích vật chất mà một tổ chức, cá nhân nhận được
trong kỳ tính thuế, kể cả các khoản chi tiêu đã bỏ ra để có được thu nhập. Thu nhập
kiếm được từ nhiều nguồn: từ lao động dưới dạng tiền lương, tiền công; từ hoạt động
sản xuất, kinh doanh dưới dạng thu nhập, lợi tức cổ phần; và từ các hoạt động đầu tư
tài chính khác... do đó, thuế thu nhập cũng có nhiều dạng: thuế thu nhập cá nhân, thuế
thu nhập công ty, thuế chuyển thu nhập ra nước ngoài, thuế lợi tức cổ phần...” (Tổng
cục thuế, 2011).
- Thuế tiêu dùng:
“Là loại thuế đánh vào hàng hoá, dịch vụ khi diễn ra việc mua bán. Trong thực
tế loại thuế tiêu dùng được thể hiện dưới nhiều dạng như thuế doanh thu, thuế tiêu
thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng...” (Tổng cục thuế, 2011).


9

- Thuế tài sản:
“Thuế tài sản có thể được thu trong trường hợp chuyển giao, cho không tài sản
(ví dụ như cho, tặng hoặc thừa kế), hoặc dưới hình thức bán (ví dụ như nhượng bán
bất động sản hoặc động sản), hoặc trong trường hợp có sự hiện hữu của tài sản (như
trường hợp đánh thuế vào các khối tài sản lớn)” (Tổng cục thuế, 2011).
2.1.4. Vai trò của thuế

Việc điều hoà thu nhập giữa các tầng lớp dân cư được thực hiện một phần
thông qua thuế gián thu mà đặc biệt là hình thức thuế tiêu thụ đặc biệt. Loại thuế này
có đối tượng chịu thuế chủ yếu là các hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng cao cấp, đắt tiền.
Các hàng hoá, dịch vụ này thông thường chỉ có những người có thu nhập cao trong
xã hội mới có thể sử dụng và hoặc sử dụng nhiều, qua đó điều tiết bớt một phần thu
nhập của họ. Các sắc thuế trực thu, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân với việc sử dụng
thuế suất luỹ tiến là loại thuế có tác dụng rất lớn trong vấn đề điều tiết thu nhập, đảm
bảo công bằng xã hội.
- Thuế là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất,
kinh doanh:
Vai trò này được xuất hiện trong quá trình tổ chức thực hiện các luật thuế trong
thực tế. Để đảm bảo thu được thuế và thực hiện đúng các quy định của các luật thuế
đã ban hành, cơ quan thuế và các cơ quan liên quan phải bằng mọi biện pháp nắm
vững số lượng, quy mô các cơ sở sản xuất, kinh doanh, ngành nghề và lĩnh vực kinh
doanh, mặt hàng họ được phép kinh doanh cũng như các định mức chi tiêu đặc thù
và các phương thức hạch toán riêng có. Từ công tác thu thuế mà cơ quan thuế sẽ phát
hiện ra những khó khăn mà họ gặp phải để giúp đỡ họ tìm mọi biện pháp tháo gỡ.
Đồng thời, cũng qua công tác thu thuế, cơ quan thuế cập nhật được nhiều kiến thức
quản lý kinh tế để phục vụ tốt hơn cho việc kiểm tra, kiểm soát sau này. Như vậy,
qua công tác quản lý thu thuế mà có thể kết hợp kiểm tra, kiểm soát toàn diện các mặt
hoạt động của các cơ sở kinh tế, đảm bảo thực hiện tốt quản lý Nhà nước về mọi mặt
của đời sống kinh tế - xã hội.
- Thuế góp phần thức đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển:
Thuế trong cơ chế thị trường không chỉ đóng vai trò là nguồn thu chủ yếu của
ngân sách nhà nước, mà còn là một công cụ làm đòn bẩy để thúc đẩy sản xuất, kinh
doanh phát triển. Theo quan điểm công bằng, bất kỳ một tổ chức, cá nhân khi đã thực


11



quỹ công cộng trong thời gian ngắn nhất.””
“Theo Adam Smith nếu thuế khóa nặng nề quá mức thì trật tự xã hội sẽ bị xáo trộn
và hoạt động của các lực lượng thị trường sẽ bị suy yếu. Do vậy, lý thuyết của Adam
Smith tập trung giải thích sự cần thiết của thuế khóa, tính công bằng và phân chia
gánh nặng thuế trong xã hội.”


12

2.1.5.2. Arthur Laffer và lý thuyết đường cong Laffer:
“Arthur Laffer (Mỹ), khoảng những năm 1980 ở Mỹ và Anh đã ra đời một học thuyết
kinh tế mới dựa trên cơ sở luận điểm của các nhà kinh tế trọng cung (Arthur Laffer,
Jude Winniski, Norman Ture).
Trường phái này cho rằng, giảm thuế sẽ là một yếu tố quan trọng trong việc kích thích
cung. Vì khi thuế suất biên tế cao là nguyên nhân dẫn đến lạm phát cao, năng suất lao
động thấp, đầu tư thấp… Nên chủ trương: (i) cắt giảm chi tiêu ngân sách, (ii) cắt giảm
thuế, (iii) thu hẹp vai trò của nhà nước.”

Hình 2.1: Đường cong Laffer”
-

“Khi tỷ lệ thu thuế 0%, nhà nước không thu được đồng thuế nào”.

-

“Khi tỷ lệ thu thuế 100%, không có doanh nghiệp nào kinh doanh sản xuất, do
đó không thu được thuế.”

-

đã được dùng để trợ cấp cho những người nghèo dưới mức sống tối thiểu.”
Như vậy, dựa vào quan điểm, lý luận của các trường phái lý thuyết khác nhau, chính
phủ các nước vận dụng để hoạch định các chính sách thuế hợp lý để thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế phù hợp từng đặc điểm nền kinh tế của mỗi quốc gia. Sự kết hợp các
quan điểm khác nhau trong các lý thuyết về thuế là nét đặc trưng nổi bật của lý luận
thuế trong điều kiện hiện nay.””
2.1.5.4. Lý thuyết thuế tác động đến cung – cầu
Vấn đề cần cân nhắc trong ban hành chính sách thuế là việc đánh thuế ảnh hưởng đến
những thành phần nào, ai là người chịu gánh nặng thuế: người sản xuất hay người
tiêu dùng.
Trong thị trường cạnh tranh, nếu người tiêu dùng phải là người nộp thuế (Hình 1.2b)
thì họ không bằng lòng mua nhiều hàng hóa bị đánh thuế, do đó, giá hàng hóa sẽ giảm
xuống. Còn khi người sản xuất là người nộp thuế (Hình 1.2a) thì họ sẽ tăng giá hàng


14

hóa ở một mức nhất định để bù đắp gánh nặng thuế và thu nhập của họ sẽ không bị
giảm đi bằng đúng số tiền thuế mà họ phải đóng.
P

ST

P

D
ET

PT



P1

Q

Hình 1.2 a

QT

Q0

Q

Hình 1.2 b

Hình 1.2 Thuế tác động đến cung cầu
-

Trường hợp người nộp thuế là người sản xuất:

Thị trường cân bằng tại E0 (P0, Q0). Khi đánh thuế t đồng cho mỗi đơn vị sản phẩm
sản xuất, chi phí doanh nghiệp sản xuất giờ bao gồm khoản thuế t này, làm đường
cung dịch chuyển lên phải 1 đoạn t từ S lên ST. Điểm cân bằng mới lúc này là ET,
giá tăng từ P0 lên PT, sản lượng giảm từ Q0 xuống QT. người tiêu dùng lúc này chia
sẻ 1 phần thuế là: PT – P0. Người sản xuất sẽ gánh một phần thuế là P0 - P2.
-

Trường hợp người nộp thuế là người tiêu dùng:

Thị trường cân bằng tại E0 (P0, Q0). Khi đánh thuế t đồng cho mỗi đơn vị sản phẩm

Ti: thuế gián thu
De: bù đắp hao mòn tài sản cố định

* Phương pháp 2: Phương pháp gián tiếp (theo giá trị gia tăng)
GDP =
Trong đó: VA= giá trị sản lượng - giá trị sản phẩm trung gian


16

* Phương pháp 3: theo luồng chi tiêu
C: tiêu dùng của hộ gia đình
I: Đầu tư

GDP = C + I + G + X - M

G: chi tiêu chính phủ
X: giá trị hàng xuất khẩu
M: Giá trị hàng nhập khẩu

- Tổng sản phẩm quốc dân- GNP (Gross National Product): là giá trị
bằng tiền của tất cả các sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi công
dân của một nước trong một thời gian nhất định (thường là một năm).
NFFI: Thu nhập yếu tố ròng từ nước ngoài
IFFI: Thu nhập từ nước ngoài chuyển vào
GNP = GDP + NFFI = GDP + IFFI - OFFI

trong nước
OFFI: thu nhập từ trong nước chuyển ra
nước ngoài

được tại sao lại có sự chênh lệch thu nhập giữa các quốc gia. Và để giải thích điều
này, chúng ta thường dùng đến các mô hình về vốn con người.
“Tại sao các nước nghèo lại có tốc độ tăng trưởng thấp hơn các nước giàu? Các
nhà kinh tế học theo trường phái hiện đại đề xuất nếu các nước đầu tư thu nhập quốc
gia với tỉ lệ lớn hơn vào vốn vật chất và con người sẽ không chỉ đạt được thu nhập ở
trạng thái dừng cao hơn như trong mô hình Solow mà còn tiếp tục tăng trưởng nhanh
hơn. Mô hình tăng trưởng nội sinh còn cho thấy dù có cùng tỷ lệ tiết kiệm, nhưng
các nước nghèo (ít vốn) không có khả năng đuổi kịp các nước giàu về mức thu nhập
bình quân. Lý do chính là do sự chênh lệch không chỉ ở vốn vật chất (nhờ đầu tư và
viện trợ nước ngoài) mà quan trọng hơn hết là ở vốn con người.”
Trong mô hình tốc độ tăng trưởng là nội sinh, nên nếu một nước dành nhiều thu
nhập quốc gia để đầu tư vào nguồn nhân lực sẽ có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn, sẽ
sớm hội tụ với các nước giàu cho dù vốn con người ban đầu có thấp hơn.
Kết luận, vai trò chính phủ được đánh gia cao hơn trong mô hình tăng trưởng nội
sinh so với mô hình tăng trưởng tân cổ điển, trong việc thúc đẩy tăng trưởng nền kinh



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status