Tác động của quy mô chính phủ đến tăng trưởng kinh tế nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia khu vực asean - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
--------o0o---------

LÊ THANH VIỆT

TÁC ĐỘNG CỦA QUY MÔ CHÍNH PHỦ ĐẾN
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ: NGHIÊN CỨU
THỰC NGHIỆM TẠI CÁC QUỐC GIA
KHU VỰC ASEAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh - Năm 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
--------o0o---------

LÊ THANH VIỆT

TÁC ĐỘNG CỦA QUY MÔ CHÍNH PHỦ ĐẾN
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ: NGHIÊN CỨU
THỰC NGHIỆM TẠI CÁC QUỐC GIA
KHU VỰC ASEAN
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng
Mã số
: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

2.

Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................................. 2

3.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................... 2

4.

Phương pháp nghiên cứu ......................................................................................... 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY MÔ CHÍNH PHỦ
VÀ MỤC TIÊU TĂNG TRƯỜNG KINH TẾ CỦA QUỐC GIA.
............................................................................................................4
1.1 Chính sách tài khóa và hoạt động thu, chi ngân sách. ................................................. 4
1.1.1 Chính sách tài khóa chủ động. .............................................................................. 4
1.1.2 Chính sách tài khóa bình ổn. ................................................................................. 6
1.1.3 Thâm hụt ngân sách và nợ công ........................................................................... 7
1.2

Tăng trưởng kinh tế. ............................................................................................. 8

1.2.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế. ............................................................................. 8
1.2.2 Phương pháp đo lường tăng trưởng kinh tế .......................................................... 8


1.2.3

Một số lý thuyết về tăng trưởng kinh tế. ...................................................... 9

POLS: Mô hình hồi qui gộp
FE: Mô hình tác động cố định
RE: Mô hình tác động ngẫu nhiên


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1. Thống kê mô tả .......................................................................................... 36
Bảng 2.2. Ma trận hệ số tương quan .........................................................................36
Bảng 2.3. Kết quả ước lượng xem xét tác động của chi tiêu chính phủ và các yếu tố
khác đến tăng trưởng kinh tế các quốc gia khu vực ASEAN với mô hình hồi quy gộp.
...................................................................................................................................39
Bảng 2.4. Kết quả ước lượng xem xét tác động của chi tiêu chính phủ và các yếu tố
khác đến tăng trưởng kinh tế các quốc gia khu vực ASEAN với mô hình hồi quy tác
động cố định. .............................................................................................................40
Bảng 2.5. Kết quả ước lượng xem xét tác động của chi tiêu chính phủ và các yếu tố
khác đến tăng trưởng kinh tế các quốc gia khu vực ASEAN với mô hình hồi quy tác
động ngẫu nhiên. .......................................................................................................41
Bảng 2.6. Kết quả ước lượng xem xét tác động của thu ngân sách và các yếu tố
khác đến tăng trưởng kinh tế các quốc gia khu vực ASEAN với mô hình hồi quy gộp.
...................................................................................................................................43
Bảng 2.7. Kết quả ước lượng xem xét tác động của thu ngân sách và các yếu tố
khác đến tăng trưởng kinh tế các quốc gia khu vực ASEAN với mô hình hồi tác động
cố định. ...................................................................................................................... 44
Bảng 2.8. Kết quả ước lượng xem xét tác động của thu ngân sách và các yếu tố
khác đến tăng trưởng kinh tế các quốc gia khu vực ASEAN với mô hình hồi tác động
ngẫu nhiên. ................................................................................................................45
Bảng 2.9. Kiểm định tham số đồng thời, kiểm định Hausman, kiểm định Breusch &
Pagan cho các ước lượng với dữ liệu nghiên cứu là các quốc gia khu vực ASEAN.
...............................................................................................................................4848

tăng trưởng kinh tế. Chi tiêu công và thu ngân sách là biến số quan trọng ảnh hưởng
đến tính bền vững của tài chính công thông qua các hiệu ứng trên số dư ngân khố và nợ
chính phủ. Do đó, việc kiểm soát chặt chẽ ở những mục thích hợp, giảm chi tiêu công
là rất quan trọng để cân bằng ngân sách được điều chỉnh hài hòa giữa việc giảm nợ
công, cắt giảm thuế và đầu tư công tại các khu vực trọng điểm.
Vì thế trong nghiên cứu này, quy mô chính phủ được đo lường thông qua thu, chi
ngân sách nhà nước. Đề tài xem xét quy mô của chính phủ có tác động đến tăng trưởng
kinh tế hay không? Tác động đó sẽ như thế nào? Và tác động này có thực sự đủ lớn để
nhận được sự quan tâm hay không?
Một số các nghiên cứu cổ điển tiên phong trong nghiên cứu mối quan hệ giữa quy
mô của chính phủ và tăng trưởng kinh tế như Meltzer & Richard (1981), Ram (1986),
Gali (1994), Guseh (1997), Kneller et al (1999), Ghali (1999) và hầu như kết quả đều


2

cho thấy rằng quy mô chính phủ có tác động đến tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh các
nghiên cứu gần đây như Rioja & Valev (2004) và Anaman (2004) cũng xem xét tác
động của quy mô chính phủ đến tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia khu vực Đông Nam
Á. Tuy nhiên, Rioja & Valev (2004) tập trung nhiều hơn vào tác động của sự phát triển
của thị trường tài chính đến tăng trưởng kinh tế hơn tác động của quy mô chính phủ và
Anaman (2004) thì quan tâm đến tác động của quy mô chính phủ ở thị trường Brunie
nhiều hơn.
Với mục tiêu đóng góp một cái nhìn đa chiều cũng như cung cấp thêm những
bằng chứng về tác động của quy mô chính phủ đến tăng trưởng kinh tế, tác giả mong
muốn thực hiện nghiên cứu này với dữ liệu được thu thập ở các quốc gia khu vực
ASEAN giai đoạn 2000 – 2014 nhằm xem xét tác động thực sự của quy mô chính phủ
đến tăng trưởng kinh tế cũng như gợi ý những chính sách liên quan đến việc thu, chi
ngân sách hướng đến mục tiêu ổn định và phát triền bền vững nền kinh tế vĩ mô.
2.

chính năm 2008 để đánh giá tác động của cuộc khủng hoảng này trong nghiên cứu.
4.

Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng kỹ thuật hồi quy với dữ liệu bảng để đánh giá tác động của quy

mô chính phủ đến tăng trưởng kinh tế bao gồm mô hình hồi quy gộp (Pooled Ordinary
Least Squared), mô hình tác động cố định (Fixed Effects Model) và mô hình tác động
ngẫu nhiên (Random Effects Model). Đồng thời sử dụng các kiểm định có liên quan để
tìm ra ước lượng tốt nhất thể hiện tác động của việc thu, chi ngân sách đến tăng trưởng
kinh tế.


4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY MÔ CHÍNH PHỦ VÀ MỤC TIÊU
TĂNG TRƯỜNG KINH TẾ CỦA QUỐC GIA.
1.1 Chính sách tài khóa và hoạt động thu, chi ngân sách.
Khi nói về chính sách tài khóa thì mô hình của Keynes được xem là mô hình điển
hình nhất với những khái niệm rất cụ thể được đề cập đến như chính sách tài khóa chủ
động, công cụ bình ổn tự động (hay chính sách bình ổn tự động) và những hoạt động
liên quan đến thâm hụt ngân sách và nợ công. Lấy nền tảng từ mô hình của Keynes, cơ
sở lý thuyêt của tác giả đã được xây dựng dựa trên đó.
1.1.1 Chính sách tài khóa chủ động.
Chính sách tài khóa chủ động được định nghĩa là chính sách điều tiết thu nhập và
chi tiêu ngân sách. Nói một cách dễ hiểu đó là việc chính phủ chủ động điều chỉnh thu
chi chính phủ một cách chủ động và hợp lý để đạt được một mục tiêu kinh tế cụ thể.
Chính sách tài khóa được phân biệt dưới 2 dạng chính là chính sách tài khóa mở
rộng và chính sách tài khóa thu hẹp. Việc phân loại như vậy chủ yếu là do tác động của
chính sách tài khóa lên sản lượng của nền kinh tế. Cụ thể là chính sách tài khóa mở

Khi nền kinh tế đang ở trạng thái dưới mức tiềm năng, trạng thái cân bằng tạm
thời đó là điểm E. Để đưa nền kinh tế về vị trí tối ưu hơn, chính phủ đã áp dụng chính
sách tài khóa mở rộng (cụ thể trong ví dụ này là giảm thuế). Việc giảm thuế của chính
phủ đã kích thích nhu cầu tiêu dùng và tịnh tiến đường IS sang bên phải với thu nhập


6

quốc dân cao hơn so với ban đầu và lãi suất cao hơn sao với ban đầu. Đặc biệt, khi lãi
suất cao hơn, nó là nên tảng thúc đẩy đầu tư ở khu vực tư nhân, đây cũng là nhân tố
khiến cho tổng cầu gia tăng trong mô hình AD – AS. Tuy nhiên, khi áp dụng chính
sách tài khóa chủ động nguy cơ rơi vào bẫy lạm phát là rất cao nếu không có những
tính toán phù hợp để điều chỉnh chính sách hợp lý. Có thể thấy rõ điều này thông qua
minh họa ở hình bên trên, khi mà tổng sản phẩm tăng do đường tổng cầu tịnh tiến sang
phải thì nó cũng kéo theo việc tăng lên của giá bình quân. Trong quá khứ, nền kinh tế
Mỹ cũng đã vấp phải điều này trong giai đoạn đầu những năm 1970, lạm phát tại Mỹ
tăng kỉ lục do những chính sách nới lỏng tài khóa trước đó và điều này khiến chính phủ
Mỹ quan tâm nhiều hơn đến tác động của lạm phát.
1.1.2 Chính sách tài khóa bình ổn.
Chính sách tài khóa không chủ động hay còn gọi là chính sách bình ổn tự động là
những qy định trong luật pháp mà những hiệu lực của chúng tạo nên các công cụ bình
ổn nền kinh tế một cách tự động.
Việc cho đây là các công cụ bình ổn tự động là do hầu như các quy định về pháp
luật là do quốc hội ban hành và có rất ít thay đổi. thêm vào đó, vì đây là luật nên nó có
tính tự động và thường xuyên. Nói một cách ngắn gọn, tổng cầu sẽ tăng hoặc giảm dựa
trên điều tiết từ những quy định trong luật. Chẳng hạn, trong thời kì mở rộng, tổng cầu
sẽ bị kìm hãm do chi tiêu ngân sách giảm hoặc thu nhập ngân sách tăng một cách tự
động. Và như vậy chính sách bình ổn tự động là cơ chế tự động làm giảm các dao động
của chu kỳ tăng trưởng kinh tế. Những chính sách bình ổn tự động chính bao gồm:
Hệ thống trợ cấp thất nghiệp

phủ dùng để bù đắp các khoản thâm hụt ngân sách. Thường thì nợ công hàng năm tăng
đúng bằng mức thâm hụt ngân sách của năm đó. Một định nghĩa khác, nợ công là tổng
các mức thâm hụt ngân sách cộng dồn. Một khi nợ công quá lớn thì chi phí lãi vay sẽ


8

trở thành khoản chi tiêu chiếm tỷ trọng lớn trong chi tiêu chính phủ và ngân sách nhà
nước. Hậu quả là việc sử dụng chính sách tài khóa của chính phủ sẽ bị hạn chế. Từ
chính điều này, một vòng luẩn quẩn được hình thành:
Thâm hụt ngân sách  Nợ công tăng  Chi phí lãi vay tăng  Thâm hụt ngân sách.
Biện pháp đang được nhiều nước áp dụng để giải quyết vấn đề này là cấm chính
phủ chi tiêu vượt ngân sách. Tuy nhiên, chính việc này lại gây ra khó khăn cho chính
phủ trong việc ổn định nền kinh tế và vì vậy dao động trong tăng trưởng kinh tế lại trở
lại mức cao. Vì vậy, thâm hụt ngân sách và nợ công được xem là hệ quả không tránh
khỏi của chính sách tài khóa.
1.2 Tăng trưởng kinh tế.
1.2.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế được định nghĩa là sự gia tăng về quy mô sản lượng của một
quốc gia hay quy mô sản lượng quốc gia trên đầu người trong một khoảng thời gian
nhất định. Và với định nghĩa trên, thì khi lấy chênh lệch giữa quy mô sản lượng của
năm nay so với năm trước thì ta có mức tăng trưởng. Thêm vào đó, việc lấy chênh lệch
giữa quy mô sản lượng trên đầu người giữa năm này với năm khác cũng được xem là
tăng trưởng nếu mức tăng của quy mô sản lượng cao hơn mức tăng dân số. Qua đây
cũng cho thấy vì sao các nước đang phát triển hầu như kiểm soát gia tăng dân số để
đảm bảo mức tăng trưởng của quy mô sản lượng trên đầu người phản ánh đúng mức
tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế.
1.2.2 Phương pháp đo lường tăng trưởng kinh tế
Để đo lường tăng trưởng kinh tế, người ta thường sử dụng các thước đo sau:
 Tốc độ tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP): Trong đó GDP là giá trị tính

nông nghiệp, do giới hạn về đất sản xuất ở khu vực nông nghiệp, chi phí sản xuất công
nghiệp tăng. Điều này làm tăng chi phí sản xuất hàng hóa, do chi phí nguyên liệu đầu


10

vào từ công nghiệp tăng, nó dẫn đến một kết quả tất yêu đó là giá hàng hóa tăng cao và
gây ra lạm phát. Khi lạm phát xảy ra, thì tiền lương thực của công nhân nhận về giảm,
điều này thúc đẩy các tổ chức công đoàn đấu tranh đòi tăng lương cho công nhân. Tuy
nhiên, lương chính là một yếu tố chi phí sản xuất công nghiệp và khi lương tăng thì
cùng kéo theo chi phí sản xuất tăng. Hậu quả là sản lượng công nghiệp sẽ giảm.
Theo cách lập luận này của Ricardo, giới hạn về đất (Resources) ảnh hưởng đến
sản lượng của nông nghiệp và công nghiệp. Thêm vào đó, nông nghiệp và công nghiệp
được xem là đại diện của tổng sản lượng quốc gia. Vì vậy, giới hạn đất (Resources) ảnh
hưởng đến tăng trưởng kinh tế.
Mô hình Lewis (1954)
William Arthur Lewis (1915 – 1991) là nhà kinh tế học người Anh, ông đạt giải
Nobel kinh tế năm 1979 với những đóng góp về mô hình hai khu vực, lý thuyết phát
triển kinh tế với cung lao động. Theo Lewis thì lao động chính là yếu tố tác động mạnh
mẽ lên tăng trưởng kinh tế, và để chứng minh cho nhận định của mình, ông đã xây
dựng đường TPA (Total Products of Agriculture) của khu vực nông nghiệp. Tính chất
của đường biểu diễn này là một đường biểu diễn quan hệ dương giữa số lượng lao động
trong nền kinh tế và tổng sản lượng theo quy luật giá trị sản lượng biên giảm dần.
(Tham khảo hình bên dưới). Như vậy nếu giả định, khu vực nông nghiệp đang ở trạng
thái cân bằng với số lượng lao động là L0 và tổng sản lượng là Y0 thì khi L0 tăng lên
L1 (L1>L0) thì Y0 sẽ tăng lên Y1 (với Y1>Y0). Điều này cho thấy rằng lao động là
yếu tố tác động lên tăng trưởng nông nghiệp.


11

Để biểu diễn mối quan hệ này, Harrod – Domar đã xây dựng chỉ số ICOR (incremental
capital – output rate) còn gọi là hệ số tăng vốn – đầu ra. Chỉ số này được tính bằng
công thức:
𝐼𝐶𝑂𝑅 =

∆𝐾
(1)
∆𝑌

Với biểu diễn trên, có thể thấy rằng ICOR biểu diễn để tổng sản lượng tăng thêm 1 đơn
vị thì cần bao nhiêu đơn vị vốn. Từ (1), để thấy được tác động từ vốn thì (1) sẽ được
viết lại thành:
∆𝐾 = 𝐼𝐶𝑂𝑅 ∗ ∆𝑌 (2)
Trên thực tế, các hoạt động làm vốn tăng thêm chủ yếu đến từ hoạt động đầu tư (I). Vì
vậy, (2) có thể được viết dưới dạng:


13

∆𝐾 = 𝐼 = 𝐼𝐶𝑂𝑅 ∗ ∆𝑌 (3)
Từ đây ta thấy được mối quan hệ giữa đầu tư và thay đổi tổng sản lượng.
∆𝑌 =

∆𝐾
𝐼
=
(4)
𝐼𝐶𝑂𝑅 𝐼𝐶𝑂𝑅

Với giả định nền kinh tế đang là nền kinh tế đóng và không có ngoại thương thì I=S.

Nguồn: Todaro & Smith (2003)


15

1.3 Một số các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về mối quan hệ chính sách tài
khóa và tăng trưởng kinh tế
Trong hơn ba thập kỷ qua có nhiều nghiên cứu kinh tế, cả lý thuyết và thực
nghiệm, phân tích vai trò của chi tiêu công đối với tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia
trên thế giới. Có nhiều quan điểm cũng như kết luận khác nhau từ các nghiên cứu về
việc liệu chi tiêu chính phủ có hỗ trợ thúc đẩy hay ngăn cản tăng trưởng kinh tế.
Đầu tiên, các quan điểm ủng hộ quy mô chi tiêu công lớn xoay quanh việc các
chương trình chi tiêu này sẽ hỗ trợ cung cấp các hàng hoá công cộng như cơ sở hạ tầng
tạo điều kiện cho sản xuất tư nhân, giáo dục nhằm tăng chất lượng nguồn vốn lao
động… Đồng thời, sự gia tăng chi tiêu chính phủ cũng sẽ tạo đà cho sức mua của
người tiêu dùng gia tăng, gián tiếp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, có một số
quan điểm cho rằng quy mô chính phủ nhỏ (đo lường bằng tổng chi tiêu công) có một
số lợi ích. Đầu tiên, chi tiêu chính phủ nếu quá lớn sẽ khiến dịch chuyển nguồn lực từ
khu vực sản xuất tư nhân vốn đang hiệu quả sang khu vực công kém hiệu quả. Mặt
khác, chi phí tốn kém để mở rộng chi tiêu công trong những nỗ lực thực hiện các chính
sách thúc đẩy tăng trưởng có thể dẫn đến sự phản đối các chính sách này.
Một số mô hình tân cổ điển nghiên cứu các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh
tế như Solow (1956) không xét đến vai trò của chính phủ (đặc biệt là vai trò của chính
sách tài khoá). Các lý thuyết khác có đưa vai trò của chính phủ trong tăng trưởng kinh
tế, và thường có những kết luận không thống nhất. Các nghiên cứu chỉ ra trong một số
trường hợp thu hẹp quy mô chi tiêu công có lợi cho tăng trưởng kinh tế nhưng một số
trường hợp khác thì nhà nước nên gia tăng chi tiêu nhằm thực hiện mục tiêu này. Thực
tế, nếu chi tiêu chính phủ bằng không, kinh tế sẽ tăng trưởng rất thấp vì việc thực thi
các hợp đồng kinh tế, bảo vệ quyền sở hữu tài sản, phát triển cơ sở hạ tầng… sẽ rất khó
khả thi nếu không có chi tiêu của chính phủ. Nói cách khác, một số khoản chi tiêu của

Mặt khác một số nhà nghiên cứu đã lượng hoá tác động tích cực của chi tiêu chính phủ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status