Tác động của đầu tư tư nhân đến tăng trưởng kinh tế - Pdf 52

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
----------

VÕ TRẦN HUY

TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TƯ NHÂN ĐẾN
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh - Năm 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
----------

VÕ TRẦN HUY

TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TƯ NHÂN ĐẾN
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 8310105

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN TIẾN KHAI

TP. Hồ Chí Minh - Năm 2018

1.3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu ...................................................... 2
1.4.

Cấu trúc luận văn ................................................................................................. 3

CHƢƠNG 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN .. 4
2.1.

Khái niệm .............................................................................................................. 4

2.1.1.

Đầu tƣ ............................................................................................................. 4

2.1.2.

Đầu tƣ tƣ nhân ................................................................................................ 5

2.1.3.

Đầu tƣ công .................................................................................................... 5

2.1.4.

Tăng trƣởng kinh tế ........................................................................................ 6

2.2.

Tổng quan lý thuyết .............................................................................................. 8


4.2. Đặc điểm kinh tế các tỉnh, thành trong giai đoạn 2008-2016 ................................ 37
4.3. Kết quả ƣớc lƣợng mô hình thực nghiệm - Phƣơng pháp Pooled OLS ................. 40
4.4. Kết quả ƣớc lƣợng mô hình thực nghiệm - Phƣơng pháp REM .............................. 41
4.5. Kết quả ƣớc lƣợng mô hình thực nghiệm - Phƣơng pháp FEM .............................. 42
4.6. Kết quả lựa chọn mô hình và độ trễ ........................................................................ 43
CHƢƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ......................................................... 46
5.1. Kết luận................................................................................................................... 46
5.2. Khuyến nghị các chính sách.................................................................................... 47
5.3. Hạn chế và hƣớng nghiên cứu tiếp theo ................................................................. 49
5.3.1. Những hạn chế của đề tài ................................................................................. 49
5.3.2. Hƣớng nghiên cứu tiếp theo ............................................................................ 49
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC


DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 3.1 Sơ đồ quy trình nghiên cứu ................................................................. 24
Hình 4.1 Tăng trƣởng kinh tế và GDP ............................................................... 35
Hình 4.2 Tăng trƣởng kinh tế và các loại đầu tƣ ...................................................... 36
Hình 4.3 Cơ cấu đầu tƣ ...................................................................................... 37
Hình 4.4 Mô tả phần dƣ theo phƣơng pháp Pooled OLS................................... 41
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Cách tính và dấu kỳ vọng của các biến .............................................. 29
Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến số ................................................................ 38
Bảng 4.2 Kết quả ƣớc lƣợng - Phƣơng pháp Pooled OLS ................................... 40
Bảng 4.3 Kết quả ƣớc lƣợng - Phƣơng pháp REM .............................................. 41
Bảng 4.4 Kết quả ƣớc lƣợng - Phƣơng pháp FEM .............................................. 42
Bảng 4.5 Kết quả ƣớc lƣợng - Phƣơng pháp FEM với độ trễ 1........................... 43
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT



TÓM TẮT LUẬN VĂN
Mục tiêu chính của luận văn là phân tích ảnh hƣởng của vốn đầu tƣ tƣ nhân đến
tăng trƣởng kinh tế của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng. Nhằm đi đến mục
tiêu nghiên cứu trên, tác giả sẽ tìm hiểu những khái niệm, lý thuyết và nghiên cứu thực
nghiệm có liên quan để tiến hành xây dựng khung phân tích, mô hình nghiên cứu. Về
các dữ liệu đƣợc sử dụng trong luận văn sẽ đƣợc đƣợc tác giả nghiên cứu, tổng hợp từ
Niên giám Thống kê của các địa phƣơng Việt Nam từ năm 2008 đến năm 2016. Bằng
cách sử dụng phƣơng pháp hồi quy đa biến đối với dữ liệu bảng. Cuối cùng kết quả
nghiên cứu của luận văn đã chỉ ra đầu tƣ tƣ nhân có tác động tích cực đến tăng trƣởng
kinh tế của các địa phƣơng. Ngoài ra, lực lƣợng lao động đang làm việc, độ mở thƣơng
mại, khoảng cách với GDP của cả nƣớc cũng có tác động tích cực đến tăng trƣởng
kinh tế nhƣng chỉ số giá tiêu dùng lại có tác động tiêu cực đến tăng trƣởng kinh tế.


1

CHƢƠNG 1. GIỚI THIỆU
1.1. Đặt vấn đề
Xuất phát điểm từ chỗ bị kìm hãm, không cho phát triển ở giai đoạn trƣớc
năm 2000 nhƣng cho đến nay, kinh tế tƣ nhân đã ngày càng chứng tỏ tầm quan
trọng đối với kinh tế Việt Nam và là một động lực quan trọng để thúc đẩy tăng
trƣởng kinh tế. Cụ thể theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ, đến năm 2016, khu
vực kinh tế tƣ nhân đã chiếm tới 38,6% GDP và đầu tƣ tƣ nhân trong nƣớc chiếm
39% tổng vốn đầu tƣ toàn xã hội. Trong giai đoạn 2005-2016 đã xảy ra cuộc
khủng hoảng kinh tế thế giới, nhờ vốn đầu tƣ tƣ nhân tăng trƣởng bình quân
12,3%/năm đã góp phần thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế bình quân tăng 6,2%/năm,
qua đó giúp nền kinh tế Việt Nam vƣợt qua giai đoạn khó khăn. Bên cạnh đó số
lƣợng doanh nghiệp tƣ nhân thành lập mới năm 2016 đã gấp tới 19,8 lần năm

1.2. Mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu chính của luận văn là phân tích ảnh hƣởng của vốn đầu
tƣ tƣ nhân đến tăng trƣởng kinh tế của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng.
Do đó, luận văn này sẽ đi tìm đáp án khoa học cho câu hỏi nghiên cứu: vốn đầu tƣ
tƣ nhân có ảnh hƣởng đến tăng trƣởng kinh tế không?
1.3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu là ảnh hƣởng của đầu tƣ từ khu vực tƣ nhân trong
nƣớc Việt Nam đối với tăng trƣởng kinh tế của các địa phƣơng Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu là các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng của Việt
Nam do lãnh đạo các địa phƣơng rất coi trọng chỉ tiêu tăng trƣởng kinh tế địa
phƣơng của mình quản lý, qua đó đánh giá công tác chỉ đạo điều hành của mình
trong thời gian vừa qua. Thêm nữa là hiện nay, tác giả của luận văn cũng đang
công tác tại cơ quan quản lý kinh tế cấp tỉnh và muốn nghiên cứu số liệu cấp tỉnh
để từ đó tham mƣu cho lãnh đạo các quyết sách thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế thông
qua đầu tƣ tƣ nhân.
Thời gian của dữ liệu nghiên cứu đƣợc chọn từ năm 2008 đến năm 2016, vì
trong giai đoạn này có năm 2008 Việt Nam đã bị tác động bởi hai cú sốc lớn là cuộc
khủng hoảng giá nhiên liệu, giá lƣơng thực v.v… trên thế giới và cuộc khủng hoảng
địa ốc, cho vay dƣới chuẩn ở Mỹ. Bên cạnh đó, xuất phát từ thực tế là dữ liệu giai
đoạn 2008-2016 đã đƣợc Tổng cục Thống kê chỉ đạo các địa phƣơng tính toán theo


3

giá so sánh năm 2010 rất thuận tiện cho việc nghiên cứu, hạn chế đƣợc sai số vì
không cần phải quy đổi khi loại trừ yếu tố lạm phát.
1.4. Cấu trúc luận văn
Luận văn nghiên cứu tác động của vốn đầu tƣ tƣ nhân trong nƣớc đến tăng
trƣởng kinh tế của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng của Việt Nam có 5
chƣơng cụ thể:

Theo Luật Đầu tƣ (2014) đã định nghĩa: “Đầu tƣ là việc nhà đầu tƣ bỏ vốn
đầu tƣ (tiền và tài sản khác) để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc
thành lập tổ chức kinh tế; đầu tƣ góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức
kinh tế; đầu tƣ theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tƣ”.
Theo nghĩa rộng thì đầu tƣ có nghĩa là sự đánh đổi các nguồn lực hiện có để
tiến hành một số hoạt động nhƣ sản xuất, kinh doanh… Nguồn lực đã đánh đổi
thƣờng là tiền, tài nguyên thiên nhiên, tài sản, vật chất hoặc cũng có thể là sức lao
động; tất cả sự biểu hiện bằng tiền của những nguồn lực đã đánh đổi ở trên gọi là
vốn đầu tƣ. Để đến một thời điểm nào đó trong tƣơng lai thì các hoạt động đó sẽ
mang lại cho nhà đầu tƣ những kết quả nhất định nhƣ sự tăng thêm tài sản tài chính
(tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đƣờng xá, của cải vật chất khác), tài sản trí tuệ
(trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật,... của ngƣời dân). Những kết quả
của quá trình đầu tƣ đem lại sẽ góp phần làm tăng thêm năng lực sản xuất của toàn
xã hội và nó thƣờng lớn hơn tổng chi phí của các nguồn lực đã đánh đổi hay bỏ ra.
Còn theo nghĩa hẹp thì đầu tƣ là các hoạt động sử dụng những nguồn lực có sẵn
để có đƣợc những thành quả lớn hơn trong giai đoạn kế tiếp. Tóm lại, đầu tƣ là
các hoạt động sử dụng những nguồn lực hiện tại để tạo ra nhiều hơn tài sản vật chất,
nguồn lực và trí tuệ nhằm cải thiện mức sống của dân cƣ hay là duy trì khả năng
hoạt động của các tài sản và nguồn lực hiện có.
Bên cạnh đó, Sachs và Larrain (1993) cũng đã đƣa ra định nghĩa về đầu tƣ
nhƣ sau: “Đầu tƣ là phần sản lƣợng đƣợc tích luỹ để tăng năng lực sản xuất trong
thời kỳ sau của nền kinh tế”. Sản lƣợng trong định nghĩa bên trên bao gồm sản
lƣợng nội địa và phần sản lƣợng nhập từ quốc tế vào nền kinh tế.
Theo quan điểm kinh tế học thì đầu tƣ là việc làm gia tăng tƣ bản để nâng
cao năng lực sản xuất trong tƣơng lai; do đó, nó còn đƣợc gọi là quá trình hình
thành tƣ bản hoặc quá trình tích lũy tƣ bản. Và đầu tƣ thƣờng đƣợc phân loại thành


5


6

ích chung của đất nƣớc.
2.1.4. Tăng trƣởng kinh tế
Khái niệm tăng trƣởng kinh tế đƣợc hình thành có từ rất lâu và rất nhiều
trong kinh tế học, một số khái niệm tiêu biểu nhƣ:
“Tăng trƣởng kinh tế chỉ xảy ra nếu sản lƣợng tăng nhanh hơn dân số”
(North và Thomas, 1973). Chi tiết hơn, theo Nguyễn Trọng Hoài (2013): “Tăng
trƣởng kinh tế bao hàm ý nghĩa là tổng thu nhập trong nền kinh tế phải gia tăng
nhanh hơn tốc độ tăng dân số, tăng trƣởng kinh tế gắn liền với sự gia tăng mức
sống vật chất của ngƣời dân”. Theo Nafziger (2006) thì tăng trƣởng kinh tế đề cập
đến sự gia tăng về sản lƣợng quốc gia hoặc tổng sản lƣợng quốc gia bình quân đầu
ngƣời. Và có nghĩa là, một nƣớc đạt đƣợc tăng trƣởng kinh tế nếu nhƣ sản xuất
hàng hóa và dịch vụ trong nƣớc đó tăng lên và thu nhập trung bình cũng tăng.
Thƣớc đo phổ biến của tăng trƣởng kinh tế là tăng trƣởng tổng sản phẩm
quốc nội (GDP) hoặc tăng trƣởng GDP bình quân đầu ngƣời qua một giai đoạn (phổ
biến là một năm); tuy nhiên, những chỉ tiêu GNP, GNI, NNP và NNI cũng đƣợc các
nƣớc sử dụng để tính tăng trƣởng kinh tế.GDP là tổng giá trị các hàng hoá và dịch
vụ sau cùng đƣợc sản xuất ra trong phạm vi biên giới của một quốc gia trong một
năm. GDP đƣợc tính theo giá so sánh và giá hiện hành; trong đó, giá so sánh đƣợc
dùng để tính tốc độ tăng trƣởng kinh tế, giá hiện hành thƣờng đƣợc dùng để nghiên
cứu cơ cấu kinh tế, mối quan hệ giữa các ngành sản xuất, kết quả sản xuất với phần
huy động vào ngân sách. Và GDP đƣợc tính theo giá hiện hành gọi là GDP danh
nghĩa, GDP tính theo giá so sánh gọi là GDP thực.
Theo hệ Thống kê Liên hợp quốc thì có 3 phƣơng pháp tính GDP là phƣơng
pháp sản xuất (giá trị gia tăng), phƣơng pháp chi tiêu và phƣơng pháp thu nhập. Cụ thể:
(1) Phƣơng pháp giá trị gia tăng, GDP bằng tổng các giá trị gia tăng của các
ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trong nền kinh tế:
GDP = VA ngành nông nghiệp + VA ngành công nghiệp + VA ngành dịch vụ (1)
Triển khai vào thực tế hiện nay thì Tổng cục Thống kê Việt Nam tính GDP

của năm t, Yt-1 là GDP thực của năm t-1.
Tổng số sản phẩm thuộc phạm vi địa phƣơng (GRDP) là toàn bộ giá trị bằng
tiền của lƣợng sản phẩm vật chất và dịch vụ mới đƣợc sáng tạo ra trong một giai đoạn
(phổ biến là một năm) do tất cả các ngành kinh tế của địa phƣơng (tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ƣơng). Phƣơng pháp tính GDP và GRDP là giống nhau, chỉ khác
duy nhất là GDP tính ở phạm vi quốc gia còn GRDP tính ở phạm vi địa phƣơng.
Tuy nhiên, GDP cũng nhƣ GRDP có nhƣợc điểm là không phản ánh đầy đủ
và chính xác các hoạt động sản xuất do: có một vài sản phẩm không đƣợc mua bán
qua thị trƣờng dịch vụ; có những hoạt động không khai báo, kinh tế ngầm, buôn bán
nhỏ, lẻ; chất lƣợng hàng hóa không đƣợc phản ánh trong GDP, GRDP. Ngoài ra, giá
cả sinh hoạt giữa các địa phƣơng khác nhau nên việc so sánh GRDP giữa các địa
phƣơng cũng có nhƣợc điểm.
Luận văn này, vốn đầu tƣ tƣ nhân trong nƣớc đƣợc tác giả lấy từ Niên giám


8

thống kê của 36 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng. Và tác giả xem biến vốn
đầu tƣ tƣ nhân này là biến độc lập cần kiểm định.
2.2. Tổng quan lý thuyết
2.2.1. Lý thuyết về số nhân đầu tƣ
Nguồn gốc của lý thuyết mô hình số nhân đầu tƣ là trong tác phẩm “Lý
thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” năm 1936 của John Maynard
Keynes (1883-1946) lấy bối cảnh từ cuộc đại khủng hoảng kinh tế (1929-1933).
Keynes đã phát hiện ra việc tăng thêm vốn đầu tƣ sẽ dẫn đến sản lƣợng cũng tăng
thêm và từ đó đƣa ra khái niệm “số nhân đầu tƣ”. Gọi k là số nhân đầu tƣ và nó
phản ánh việc đầu tƣ tăng thêm thì sẽ dẫn đến sản lƣợng đầu ra cũng tăng thêm một
lƣợng bằng k lần lƣợng đầu tƣ tăng thêm. Cụ thể:
k = ∆Y/∆I


khối lƣợng tƣ bản cũng tăng lên rồi cũng làm đầu tƣ tăng theo. Theo lý thuyết này,
muốn sản xuất ra đƣợc một đơn vị cho trƣớc thì cần phải có một vốn đầu tƣ nhất
định bỏ ra. Tƣơng quan giữa sản lƣợng đầu ra và lƣợng vốn đầu tƣ đƣợc diễn đạt
bằng phƣơng trình x = K/Y (với x là gia tốc đầu tƣ, K: vốn đầu vào, Y: sản lƣợng
đầu ra); suy ra K = x * Y
Tóm lại, nếu gia tốc đầu tƣ là hằng số, lúc đó gia tăng sản lƣợng đầu ra sẽ
làm gia tăng nhu cầu về vốn đầu tƣ và ngƣợc lại. Hay là, lƣợng vốn đầu tƣ cao hoặc
thấp lệ thuộc vào nhu cầu về tƣ liệu sản xuất, lao động nhƣng nhu cầu này bị ràng
buộc bởi quy mô sản xuất. Nên một khi chính sách tài khóa đƣợc mở rộng sẽ thúc
đẩy lƣợng vốn đầu tƣ tăng làm cho tổng sản lƣợng tăng lên.
Mô hình Keynes với gia tốc đầu tƣ đƣợc viết lại nhƣ sau:
Y = (C+ G + NX)/(1-x)

(8)

với 0

Mô hình Harrod - Domar cho rằng tốc độ gia tăng của sản lƣợng đƣợc xác
định đồng thời bởi tỷ lệ tiết kiệm và hệ số ICOR. Nghĩa là trong điều kiện không có
chính phủ, tốc độ tăng trƣởng (của thu nhập quốc dân - GNP) sẽ tỷ lệ thuận với tỷ lệ
tiết kiệm và tỷ lệ nghịch với hệ số ICOR.
Và những quốc gia đang phát triển hiện cũng vận dụng rất rộng rãi mô hình
Harrod - Domar vào việc xây dựng các kịch bản tăng trƣởng kinh tế ngắn hạn, trung
hạn và trong việc tính toán lƣợng vốn đầu tƣ cần thiết cho quốc gia của mình vì tính
đơn giản của mô hình Harrod - Domar (số liệu ít, phƣơng trình ƣớc lƣợng ngắn
gọn). Và vì mô hình tăng trƣởng kinh tế tại những nƣớc này đa số dựa vào việc đầu
tƣ không theo chiều sâu nhằm tận dụng triệt để các tài nguyên thiên nhiên chƣa
đƣợc khai thác. Thế nhƣng mô hình này không thể nào giải quyết đƣợc một số vấn
đề khó khăn ảnh hƣởng đến sự phát triển ở các nƣớc này nhƣ tình hình chính trị
không ổn định, năng lực sản xuất thấp, quy mô nhỏ, tham nhũng tràn lan, v.v. Vì
vậy, khi vận dụng mô hình Harrod - Domar tại các nƣớc đang phát triển cần phải
lƣu ý một số điểm sau:
Một là khi trình độ phát triển của thế giới ngày càng cao, nguồn lực ngày
càng khan hiếm thì tốc độ tăng trƣởng kinh tế sẽ phải chịu sự ảnh hƣởng của rất


11

nhiều yếu tố chứ không phải chỉ là vốn đầu tƣ. Đúng nhƣ Solow (1994) đã nói về
mô hình Harrod-Domar: “Một nền kinh tế có thể thúc đẩy tốc độ tăng trƣởng công
nghiệp đơn thuần chỉ bằng cách tăng tỷ lệ đầu tƣ. Nhƣng một vấn đề nảy sinh là:
nếu có thể tăng trƣởng kinh tế dễ dàng nhƣ thế, vậy tại sao ngày càng có nhiều quốc
gia không đi theo con đƣờng tăng trƣởng nhanh đó? Ngay cả nƣớc giàu chắc đôi lúc
cũng muốn tận dụng khả năng tăng trƣởng thông qua tỷ lệ đầu tƣ. Dƣờng nhƣ có
điều gì đó sai lầm trong cách xem xét tăng trƣởng kinh tế dài hạn này”.
Hai là những nƣớc đang phát triển không có khả năng huy động vốn do thu

Dựa trên hàm Cobb - Douglas thì vốn đầu vào và lực lƣợng lao động sẽ hoán
chuyển linh hoạt cụ thể:
Y = AKαL(1-α)

(15)

với Y là sản lƣợng, K là vốn đầu tƣ, L là lao động và A là đại diện cho trình độ
khoa học công nghệ.
Sự phát triển của quốc gia, vùng lãnh thổ thông thƣờng đƣợc xem xét dựa
trên các khía cạnh: tính ổn định chính trị, tăng trƣởng kinh tế và công bằng xã hội;
đặc biệt, tăng trƣởng kinh tế đƣợc xem nhƣ điều kiện tiên quyết nhằm giải quyết
những khía cạnh còn lại của đất nƣớc. Ngoài ra, các nƣớc thuộc thế giới thứ hai và
thứ ba xem tăng trƣởng kinh tế nhƣ là nhiệm vụ bắt buộc hàng đầu để rút ngắn
khoảng cách về kinh tế so với các nƣớc phát triển.
Đặc điểm chính yếu của những mô hình tăng trƣởng tiên tiến trên thế giới đó
đều có ít nhất một hàm sản xuất. Nó trình bày sự liên hệ của quy mô lực lƣợng lao
động, trữ lƣợng vốn với GDP của một quốc gia hay vùng lãnh thổ nào đó. Và hàm
tổng sản lƣợng bên dƣới sẽ trình bày một cách chi tiết mối liên hệ. Với Y: tổng sản
lƣợng quốc gia, K: trữ lƣợng vốn quốc gia, L: lực lƣợng lao động thì:
Y = F (K, L)

(16)

Tăng trƣởng kinh tế có đƣợc dựa vào trữ lƣợng vốn tăng hoặc tăng lực lƣợng
lao động hoặc cả hai. Bốn phƣơng trình (16) đến (20) sẽ diễn tả sự gia tăng của K
và L; trong đó các phƣơng trình (17) đến (19) có liên hệ mật thiết, biểu hiện sự các
biến đổi K qua các giai đoạn khác nhau.
Thứ nhất, tiết kiệm của quốc gia hay vùng lãnh thổ:



bỏ lƣợng khấu hao (d.K). Bên cạnh đó, các hệ số d, s và n xem xét nhƣ là hằng số
cố định.
Giải pháp đột phá của Solow là thay thế hàm sản xuất có hệ số cố định bằng
hàm sản xuất tân cổ điển không những có tính linh hoạt hơn mà các yếu tố sản xuất
còn có thể thay thế cho nhau. Theo đó, hai yếu tố vốn trên sản lƣợng bình quân, vốn
trên lao động bình quân sẽ có sự biến đổi theo tình hình sản xuất, vốn đầu vào và
lao động của quốc gia. Mô hình Solow ban đầu đƣợc áp dụng để xem xét, đánh giá
các quốc gia công nghiệp phát triển và sau đó đã đƣợc triển khai phổ biến kể cả đối
với các nƣớc đang phát triển. Do đó, mô hình Solow đƣợc xem nhƣ là nền tảng cơ
bản của hầu hết những lý thuyết về tăng trƣởng kinh tế của những nƣớc đang phát
triển ngày nay.
Thay thế các giả định về những tỷ lệ yếu tố sản xuất cố định cứng nhắc trong
mô hình Harrod-Domar thì các tỷ lệ này có thể thay đổi linh hoạt tùy theo tình hình


14

thực tế để tạo ra sản lƣợng, đƣợc gọi là hàm sản xuất có hệ số biến đổi với các
đƣờng đẳng lƣợng có dạng đƣờng cong chứ không phải dạng L nhƣ mô hình
Harrod-Domar.
Những phƣơng trình cơ bản trong mô hình Solow
Cách đơn giản nhất để hiểu mô hình Solow là chúng ta biểu biễn những biến
trọng tâm dƣới dạng bình quân đầu ngƣời. Từ phƣơng trình (2.1) suy ra:
Y/L = F (K/L,1)

(22)

Gọi y = Y/L là GDP bình quân/lao động, k = K/L là vốn đầu tƣ bình quân/lao
động. Nhƣ vậy, phƣơng trình đầu tiên trong mô hình Solow có dạng:
y = f (k)

trong hàm sản xuất. Bên cạnh đó, mô hình Solow thể hiện tầm quan trọng của tốc


15

độ gia tăng dân số, giữa vốn đầu tƣ và lao động có sự chuyển đổi cho nhau trong
suốt giai đoạn tăng trƣởng kinh tế.
Thay đổi tỷ lệ tiết kiệm và tỷ lệ tăng dân số trong mô hình Solow
Càng tăng tỷ lệ tiết kiệm thì sẽ kéo theo vốn đầu tƣ càng tăng, tích lũy vốn
trên lao động tiếp tục đƣợc cải thiện trong dài hạn, cuối cùng GDP bình quân trên
lao động tiếp tục tăng trong dài hạn. Nghĩa là theo mô hình của Solow thì các quốc
gia tiết kiệm cao kéo theo mức sống khá giả hơn các quốc gia còn lại. Thế nhƣng
thu nhập bình quân đầu ngƣời lại giảm vì theo mô hình của Solow thì mức sinh lợi
sẽ giảm dần. Tăng tiết kiệm làm cho kinh tế tăng trƣởng trong tạm thời nhƣng tăng
tỷ lệ tiết kiệm không làm tăng trƣởng kinh tế trong dài hạn.
Trong mô hình Solow, tốc độ tăng dân số và tăng trƣởng kinh tế có mối
tƣơng quan nghịch biến. Thực tế tại các quốc gia nghèo nhất thế giới thì dân số gia
tăng với tốc độ cao nhanh nhất thế giới. Tác động ròng của tốc độ gia tăng dân số
đến tăng trƣởng kinh tế là một vấn đề thực nghiệm, không có mối liên hệ một cách
có hệ thống mà gia tăng dân số ảnh hƣởng đến hầu hết các yếu tố của tăng trƣởng
kinh tế.
Và mô hình của Solow đã tồn tại các khuyết điểm chính. Thứ nhất, mô hình
này chƣa nói lên đƣợc các nhân tố chính tác động lên tính ổn định của nền kinh tế.
Thứ hai là, tầm quan trọng của việc phân chia vốn đầu tƣ và lao động giữa các lĩnh
vực còn lại không đƣợc đề cập (do mô hình Solow chỉ có một khu vực). Thứ ba, tỷ
lệ tiết kiệm, cung lao động, trình độ của lao động, tỷ lệ phát triển khoa học công
nghệ là các yếu tố đƣợc cho trƣớc.
Ý nghĩa to lớn của mô hình Solow là những quốc gia nghèo lại có dƣ địa để
kinh tế tăng trƣởng nhanh hơn các nƣớc giàu vì tốc độ tăng trƣởng kinh tế của các nƣớc
giàu thƣờng thấp hơn khi thu nhập đã rất cao.

Có những nghiên cứu nổi bật nhƣ sau:
Aschauer (1989a), đã nghiên cứu ảnh hƣởng của đầu tƣ đến tăng trƣởng kinh
tế bằng cách sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian đƣợc lấy từ 7 nƣớc nằm trong khối G7
(Anh, Canada, Đức, Nhật Bản, Ý, Pháp và Mỹ) trong những năm 1967 - 1985 và
lấy độ trễ đối với biến đầu tƣ tƣ nhân, đầu tƣ công. Cuối cùng tác giả phát hiện đầu
tƣ tƣ nhân có ảnh hƣởng tích cực đến tăng trƣởng và đầu tƣ công cũng ảnh hƣởng
dƣơng đối với việc năng suất của lao động đƣợc gia tăng. Nổi bật hơn nghiên cứu


17

này đã khẳng định một cách chắc chắn đầu tƣ công góp phần làm cho kinh tế tăng
trƣởng bằng cách đáp ứng hạ tầng thiết yếu đảm bảo cho hoạt động đầu tƣ của khu
vực tƣ nhân gia tăng hơn nữa.
Aschauer (1989b), tiếp tục tìm hiểu các khoản chi của Chính phủ Hoa Kỳ với
dữ liệu chuỗi thời gian giai đoạn 1949 - 1985; trong đó, biến phụ thuộc là tăng
trƣởng kinh tế và biến độc lập là đầu tƣ tƣ nhân, đầu tƣ công và lao động. Cuối cùng
tác giả phát hiện ra đầu tƣ tƣ nhân và đầu tƣ công đều có tác động tích cực đến tăng
trƣởng kinh tế nhƣng mức đóng góp vào tốc độ tăng trƣởng kinh tế của đầu tƣ tƣ
nhân thấp hơn so với mức đóng góp của đầu tƣ công từ hai đến năm lần. Và việc
tích lũy vốn đầu tƣ từ khu vực có ảnh hƣởng khá lớn lên đầu tƣ từ khu vực tƣ. Do
đó, việc xây dựng các chƣơng trình, kế hoạch dài hạn cho đầu tƣ công sẽ góp phần
thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế và đầu tƣ tƣ nhân.
Hadjimichael và Ghura (1995), đã tiến hành tìm hiểu ảnh hƣởng của đầu tƣ
tƣ nhân, chính sách công đến tăng trƣởng kinh tế của 41 nƣớc châu Phi vùng cận
Sahara trong giai đoạn 1981-1992. Kết quả, hai tác giả đã phát hiện ra đầu tƣ từ khu
vực tƣ nhân có mối quan hệ tỷ lệ thuận khá mạnh lên tốc độ tăng trƣởng kinh tế. Và
với việc áp dụng các chính sách công cũng góp phần làm cho đầu tƣ từ khu vực tƣ
nhân phát triển và kinh tế tăng trƣởng.
Khan và Kumar (1997) đã cùng nhau xem xét các vấn đề đầu tƣ tƣ nhân, đầu

Syed và cộng sự (2007) cũng đã xem xét mối quan hệ giữa đầu tƣ tƣ nhân,
đầu tƣ công, chi tiêu công và tăng trƣởng kinh tế tại 2 quốc gia Singapore, Hàn
Quốc và vùng lãnh thổ Đài Loan thông qua việc sử dụng dữ liệu bảng trong giai
đoạn 1970-2000. Kết quả nhóm tác giả phát hiện đầu tƣ tƣ nhân, tiêu dùng của
chính phủ, đầu tƣ công ảnh hƣởng dƣơng trong thời gian dài đến tăng trƣởng kinh tế
tại những quốc gia, vùng lãnh thổ trên. Ngoài ra, đầu tƣ tƣ nhân còn có tác động qua
lại với đầu tƣ của chính phủ và các tác giả còn phát hiện ảnh hƣởng chèn ép của đầu
tƣ tƣ nhân đến đầu tƣ công ở các quốc gia và vùng lãnh thổ Đài Loan.
Wei (2008) đã nghiên cứu về tác động của FDI đến tăng trƣởng kinh tế vùng
của Trung Quốc trong giai đoạn 1979-2003 thông qua việc hồi quy dữ liệu bảng và
sau đó tìm tác động tích cực của FDI đến tăng trƣởng kinh tế.
Eruygur (2009) đã tiến hành nghiên cứu xem đầu tƣ có tác động đến tăng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status