Tác động của thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia đang phát triển ở châu á thái bình dương - Pdf 50

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

PHAN PHÚ GIA

TÁC ĐỘNG CỦA THÂM HỤT NGÂN SÁCH
ĐẾN TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ CỦA CÁC QUỐC GIA
ĐANG PHÁT TRIỂN Ở CHÂU Á – THÁI BÌNH DƢƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

PHAN PHÚ GIA

TÁC ĐỘNG CỦA THÂM HỤT NGÂN SÁCH
ĐẾN TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ CỦA CÁC QUỐC GIA
ĐANG PHÁT TRIỂN Ở CHÂU Á – THÁI BÌNH DƢƠNG

Chuyên ngành: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN KIM QUYẾN


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt

Tiếng Anh

Tiếng Việt

D

Public Debt

Nợ công

FD

Fiscal Deficit

Thâm hụt tài khóa/Thâm hụt
ngân sách

FEM

Fixed-Effect Model

Mô hình hiệu ứng cố định

GDP

Gross Domestic Product



INF

Inflation

Lạm phát

OECD

Organisation for Economic Cooperation and Development

Tổ chức Hợp tác và Phát triển
Kinh tế

REM

Randomed-Effect Model

Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên

RIR

Real Interest Rate

Lãi suất thực

SAV

National Saving


1.1. Lý thuyết về thâm hụt ngân sách .................................................................5
1.1.1. Khái niệm .................................................................................................5
1.1.2. Nguyên nhân .............................................................................................6
1.1.3. Một số cách đo lường thâm hụt ngân sách ..............................................8
1.1.4. Các phương pháp xử lý thâm hụt ngân sách ..........................................11
1.2. Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế ...............................................................13
1.3. Mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế ..................15
1.3.1. Tác động ngắn hạn của thâm hụt ngân sách ..........................................17
1.3.2. Tác động dài hạn của thâm hụt ngân sách.............................................20
1.4. Tổng quan các nghiên cứu trước đây về tác động của thâm hụt ngân sách
đến tăng trưởng kinh tế.....................................................................................22
1.5. Mô hình lý thuyết về thâm hụt ngân sách, tiết kiệm quốc gia và tăng
trưởng kinh tế ...................................................................................................27
CHƢƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC NGHIỆM .............................................32
2.1. Mô hình nghiên cứu ..................................................................................32
2.2. Mô tả dữ liệu .............................................................................................32
2.3. Phương pháp nghiên cứu ...........................................................................36
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .....................................................41
3.1 Kiểm định lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp ...........................................41
3.1.1 Kiểm định lựa chọn mô hình hồi quy dữ liệu bảng Pooled OLS và mô
hình hiệu ứng cố định (FEM) ...........................................................................41


3.1.2 Kiểm định lựa chọn mô hình Pooled OLS và mô hình hiệu ứng ngẫu
nhiên (REM) .....................................................................................................41
3.1.3 Kiểm định lựa chọn mô hình hiệu ứng cố định (FEM) và mô hình hiệu
ứng ngẫu nhiên (REM) .....................................................................................42
3.2 Kiểm định sự tương quan các biến trong mô hình và đa cộng tuyến .............43
3.2.1 Ma trận tương quan đơn tuyến tính giữa các cặp biến ...........................43
3.2.2 Kiểm định đa cộng tuyến trong mô hình .................................................44

và dài hạn, đều là kết quả của sự đóng góp của rất nhiều yếu tố. Theo mô hình tăng
trưởng nội sinh, Chính phủ đóng một vai trò có ý nghĩa trong việc thúc đẩy tích lũy
trình độ dân trí, nghiên cứu và phát triển, đầu tư công, phát triển nguồn vốn con
người, luật lệ và các đối tượng khác để tác động lên tăng trưởng trong ngắn hạn và
dài hạn. Sự tương đồng của trường phái mô hình tăng trưởng nội sinh (Romer,
1986; Lucas, 1988; Barro, 1990) và trường phái Tân cổ điển (Solow, 1956; Swan,
1956) là cả hai đều cho rằng chính sách tài khóa có tác động đến tăng trưởng kinh
tế, tuy nhiên sự khác biệt lại nằm ở tác động của thâm hụt ngân sách đến tăng
trưởng. Cho đến ngày nay, những tranh cãi về vai trò của thâm hụt ngân sách, sự
tồn tại và ảnh hưởng của nó đến tăng trưởng kinh tế vẫn đang là một vấn đề mà các
nhà kinh tế quan tâm hàng đầu. Bất cứ quốc gia nào cũng đã và đang đối mặt với
tình trạng mất cân bằng ngân sách và cố gắng tài trợ thâm hụt bằng các cách khác
nhau. Bên cạnh đó, bối cảnh kinh tế thế giới đã trải qua rất nhiều biến động trong
thời gian qua như cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, nguy cơ vỡ nợ của
Hy Lạp ảnh hưởng đến an ninh tài chính của Liên minh Châu Âu, các nền kinh tế cố
gắng thành lập các khu vực mậu dịch tự do nhằm “phẳng hóa” về các nguồn lực và
tăng cường mậu dịch thương mại. Tuy nhiên trong bất kỳ giai đoạn và hoàn cảnh
kinh tế nào, các quốc gia vẫn phải thừa nhận sự tồn tại khách quan của thâm hụt
ngân sách và vẫn tiếp tục duy trì tình trạng này trong một mối quan hệ với sức khỏe
của nền kinh tế. Câu hỏi về vai trò của thâm hụt ngân sách đến kết quả kinh tế của
mỗi quốc gia riêng biệt trong các hoàn cảnh kinh tế đặc biệt vẫn đang là chủ đề
nghiên cứu nóng sau cuộc khủng hoảng toàn cầu vào cuối thập kỷ đầu tiên của thế
kỷ XXI. Chính vì lý do này, với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về mối quan hệ giữa
thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế của các quốc gia cụ thể, trong bối cảnh


không gian và thời gian cụ thể, tác giả quyết định chọn đề tài “Tác động của thâm
hụt ngân sách đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia đang phát triển ở Châu Á –
Thái Bình Dương” làm đề tài nghiên cứu của luận văn.
2. Mục tiêu nghiên cứu

ước lượng, phân tích tác động của thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng kinh tế. Cụ
thể ở đây tác giả lựa chọn mô hình tăng trưởng nội sinh gồm các biến số kinh tế như
tốc độ tăng trưởng kinh tế, thâm hụt ngân sách, tiết kiệm quốc gia, nguồn thu chính
phủ, lạm phát, lãi suất, độ mở thương mại,… với kiểu dữ liệu bảng từ 10 quốc gia
đang phát triển ở Châu Á – Thái Bình Dương trong thời gian 1999 – 2014, các
phương pháp ước lượng FEM, REM, GMM.
- Bước 3: Thu thập dữ liệu, xử lý dữ liệu và thực hiện ước lượng mô hình
bằng các phương pháp ước lượng FEM, REM, GMM trên phần mềm Stata, thông
qua một số kiểm định cụ thể đi kèm
- Bước 4: Sử đụng kết quả ước lượng để trả lời các câu hỏi nghiên cứu chính
như xác định tồn tại tác động của thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng kinh tế, sự
phù hợp với các lý thuyết đi trước và đưa ra một số bàn luận, hàm ý chính sách đối
với vấn đề nghiên cứu.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: phân tích tác động của thâm hụt ngân sách đến tăng
trưởng kinh tế ở 10 quốc gia đang phát triển ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
trong mô hình tăng trưởng nội sinh đa biến.
Phạm vi nghiên cứu: 10 quốc gia đang phát triển ở Châu Á – Thái Bình
Dương trong giai đoạn 1999 – 2014.
5. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Về mặt khoa học:
Khẳng định tác động của thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng kinh tế, luận
văn đưa ra quan điểm chứng minh thực nghiệm về ảnh hưởng của thâm hụt ngân


sách đến tăng trưởng kinh tế của nhóm 10 nước đang phát triển ở Châu Á – Thái
Bình dương trong giai đoạn nghiên cứu. Đồng thời so sánh, đánh giá sự khác biệt về
đặc điểm riêng biệt của Việt Nam so với các quốc gia còn lại trong mẫu nghiên cứu.
- Về mặt thực tiễn:
+ Bài nghiên cứu đưa ra các bàn luận và hàm ý chính sách để đề xuất các giải

khoản mục thu, chi ngân sách có sự khác biệt giữa mỗi quốc gia.
Đối với Việt Nam, ngân sách chính phủ (hay ngân sách nhà nước) bao gồm
ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương (theo Luật Ngân sách nhà nước,
2002). Thâm hụt ngân sách chính phủ là thâm hụt ngân sách của Trung ương và
được định nghĩa là chênh lệch giữa tổng số chi ngân sách trung ương và tổng số thu
ngân sách trung ương trong năm ngân sách.
Trên phương diện quốc tế, Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) đã ban hành Cẩm nang
Thống kê tài chính Chính phủ (GFS) trong đó khái niệm thu và chi ngân sách được
khái quát như sau:
Thu ngân sách là các khoản thu vào quỹ ngân sách mà không kèm theo,
không làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả trực tiếp cho các đối tượng có nghĩa vụ phải
nộp ngân sách. Thu ngân sách chính phủ bao gồm: các khoản thu thuế, phí và các
khoản thu khác (kể cả viện trợ không hoàn lại), không bao gồm các khoản vay trong
và ngoài nước. Trên phương diện khác, thu ngân sách nhà nước là những khoản thu
mang tính chất cưỡng bức hay là trách nhiệm của mọi thành phần kinh tế đối với
chính phủ.


Chi ngân sách là các khoản chi ra từ ngân sách không làm phát sinh nghĩa vụ
phải bồi hoàn trực tiếp đối với các đối tượng thụ hưởng ngân sách, đó chính là toàn
bộ khoản thực chi ngân sách trong một năm tài khóa. Chi ngân sách chính phủ bao
gồm chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, chi chuyển nhượng, chi trả lãi vay
nhưng không bao gồm chi trả nợ gốc và các khoản chi khác.
Thâm hụt ngân sách (hay bội chi ngân sách) được xác định bằng chênh lệch
giữa chi ngân sách và thu ngân sách.
1.1.2. Nguyên nhân
Nguyên nhân của tình trạng thâm hụt ngân sách là các thay đổi về lượng và
cách thức tính toán trong thu và chi ngân sách. Bất kỳ một thay đổi nào về số lượng
(tuyệt đối) hay kỹ thuật phân chia các hạn mục thu, chi ngân sách đều ảnh hưởng
đến mức độ thâm hụt ngân sách. Đến nay các nguyên nhân của thâm hụt ngân sách

có nhiệm vụ ổn định nền kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội. Do đó mà thu và chi
ngân sách chính phủ là một trong những công cụ chính sách quan trọng mà chính
phủ sử dụng để tác động vào nền kinh tế trong từng giai đoạn phát triển khác nhau.
Ví dụ khi sản lượng của nền kinh tế đang ở mức thấp dưới sản lượng tiềm năng
(tình trạng không toàn dụng nguồn lực kinh tế), chính phủ có thể tăng mức chi ngân
sách, chấp nhận gia tăng thâm hụt để tăng tổng cầu, qua đó thúc đẩy sản lượng gia
tăng. Đa số các quốc gia trên thế giới đều đối mặt với tình trạng thâm hụt ngân sách
(hay bội chi ngân sách). Các nước đang phát triển là các quốc gia có mức độ thâm
hụt tương đối lớn do nhu cầu về đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội.
Trong một số giai đoạn, mặc dù tăng trưởng kinh tế ở mức khá cao nhưng các nước
này vẫn chấp nhận một mức độ thâm hụt gia tăng qua các năm, thậm chí tốc độ gia
tăng cao hơn mức độ tăng trưởng kinh tế, để đảm bảo một sự tài trợ đầu tư phát
triển kinh tế xã hội lớn. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng này. Đối với
các nước phát triển, chi ngân sách lại được sử dụng như một công cụ điều tiết vĩ
mô, chống lại các ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế như đã trình bày ở nguyên nhân thứ
hai. Đây là lý do mà thâm hụt ngân sách tồn tại ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Thứ tư, các nguyên nhân bên ngoài như tình hình chính trị, thiên tai, dịch
bệnh. Các nguyên nhân bên ngoài này có thể tác động làm giảm các khoản thu ngân
sách hoặc gia tăng các nguồn chi tài trợ quân sự hay an sinh xã hội, qua đó gây ra


thâm hụt ngân sách chính phủ. Đối mặt với các nguyên nhân này, các chính phủ cần
có những dự báo và những phương pháp điều hành chính sách tài khóa linh hoạt
nhằm đảm bảo thâm hụt không vượt quá giới hạn khi nền kinh tế chịu ảnh hưởng
của các nhân tố khách quan tiêu cực.
Thứ năm, do các yếu tố kỹ thuật trong cơ cấu thu và chi ngân sách. Việc
phân loại các khoản mục thu – chi, phương pháp cân đối, thời điểm ghi nhận,
phương pháp hạch toán,…cũng tạo nên sự thay đổi trong thâm hụt ngân sách. Trong
nhiều trường hợp, do những quy định thông thường hay bất thường có chủ ý của
chính phủ, việc ghi nhận và phân loại các khoản mục thu, chi ngân sách thay đổi

GFS mô tả rõ ràng và đầy đủ. Có một vấn đề cần lưu ý là chi trả lãi vay ngân sách
chính phủ được xếp vào chi ngân sách vì đây là hệ quả của việc điều hành chính
sách ngân sách thâm hụt. Đối với các khoản chi trả nợ gốc không đưa vào chi ngân
sách, vấn đề này phản ánh đúng bản chất thời điểm của việc ghi nhận cán cân ngân
sách, do việc chi trả các khoản nợ gốc được thực hiện trong dài hạn có sự khác biệt
về mức độ chi trả trong tương lai.
Về cơ bản, cách tính toán thâm hụt ngân sách của Việt Nam hiện nay vẫn
dựa chủ yếu vào định nghĩa về thâm hụt ngân sách tổng thể của GFS. Tuy nhiên
khác biệt lớn nhất lại nằm ở việc Việt Nam lại tính các khoản chi trả nợ gốc vào chi
ngân sách chính phủ, trong khi lại không tính toán một số các khoản chi khác vào
cân đối ngân sách như chi từ nguồn trái phiếu chính phủ. Điều này khiến cho mức
độ thâm hụt ngân sách của Việt Nam trên thực tế chiếm tỷ lệ khá lớn trên tổng sản
phẩm quốc nội, nếu so với một quốc gia tương đương về điều kiện và áp dụng đúng
cách tính thâm hụt tổng thể của GFS.
b) Thâm hụt ngân sách thường xuyên (Current deficit)
Thâm hụt ngân sách thường xuyên xảy ra khi các khoản chi thường xuyên
của chính phủ lớn hơn các khoảng thu thường xuyên. “Cán cân thường xuyên” là
thước đo phản ánh sự tích lũy của chính phủ cho nhu cầu đầu tư phát triển của quốc
gia. Nếu một quốc gia có thặng dư ngân sách thường xuyên thì có nghĩa là quốc gia
đó đang có nguồn tiết kiệm để sử dụng cho đầu tư phát triển. Theo thông lệ quốc tế,


thu thường xuyên được hiểu là các khoản thu ngân sách từ thuế, phí, lệ phí thường
niên, không mang tính chất “một lần”. Theo đó các khoản thu từ bán tài sản và tài
nguyên không được tính vào các khoản thu thường xuyên. Chi ngân sách thường
xuyên bao gồm tất cả các khoản chi của chính phủ (kể cả chi trả lãi vay) trừ chi đầu
tư phát triển và chi viện trợ. Khái niệm thâm hụt (hay thặng dư) ngân sách thường
xuyên rất có ý nghĩa trong việc phân tích tính bền vững của chính sách tài khóa.
Một quốc gia đối mặt với thâm hụt ngân sách thường xuyên dễ vấp phải các nguy
cơ bất ổn về tài chính. Tuy nhiên việc giảm thâm hụt ngân sách thường xuyên lại

1.1.4. Các phương pháp xử lý thâm hụt ngân sách
Để tài trợ thâm hụt ngân sách, thông thường chính phủ có thể thực hiện một
trong những phương pháp hoặc kết hợp nhóm các phương pháp huy động các nguồn
lực.
Thứ nhất, phát hành tiền để tài trợ thâm hụt. Để bù đắp thâm hụt ngân sách,
một số quốc gia đã lựa chọn giải pháp phát hành thêm tiền mặt vào lưu thông. Đây
là biện pháp giúp chính phủ có thể huy động kịp thời nguồn vốn để cân đối ngân
sách mà không làm gia tăng nghĩa vụ nợ. Tuy nhiên, việc phát hành tiền của chính
phủ cũng đồng nghĩa với việc làm giảm giá trị của đồng nội tệ đang được lưu thông.
Một cách gián tiếp, chính phủ đã vô tình đánh một loại thuế lên người dân đang
nắm giữ tiền, còn gọi là “thuế lạm phát”. Trong trường hợp này, lạm phát có thể
tăng cao trong nền kinh tế, vì thế hầu như các quốc gia trên thế giới ít khi sử dụng
biện pháp phát hành tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách do có thể dẫn đến nguy cơ
lạm phát cao, gây bất ổn cho nền kinh tế.
Thứ hai, chính phủ có thể huy động các nguồn lực từ bên ngoài để tài trợ cho
cán cân ngân sách mất cân bằng, mà cụ thể là vay nợ. Đây là giải pháp được các
quốc gia trên thế giới ưu tiên sử dụng. Có hai hình thức vay nợ được sử dụng là vay
nợ nước ngoài và vay nợ trong nước.
- Vay nợ nước ngoài là hình thức vay nợ mà chính phủ có thể thực hiện bằng
cách phát hành trái phiếu chính phủ trên thị trường tài chính quốc tế hoặc thu hút
các nguồn vốn vay viện trợ phát triển chính thức (ODA). Việc sử dụng một phần
vốn vay nước ngoài để tài trợ thâm hụt ngân sách có thể làm giảm bớt căng thẳng
trên thị trường tín dụng nội địa, qua đó hạn chế được tình trạng chèn lấn hay lấn át


đầu tư của khu vực tư nhân. Tuy nhiên, vay nợ và huy động các nguồn vốn từ quốc
tế phải chịu những ràng buộc nhất định. Những ràng buộc này liên quan đến điều
kiện của chủ thể vay nợ, sự tín nhiệm của quốc tế, rủi ro tỷ giá và lãi suất (nếu lãi
suất vay theo lãi suất thả nổi). Bên cạnh đó, nếu sử dụng những khoản vay không
hiệu quả, nền kinh tế phải đối mặt với áp lực trả nợ trong tương lai, trong khi cơ sở

chính phủ, mỗi phương pháp đều có ưu và nhược điểm riêng biệt, tuy nhiên điểm
chung của các phương pháp tài trợ này là đều có khả năng gây ra các bất ổn nhất
định cho nền kinh tế. Theo thứ tự ưu tiên, các quốc gia khi muốn tài trợ cho sự mất
cân bằng cán cân ngân sách có thể sử dụng các phương thức là vay nợ nước ngoài,
vay nợ trong nước, phát hành tiền mặt và cuối cùng là vay nợ từ dự trữ ngoại hối
của quốc gia.
1.2. Lý thuyết về tăng trƣởng kinh tế
Quy mô của một nền kinh tế thể hiện bằng tổng sản phẩm quốc nội (Gross
Domestic Products - GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc gia (Gross National Products
- GNP), hoặc tổng sản phẩm bình quân đầu người hoặc thu nhập bình quân đầu
người (Per Capita Income - PCI). Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hay tổng sản sản
phẩm trong nước là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng
được sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời gian nhất định
(thường là một năm tài khóa). Tổng sản phẩm quốc gia (GNP) là giá trị tính bằng
tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi công dân một nước
trong một thời gian nhất định (thường là một năm). Tổng sản phẩm quốc gia bằng
tổng sản phẩm quốc nội cộng với thu nhập ròng.
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP hoặc GNP hoặc thu nhập bình
quân đầu người trong một thời gian nhất định. Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thay
đổi về lượng của nền kinh tế. Hay nói cách khác, tăng trưởng là kết quả của việc sử
dụng nguồn lực kinh tế của quốc gia để tạo ra giá trị thặng dư của hàng hóa và dịch
vụ.
Sau khi nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển lẫn các
nước đang phát triển, những nhà kinh tế học đã phát hiện ra rằng động lực của phát
triển kinh tế phải được xây dựng trên bốn trụ cột, hay bốn nhân tố của tăng trưởng


kinh tế là nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, vốn hiện kim và công nghệ. Bốn nhân
tố này khác nhau ở mỗi quốc gia và cách phối hợp giữa chúng cũng khác nhau đưa
đến kết quả tương ứng.

hụt hôm nay hàm ý một sự gia tăng thuế trong tương lai, và họ quyết định gia tăng
tiết kiệm trong hiện tại để trung hoà thuế phải trả trong tương lai. Tuy nhiên vài chủ
thể kinh tế có thể bị ảo giác tài khóa hoặc đơn giản là không bị ảnh hưởng gì từ thuế
suất cao hơn trong tương lai. Bernhein (1989) giới thiệu một kết luận vắn tắt về tác
động của thâm hụt dựa trên cả 3 trường phái tương đương nhau là Tân cổ điển,
Keynesian và Ricardian. Theo trường phái Tân cổ điển, các cá thể đang kế hoạch
hóa chi tiêu của họ dựa theo vòng đời. Bằng cách chuyển gánh nặng thuế cho thế hệ
tương lai, thâm hụt ngân sách gia tăng tiêu dùng trong hiện tại. Hơn nữa bằng cách
giả định toàn dụng nguồn lực làm tăng tiêu dùng gợi ý cho một sự giảm tiết kiệm và
lãi suất sẽ tăng để đem đến sự cân bằng trong thị trường vốn. Lãi suất cao hơn, sẽ
thể hiện kết quả dần vào việc đầu tư tư nhân giảm. Trong khi đó trường phái
Keynesian đưa ra luận cứ ủng hộ từ hiệu ứng số đông bằng cách sử dụng các tài liệu
nhằm mở rộng nghiên cứu tác động của thâm hụt ngân sách. Các Keynesian tin rằng
thâm hụt ngân sách là kết quả của sự gia tăng sản xuất nội địa, khiến cho các nhà
đầu tư tư nhân lạc quan về tình hình kinh tế trong tương lai và gia tăng đầu tư của
họ nhiều hơn. Tác động này ngược với tác động chèn ép đầu tư tư nhân, hay còn gọi
là tác động lan tỏa đầu tư (crowding-in).
Các nhà kinh tế theo trường phái Keynesian truyền thống cho rằng có thể có
sự khác biệt từ các luận điểm Tân cổ điển vì hai lý do chính. Đầu tiên các nguồn lực
có thể không được tận dụng hết. Thứ hai, nó thừa nhận sự tồn tại của một số lượng
lớn các thanh khoản cá nhân bị đóng băng. Giả định thứ hai đảm bảo tổng cầu rất dễ
thay đổi trong điều kiện thu nhập sẵn có. Do đó, nhiều nhà kinh tế theo trường phái
Keynes truyền thống cho rằng thâm hụt có thể không lấn hất đầu tư tư nhân.
Theo mô hình Tân cổ điển, ngay cả khi thâm hụt ngân sách có một tác động
ngược đến tiết kiệm quốc gia, nó vẫn không làm giảm sản lượng một cách lâu dài,
vì trong những mô hình này, tăng trưởng kinh tế dài hạn bị dẫn dắt bởi các tiến bộ
công nghệ, biến số được giả định là ngoại sinh. Mức tiết kiệm quốc gia thấp sẽ là
kết quả của một tỷ suất vốn trên lao động thấp. cái giá phải trả cho sự sụt giảm chi






Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status