THÂM HỤT NGÂN SÁCH VÀ TÁC ĐỘNG CỦA THÂM
HỤT NGÂN SÁCH VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
I.THÂM HỤT NGÂN SÁCH
1.
.Khái niệm thâm hụt NSNN:
- Thâm hụt ngân sách nhà nước hay còn gọi là bội chi NSNN là tình trạng
khi tổng chi tiêu của ngân sách nhà nước vượt quá các khoản thu “không
mang tính hoàn trả” của ngân sách nhà nước.
- Để phản ánh mức độ thâm hụt ngân sách người ta thường sử dụng chỉ
tiêu tỉ lệ thâm hụt so với GDP hoặc so với tổng số thu trong ngân sách
nhà nước.Thâm hụt ngân sách nhà nước có thể ảnh hưởng tích cực hoặc
tiêu cực đến nền kinh tế một đất nước tùy theo tỉ lệ thâm hụt và thời gian
thâm hụt. (theo luật ngân sách nhà nước năm 2002)
-
-
*Phân loại: Tài chính công hiện đại phân loại thâm hụt ngân sách thành
hai loại: thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ.
-Thâm hụt ngân sách cơ cấu : là các khoản thâm hụt được quyết định bởi
những chính sách tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp
bảo hiểm xã hội hay quy mô chi tiêu cho giáo dục, quốc phòng,...
-Thâm hụt ngân sách chu kỳ: là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng
của chu kỳ kinh tế, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu
nhập quốc dân. Ví dụ khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ
dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi chi ngân sách cho
cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên.
Giá trị tính ra tiền của thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kì được tính toán
với GDP
200
1
25.885
4,67%
200
2
25.597
4,96%
200
3
29.936
4,9%
200
4
34.703
4,85%
9
142.355
6,9%
201
0
119.700
6,2%
Đến năm 2011, giảm xuống còn 5,5%. tính đến 15-9-2012, Bội chi ngân sách trong
9 tháng đầu năm đã chiếm trên 6% GDP. Con số thâm hụt ngân sách của Việt Nam
thuộc diện cao nhất so với các nước trong khu vực thể hiện rõ trong biểu đồ dưới
đây:
3. Nguyên nhân dẫn đến thâm hụt NSNN.
-
-
Nguyên nhân khách quan:
Diễn biến bất thường của chu kì kinh doanh, hiệu quả thấp của nền
sản xuất xã hội, sự kém hiệu quả của các mối quan hệ kinh tế với
bên ngoài
Địch họa, thiên tai, tình hình bất ổn chính trị
Nguyên nhân chủ quan:
Quản lí và điều hành NS bất hợp lí
trạng đầu tư dàn trải gây lãng phí ở các địa phương vẫn chưa được khắc phục triệt
để, tiến độ thi công những dự án trọng điểm quốc gia còn chậm và thiếu hiệu quả,
đã gây lãng phí nguồn ngân sách nhà nước và kiềm hãm sự phát triển của các vùng
miền, là nguyên nhân chính dẫn đến thâm hụt ngân sách nhà nước.
Bên cạnh đó, nền hành chính công - dịch vụ công của chúng ta quá kém hiệu quả.
Chính sự kém hiệu quả này làm cho tình trạng thâm hụt ngân sách càng trở nên
trầm trọng.
3/ Nhà nước huy động vốn để kích cầu
Chính phủ kích cầu qua 3 nguồn tài trợ chính là: Phát hành trái phiếu Chính phủ,
miễn giảm thuế và sử dụng Quỹ dự trữ nhà nước. Sử dụng gói giải pháp kích cầu
một mặt làm kích thích tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, sẽ làm mức thâm
hụt ngân sách tăng rất cao khoảng 8-12%GDP
4/ Chưa chú trọng mối quan hệ giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên
Đây là một trong những nguyên nhân gây căng thẳng về ngân sách áp lực bội chi
ngân sách (nhất là ngân sách các địa phương). Chúng ta có thể thấy, thông qua cơ
chế phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách và cơ chế bổ sung
từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới. Ngân sách địa phương được phân
cấp nguồn thu ứng với các nhiệm vụ chi cụ thể và được xác định cụ thể trong dự
toán ngân sách hằng năm. Vì vậy, khi các địa phương vay vốn để đầu tư sẽ đòi hỏi
bảo đảm nguồn chi thường xuyên để bố trí cho việc vận hành các công trình khi
hoàn thành và đi vào hoạt động cũng như chi phí duy tu, bảo dưỡng các công trình,
làm giảm hiệu quả đầu tư. Chính điều đó luôn tạo sự căng thẳng về ngân sách.Để
có nguồn kinh phí hoặc phải đi vay để duy trì hoạt động hoặc yêu cầu cấp trên bổ
sung ngân sách, cả hai trường hợp đều tạo áp lực bội chi NSNN.
5/ Quy mô chi tiêu của chính phủ quá lớn.
Tăng chi tiêu của chính phủ một mặt giúp nền kinh tế tăng trưởng tạm thời trong
ngắn hạn, nhưng lại tạo ra những nguy cơ bất ổn lâu dài như lạm phát và rủi ro tài
chính do sự thiếu hiệu quả của các khoản chi tiêu công và thiếu cơ chế giám sát
sẽ không có hậu quả lạm phát. Tuy nhiên, ở các nước đang
phát triển, do thị trường vốn bị hạn chế nên việc phát hành
trái phiếu chính phủ nhằm bù đắp cho thiếu hụt ngân sách
nhà nước là rất khó thực hiện. Ở các nước có nền kinh tế lớn
như ở Mỹ, thị trường vốn phát triển, vì vậy một lượng trái
phiếu lớn có thể được bán ra và nhu cầu trang trải cho thâm
hụt ngân sách nhà nước được thực hiện từ nguồn vốn vay
của chính phủ. Nhưng nếu chính phủ cứ tiếp tục phát hành
trái phiếu ra thị trường, cầu về vốn vay sẽ tăng, do đó, lãi
suất sẽ tăng cao. Để hạn chế việc tăng lãi suất thị trường,
Ngân hàng Trung ương sẽ phải mua vào các trái phiếu đó,
điều này lại làm cho cung tiền tăng.
Phát hành tiền trực tiếp làm tăng cơ số tiền tệ, do đó làm
tăng cung ứng tiền, đẩy tổng cầu lên cao và làm tăng tỷ lệ
lạm phát.
Thực tế ở Việt Nam trong 2 năm gần đây, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam đã khá cao
so với các nước trên thế giới. Lạm phát cao so với thế giới của Việt Nam không
chỉ diễn ra trong năm 2011 mà còn cả ở những năm trước đó. Theo số liệu của
IMF (2011a), Việt Nam có tỷ lệ lạm phát trung bình của giai đoạn 20012005 (5,35%) đứng thứ 67 thế giới và của giai đoạn 2006-2010 (11,5%) đứng
thứ 24 thế giới. Năm 2010, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam là 11,75%, trong khi đó tỷ
lệ lạm phát của Trung Quốc là 4,7%, của Malaysia là 2,08%, của Thái Lan là
3,05%. Tỷ lệ lạm phát năm 2011 của Việt Nam tiếp tục được dự báo cao hơn
đáng kể so với nhiều nước trong khu vực (IMF, 2011)
Năm
Tốc độ
200
6
8,23
200
7
8,46
2008
200
9
5,32
2010
0,6
0,8
4
3
9,5
8,4
6,6
cho rằng chính sách tiền tệ nới lỏng quá mức chính là nguyên nhân gây ra áp
lực lạm phát của Việt Nam những năm gần đây
2.Tác động thâm hụt ngân sách tới lãi suất
Thâm hụt làm cho cầu của quỹ cho vay tăng làm tăng lãi suất. Sau
nữa, thâm hụt sẽ tác động đến tâm lí công chúng về gia tăng lạm phát
và do vậy sẽ gây áp lực tăng lãi suất.
Trên một giác độ khác, thông thường khi bội chi ngân sách tăng, chính
phủ thường phát hành trái phiếu. Lượng cung trái phiếu trên thị
trường tăng lên làm cho giá trái phiếu có xu hướng giảm, lãi suất thị
trường vì vậy mà tăng lên. Hơn nữa, tài sản có của các ngân hàng
thương mại cũng gia tăng ở khoản mục trái phiếu chính phủ, dự trữ
vượt quá giảm, lãi suất cũng sẽ tăng
Việt Nam hiện nay, có những lập luận cho rằng thâm hụt ngân sách kéo dài
những năm gần đây là nguyên nhân góp phần đẩy lãi suất trên thị trường lên.
Thực tế với tình trạng thâm hụt ngân sách kéo dài thì việc “cạnh tranh” về vốn
giữa khu vực Nhà nước và tư nhân ở Việt Nam thời gian qua là hoàn toàn có thể
xảy ra.
Đó là chưa tính đến yếu tố trong những năm gần đây bên cạnh nguồn vốn huy
động để bù đắp thâm hụt ngân sách, Chính phủ còn thực hiện vay nợ qua phát hành
trái phiếu để đầu tư cho một số công trình giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục....
Trên phương diện lý thuyết thì việc mở rộng chi tiêu và đầu tư của Chính phủ có
thể gây ra hiệu ứng “thế chỗ” cho vốn tư nhân hay nói cách khác thay vì sở hữu cổ
phiếu, trái phiếu công ty, người dân chuyển sang sở hữu trái phiếu Chính phủ. Điều
này ít nhiều gây áp lực đến lãi suất
hàng nhập khẩu của bản thân nước đó. Như vậy, nếu như giá xuất khẩu tăng
lên một cách tương đối so với hàng nhập khẩu thì cán cân thương mại sẽ
được tăng cường theo hướng tích cực và ngược lại (nếu như khối lượng hàng
hóa không đổi).
Như ta đã phân tích ở trên, tình trạng thâm hụt ngân sách sẽ làm cho lãi suất
thị trường tăng. Lãi suất tăng làm cho giá trị đồng nội tệ tăng giá, giá hàng
hóa trong nước theo đó cũng tăng làm giảm lượng hàng xuất khẩu. Trong
khi tương ứng, hàng hóa của đất nước khác sẽ rẻ tương đối so với nước đó,
dẫn tới tăng hàng nhập khẩu. Vì vậy, thâm hụt ngân sách sẽ gây ra tình trạng
nhập siêu: Nhập vào lớn hơn xuất ra, việc sử dụng hàng hóa sản xuất trong
nước bị hạn chế, sản xuất gặp nhiều khó khăn tác động không ít tới sự tăng
trưởng kinh tế.
Việt Nam:
Trong những năm gần đây, thâm hụt thương mại của Việt Nam đã trở thành
một vấn đề thách thức đối với công tác quản lý vĩ mô.
Có thể thấy nhập siêu không phải là vấn đề mới đối với Việt Nam
trong khoảng 20 năm qua. Suốt giai đoạn này, chỉ có duy nhất một năm Việt
Nam có được thặng dư thương mại, đó là năm 1992. Hầu như cán
cân thương mại luôn ở trạng thái thâm hụt, có chăng chỉ khác nhau về
mức độ thâm hụt. So với nhiều nước trong khu vực thì tỷ lệ giữa mức
thâm hụt thương mại so với tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam những
năm gần đây là khá cao.
Là một quốc gia đang trong quá trình công nghiệp hoá, việc cán cân thương
mại luôn ở trạng thái nhập siêu trong thời kỳ đầu có thể xem là cần thiết.
Tuy nhiên, nhập siêu sẽ trở thành vấn đề vĩ mô đáng quan ngại nếu như
kéo dài quá lâu và liên tục tăng nhanh. Mất cân đối bên ngoài sẽ không thể
tránh khỏi khi mức nhập siêu tăng quá cao và không được bù đắp bởi các
phát.
Ngược lại,khi nhu cầu của nền kinh tế quá mạnh (sản lượng thực tế cao hơn mức
sản lượng tiềm năng ) thì chính phủ không nên tài trợ số thâm hụt của mình bằng
cách tăng nhanh lượng tiền cơ sở ,vì như vậy sẽ càng kích tổng cầu lên cao và đẩy
sản lượng thực tế vượt xa mức sản lượng tiềm năng, hậu quả là làm tăng lạm phát.
Ưu điểm:
Nhu cầu bù tiền để bù đắp ngân sách nhà nước được đáp ứng một cách
nhanh chóng, không phải trả lãi, không phải gánh thêm các gánh nặng nợ
nần.
- Nhược điểm:
Tài trợ thâm hụt ngân sách theo phương pháp này thì xu hướng sẽ tạo ra một
tổng cầu quá lớn trong nền kinh tế và làm cho lạm phát tăng nhanh .
2. Vay nợ
a,Vay nợ trong nước
Vay nợ trong nước được Chính phủ thực hiện dưới hình thức phát hành công trái,
trái phiếu. Công trái, trái phiếu là những chứng chỉ ghi nhận nợ của Nhà nước, là
một loại chứng khoán hay trái khoán do nhà nước phát hành để vay dân cư, các tổ
chức kinh tế- xã hội và các ngân hàng.
-
Ưu điểm:
nguồn vốn phát triển chính thức ODA.
Vay nợ nước ngoài có thể thực hiện dưới các hình thức: phát hành trái phiếu bằng
ngoaị tệ mạnh ra nước ngoài, vay bằng hình thức tín dụng...
Ưu điểm:
Là một biện pháp tài trợ ngân sách nhà nước hữu hiệu, có thể bù đắp được
các khoản thâm hụt mà lại không gây sức ép lạm phát cho nền kinh tế.
Là một nguồn vốn quan trọng bổ sung cho nguồn vốn thiếu hụt trong nước,
góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
- Nhược điểm:
Việc vay nợ nước ngoài sẽ khiến cho gánh nặng nợ nần, nghĩa vụ trả nợ tăng
lên, giảm khả năng chi tiêu của chính phủ.
Dễ khiến cho nền kinh tế trở nên bị phụ thuộc vào nước ngoài. Thậm chí,
nhiều khoản vay, khoản viện trợ còn đòi hỏi kèm theo đó là nhiều các điều
khoản về chính trị, quân sự, kinh tế khiến cho các nước đi vay bị phụ thuộc
nhiều.
3. Tăng thuế:
Nhà kinh tế học Mỹ-Laffer (thập kỷ 70 ) đã đồ thị hoá hai tác động trái ngược
nhau của việc tăng thuế thu nhập tuỳ theo mức thuế suất áp dụng.
Có một mức thuế suất tối ưu (t*) cho phép nhà nước đạt được số thu ngân
4.Cắt giảm chi tiêu nhằm giảm thâm hụt ngân sách
Đây là một giải pháp tuy mang tính tình thế, nhưng vô cùng quan trọng với
mỗi quốc gia khi xảy ra bội chi NSNN và xuất hiện lạm phát. Triệt để tiết kiệm các
khoản đầu tư công có nghĩa là chỉ đầu tư vào những dự án mang tính chủ đạo, hiệu
quả nhằm tạo ra những đột phá cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt những dự
án chưa hoặc không hiệu quả thì phải cắt giảm, thậm chí không đầu tư. Mặt khác,
bên cạnh việc triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công, những khoản chi thường
xuyên của các cơ quan nhà nước cũng phải cắt giảm nếu những khoản chi này
không hiệu quả và chưa thực sự cần thiết.
Xét theo góc độ kinh tế học,cắt giảm chi tiêu với hy vọng giảm tổng chi
nhằm giảm mức thâm hụt ngân sách nhà nước là một biện pháp ‘tiêu cực’.
Chính phủ sẽ cắt giảm chi thường xuyên,bao gồm cả chi lương ,chi mua sắm
trang thiết bị cho bộ máy quản lý hành chính,thậm chí sẽ trì hoãn hoặc cắt giảm
đầu tư phát triển.
5.Dự trữ ngoại hối:
Quỹ dự trữ ngoại tệ là lượng ngoại tệ mà ngân hàng TW hoặc cơ quan hữu trách
tiền tệ của một quốc gia hoặc một lãnh thổ nắm giữ dưới dạng ngoại tệ nhằm thanh
toán hoặc hỗ trợ đồng tiền quốc gia. Chính phủ có thể sử dụng việc giảm dự trữ
ngoại tệ để tài trợ thâm hụt ngân sách.
-
Ưu điểm:
Dự trữ hợp lý có thể giúp quốc gia tránh được khủng hoảng
Nhược điểm:
Tiềm ẩn nhiều rủi ro, cần hạn chế vì nếu áp dụng không tốt thì khu
vực tư nhân cho rằng nguồn dự trữ ngoại tệ của quốc gia hết sức
mỏng mảnh, sự mất niềm tin vào khả năng mà chính phủ có thể