Tác động của xuất nhập khẩu thương mại dầu thô lên cán cân tài khoản vãng lai tại các quốc gia đang phát triển ở châu á - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

----------------

LÊ THỊ NHƯ PHƯỢNG

TÁC ĐỘNG CỦA XUẤT NHẬP KHẨU THƯƠNG
MẠI DẦU THÔ LÊN CÁN CÂN TÀI KHOẢN
VÃNG LAI TẠI CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT
TRIỂN Ở CHÂU Á

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

---------------LÊ THỊ NHƯ PHƯỢNG

TÁC ĐỘNG CỦA XUẤT NHẬP KHẨU THƯƠNG
MẠI DẦU THÔ LÊN CÁN CÂN TÀI KHOẢN
VÃNG LAI TẠI CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT
TRIỂN Ở CHÂU Á
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY ..........................5
2.1. Khung lý thuyết ................................................................................................5
2.1.1 Tài khoản vãng lai......................................................................................5
2.1.2 Các nhân tố tác động đến cán cân tài khoản vãng lai ............................6
2.1.3 Phương pháp tiếp cận liên thời kỳ ...........................................................8
2.1.4 Lý thuyết thâm hụt kép ...........................................................................11
2.1.5 Lý thuyết “nghịch lý của tiết kiệm” .......................................................14
2.2. Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm ...........................................................16
2.2.1.Mối tương quan giữa xuất nhập khẩu dầu thô đến tài khoản vãng lai
...............................................................................................................................16
2.2.2. Vai trò của giao dịch xuất nhập khẩu dầu ............................................19


CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......................................................27
3.1. Dữ liệu nghiên cứu..........................................................................................27
3.2. Mô hình thực nghiệm .....................................................................................28
3.3. Mô tả biến........................................................................................................30
3.4. Phương pháp ước lượng ................................................................................33
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM ..............................................................36
4.1. Thống kê mô tả và ma trận tương quan .......................................................36
4.2. Kết quả nghiên cứu ........................................................................................40
4.2.1. Kết quả nghiên cứu chính .......................................................................40
4.2.2. Kiểm định tính vững của mô hình nghiên cứu......................................43
4.2.3. Kiểm định tính vững của mô hình nghiên cứu......................................43
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN ...........................................................................................51
5.1. Kết quả nghiên cứu ........................................................................................51
5.2. Khuyến nghị ....................................................................................................51
5.3. Hạn chế và hướng phát triển đề tài ..............................................................52
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................53
PHỤ LỤC .....................................................................................................................55


Generalized Least Squares

GMM

Generalized method of moments

Phương pháp Moment tổng quát

NFA

Net Foreign Assets

Tài sản ròng nước ngoài

OLS

Ordinary least squares

REM

Random effect model

3SLS

3 – Stage Lest Squares

TOT

Terms of trade

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU


Bảng 2.1: Tóm tắt các kết quả nghiên cứu trước đây ....................................................24
Bảng 3.1: Chi tiết các quốc gia ......................................................................................27
Bảng 4.1. Thống kê mô tả .............................................................................................36
Bảng 4.2. Ma trận tương quan giai đoạn toàn mẫu .......................................................38
Bảng 4.3. Ma trận tương quan giai đoạn trước và sau khủng hoảng.............................39
Bảng 4.4. Kết quả ước lượng với xuất khẩu dầu thuần .................................................41
Bảng 4.5. Kết quả ước lượng với xuất khẩu và nhập khẩu ...........................................41
Bảng 4.6. Kết quả ước lượng với xuất khẩu và nhập khẩu theo giai đoạn trước và sau
khủng hoảng ..................................................................................................................43
Bảng 4.7. Kết quả ước lượng với xuất khẩu thuần theo toàn thời gian, giai đoạn trước và
sau khủng hoảng ............................................................................................................44
Bảng 4.8. Kết quả ước lượng với xuất khẩu và nhập khẩu theo toàn thời gian, giai đoạn
trước và sau khủng hoảng ..............................................................................................46
Bảng 4.9. Kết quả ước lượng với biến phụ thuộc là tỷ lệ tiết kiệm theo toàn thời gian, giai
đoạn trước và sau khủng hoảng .....................................................................................47
Bảng 4.10. Kết quả ước lượng với biến phụ thuộc là tỷ lệ tiết kiệm theo toàn thời gian,
giai đoạn trước và sau khủng hoảng ..............................................................................48


1
TÓM TẮT
Dầu thô là một loại nguyên liệu đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi
quốc gia. Trong đó, việc khai thác và xuất nhập khẩu dầu thô ảnh hưởng mạnh mẽ đến
cán cân tài khoản vãng lai. Do đó, luận văn này nghiên cứu tác động của xuất nhập khẩu
dầu thô lên cán cân tài khoản vãng lai tại 20 quốc gia đang phát triển ở châu Á, giai đoạn
năm 1990 – 2015, đồng thời xem xét sự khác biệt của mối quan hệ này giữa các nước
xuất khẩu và nhập khẩu dầu, trong đó nhấn mạnh sự khác biệt giữa Việt Nam với các

giới hàng năm tăng từ 1- 2%/năm song song với nhịp độ phát triển kinh tế kỹ thuật hiện
nay. Tuy nhiên, với nguồn cung đang dư thừa bởi sự bùng nổ của việc khai thác dầu thô
đá phiến bằng sự kiện các công ty năng lượng Mỹ sử dụng công nghệ khoan ngang và ép
thủy lực để thu nguồn dầu thô từ các tầng đá phiến đã làm cho giá dầu thô giảm mạnh
trong những năm gần đây, đặc biệt là giảm sâu tới mức 35 USD/thùng vào cuối năm
2015. Bên cạnh đó, nguồn cung dầu thô tăng và giá dầu giảm cũng làm giảm sự phụ thuộc
của các quốc gia vào việc nhập khẩu dầu thô, dẫn đến giảm thâm hụt cán cân tài khoản
vãng lai của quốc gia đó.
Trong nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến cán cân tài khoản vãng lai, đã có
không ít bài phân tích về mối quan hệ này. Morsé và các cộng sự (2012) đã kết luận rằng
ranh giới giữa nguồn cung của dầu đá phiến và khí ga tự nhiên, kết hợp với sự tiếp tục cải
tiến hiệu suất năng lượng có thể làm giảm tài khoản vãng lai của Mỹ đến 60% trong vòng
8 năm tới (trước năm 2020). Tương tự, Medlock và các cộng sự (2011) cũng đã có những
đánh giá khả quan trong hàm ý của việc cách mạng khí ga tự nhiên cho triển vọng thương
mại Mỹ.
Tuy nhiên, những nghiên cứu liên quan đến ảnh hưởng của biến động xuất nhập
khẩu dầu thô với thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai trong bối cảnh kinh tế của các nước
đang phát triển ở Châu Á còn rất ít. Điều này một phần là do thiếu các dữ liệu đáng tin
cậy và một phần do sự ít phụ thuộc vào dầu mỏ trong lịch sử của các nước này. Một điều


3
đáng chú ý là Châu Á là thị trường tiêu thụ dầu mỏ lớn nhất thế giới: 26 triệu thùng/ngày,
chiếm gần 30% thế giới và dự báo, nhu cầu tiêu thụ dầu thô tại Châu Á đến năm 2030 có
thể đạt tới 42,6 triệu thùng/ngày, chiếm khoảng 38% thế giới. Do đó, trên cơ sở phương
pháp tiếp cận và cách thức nghiên cứu của các bài nghiên cứu trước đây, đồng thời bổ
sung bài nghiên cứu theo phương pháp định lượng, góp phần đưa ra những tài liệu tham
khảo có ý nghĩa thực tiễn cho các nhà hoạch định chính sách tác giả đã thực hiện nghiên
cứu đề tài: “Tác động của xuất nhập khẩu thương mại dầu thô lên cán cân tài khoản
vãng lai tại các quốc gia đang phát triển ở Châu Á”.

1.4.

Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, tác giả sẽ thu thập dữ liệu từ 20 quốc gia

đang phát triển Châu Á theo dữ liệu năm trong giai đoạn 1990 – 2015. Phương pháp
nghiên cứu được sử dụng là kỹ thuật phân tích dữ liệu bảng sử dụng các phương pháp ước
lượng bao gồm: Pooled OLS (Pooled Ordinary least squares), FEM (Fixed effect model),
REM (Random effect model) và GMM (Generalized method of moments) hệ thống cũng
như các kiểm định Hausman (so sánh mô hình FEM và REM) và kiểm định nhân tử
Breusch – Pagan Lagrangian (so sánh mô hình REM và Pooled OLS).
1.5.

Nội dung nghiên cứu
Cấu trúc của bài nghiên cứu gồm những phần quan trọng sau:
Chương 1: Tác giả đề cập lý do nghiên cứu, vấn đề và phạm vi nghiên cứu, mục

tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan những nghiên cứu trước đây. Phần này
trình bày sơ lược những nghiên cứu trước đây về vai trò của giao dịch dầu thô và cú sốc
dầu tác động đến nền kinh tế và tác động của các giao dịch thương mại dầu thô lên thâm
hụt tài khoản vãng lai.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Phần này trình bày về dữ liệu nghiên cứu, mô
hình và phương pháp nghiên cứu.
Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu. Phần này trình bày kết quả hồi quy đạt
được, kiểm định kết quả, phân tích kết quả và giải thích ý nghĩa.
Chương 5: Kết luận các kết quả chính tìm thấy ở bài nghiên cứu, trình bày những
khuyến nghị, hạn chế và đề xuất các hướng nghiên cứu mới.





6
dịch nào có tính một chiều từ một quốc gia này với một quốc gia khác đều được phản ánh
lên cán cân chuyển giao vãng lai.
- Thông thường hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa chiếm tỷ trọng lớn trong cán
cân tài khoản vãng lai của một quốc gia như đã mô tả ở trên cho nên cán cân mậu dịch
đóng một vai trò quan trọng trong tài khoản vãng lai. Tuy nhiên, ở các quốc gia công
nghiệp phát triển thì cán cân mậu dịch không quan trọng bằng cán cân dịch vụ.
2.1.2 Các nhân tố tác động đến cán cân tài khoản vãng lai
Tài khoản vãng lai là thước đo rộng nhất của mậu dịch quốc tế về hàng hóa và dịch
vụ của một quốc gia. Theo giáo trình Tài chính quốc tế của GS.TS Trần Ngọc Thơ và các
đồng nghiệp (2012) và bài nghiên cứu của Mann (2002) thì tài khoản vãng lai là sự tương
tác cân bằng tổng thể giữa nhiều yếu tố, trong đó những nhân tố được tác giả chọn để đưa
vào bài nghiên cứu này như: thu nhập quốc dân, tiết kiệm (tỷ lệ dân số phụ thuộc), ngân
sách chính phủ, độ mở cửa thương mại:
- Ảnh hưởng của thu nhập quốc dân theo lý thuyết giáo trình Tài chính quốc tế của
GS.TS Trần Ngọc Thơ và các đồng nghiệp (2012):
Nếu mức thu nhập của một quốc gia (thu nhập quốc dân) tăng theo một tỷ lệ cao
hơn tỷ lệ tăng của các quốc gia khác, tài khoản vãng lai của quốc gia đó sẽ giảm nếu các
yếu tố khác bằng nhau. Do mức thu nhập thực tế (đã điều chỉnh do lạm phát) tăng, mức
tiêu thụ của hàng hóa cũng tăng. Một tỷ lệ tăng trong tiêu thụ hầu như sẽ phản ánh một
mức cầu gia tăng đối với hàng hóa nước ngoài.
- Ảnh hưởng của các nhân tố theo quan điểm Mann (2002):
+ Quan điểm trong nước dựa trên thu nhập quốc dân và sản lượng:
Cũng theo Mann (2002), các quan điểm đầu tiên về thâm hụt tài khoản vãng lai
được dựa trên các tài khoản thu nhập quốc dân và sản lượng nội địa và cho thấy mô hình
tiết kiệm và đầu tư nội địa được phản ánh trong cán cân thương mại và cán cân tài khoản
vãng lai như thế nào. Trong khuôn khổ tài khoản quốc gia, sản xuất nội địa trong một nền


của thâm hụt thương mại (M - X). Thay thế và kết hợp các thành phần theo nguồn và sử
dụng các quỹ: Sp+ (M - X) = I + (G - T).
+ Quan điểm dựa trên thương mại quốc tế về hàng hoá và dịch vụ:
Quan điểm thứ hai trên tài khoản vãng lai là một quan điểm quốc tế dựa vào các
yếu tố làm cơ sở cho các dòng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ. Các quan
điểm trước đó cho rằng người nước ngoài phản ứng lại một cách thụ động với những nhu
cầu được phản ánh trong các tài khoản quốc gia. Ví dụ, nếu một khoảng cách giữa tiết
kiệm tư nhân thấp và đầu tư tư nhân cao trong nền kinh tế của Mỹ, các quan điểm đầu tiên
dường như ngụ ý rằng các nhà đầu tư nước ngoài sẽ chỉ đơn giản là tiêu dùng ít hơn đồng
thời tiết kiệm tăng và đầu tư tài chính vào nền kinh tế Mỹ. Các quan điểm thứ hai, tập
trung vào các lực lượng thúc đẩy dòng xuất khẩu và nhập khẩu, cung cấp một vai trò rõ
ràng về nhu cầu nước ngoài đối với hàng hóa và dịch vụ. Phương pháp thay thế này cho
phép chúng ta kiểm tra tốc độ tăng trưởng GDP của thế giới và nội địa và tỷ giá hối đoái
có thể ảnh hưởng đến tài khoản vãng lai như thế nào. Nó cũng cho phép chúng ta xem xét
tác động về tài khoản thương mại và tài khoản vãng lai của các yếu tố cấu trúc như so
sánh lợi thế và toàn cầu hóa (Mann, 2002).
Mỗi quan điểm là một góc nhìn riêng để thông qua đó phân tích cân bằng tổng thể.
Mỗi quan điểm liên quan đến một quyết định tập trung vào các biến hoặc các mối quan hệ


8
kinh tế nhất định và giảm dần hoặc thậm chí bỏ qua các biến và các mối quan hệ khác.
Mỗi quan điểm có thể hữu ích trong các tình huống hoặc khung thời gian nhất định. Tóm
lại, ba quan điểm đưa ra nhận định phù hợp và hỗ trợ lẫn nhau.
- Mối quan hệ giữa giao dịch dầu thô và Thâm hụt tài khoản vãng lai:
Thông thường, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa chiếm tỷ trọng lớn trong cán
cân tài khoản vãng lai của một quốc gia như đã trình bày ở trên và dầu thô là một trong
những hàng hóa cơ bản của rỗ hàng hóa xuất nhập khẩu. Theo thống kê sơ bộ của Tổng
cục Hải Quan, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa cả nước trong quý I/2016 đạt
29,61 tỷ USD, trong đó, tổng trị giá xuất khẩu là 15,12 tỷ USD, tăng 49,7% và tổng trị giá

và tập trung vào các yếu tố vĩ mô mà quyết định tới hai biến này. Phương pháp tiếp
cận liên thời kỳ cho rằng hệ quả quyết định tiết kiệm và đầu tư dài hạn được tính toán dựa
trên giá trị kỳ vọng của các yếu tố kinh tế vĩ mô khác nhau. Phương pháp này cố gắng giải
thích sự phát triển của tài khoản vãng lai thông qua việc xem xét kỹ hơn các quyết định
tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư theo thời kỳ. Cách tiếp cận này đã tổng hợp quan điểm
thương mại và dòng chảy tài chính bằng cách xem xét các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng như
thế nào tới giá tương đối trong tương lai và giá tương đối này lại ảnh hưởng như thế nào
tới quyết định tiết kiệm và đầu tư (Obstfeld & Rogoff, 1994).
Cách tiếp cận liên thời kỳ chỉ ra rằng, đối với nền kinh tế đang phát triển, tăng
trưởng dài hạn có thể làm phức tạp thêm các phân tích bởi việc cho phép cán cân tài
khoản vãng lai khác không tại trạng thái ổn định. Điều này đồng nhất với tỷ lệ NFA/GDP
là ổn định, ngụ ý rằng tại trạng thái ổn định ta có:
CA/Y = g*NFA/Y
với g là tốc độ tăng trưởng GDP danh nghĩa (g=ΔY/Y). Trong quá trình chuyển
sang trạng thái ổn định dài hạn, có thể có nhiều yếu tố tác động ảnh hướng tới mối quan
hệ trên (Calderon et al., 2000). Cụ thể, xu hướng trong tỷ giá hối đoái thực tế có thể làm
phức tạp thêm mối quan hệ này nếu nó có ảnh hưởng khác nhau tới NFA và GDP
(Debelle & Faruqee, 1996).


10
Cũng có sự khác nhau giữa nước đi vay và nước cho vay trong mối quan hệ giữa
NFA và CA. Kraay & Ventura (2003) lập luận rằng những dấu hiệu của tài khoản vãng lai
với những cú sốc tạm thời phụ thuộc vào phần tài sản nước ngoài (đi vay hoặc cho vay)
trên tổng tài sản trong nước của một quốc gia. Theo một số giả định, họ cho rằng phản
ứng của tài khoản vãng lai trước những cú sốc tạm thời bằng sự gia tăng tiết kiệm được
tạo ra trong thời gian xảy ra cú sốc. Quy tắc này ngụ ý rằng với một cú sốc có lợi sẽ tạo ra
thâm hụt cán cân vãng lai đối với nước đi vay và thặng dư ở nước cho vay.
Cách tiếp cận liên thời kỳ cũng cho thấy tỷ giá hối đoái thực tế đóng một vai trò
quan trọng trong giải thích sự phát triển dài hạn sự phát triển tài khoản vãng lai thông qua

cho thâm hụt như gia tăng sự giàu có của họ. Phản ứng của đầu tư trong nước và thâm hụt
tài khoản vãng lai phụ thuộc vào sự huy động vốn. Do đó, dòng vốn nước ngoài sẽ nhanh
chóng bù đắp sự sụt giảm đầu tư trong nước. Dòng vốn lần lượt đặt áp lực lên tỷ giá hoặc
thông qua một tỷ lệ tăng lên trong tỷ giá danh nghĩa trong trường hợp của một chế độ tỷ
giá cố định hay giá cả tăng cao trong một hệ thống tỷ giá hối đoái linh hoạt. Vì vậy mô
hình Mundell – Fleming dự đoán một mối quan hệ tích cực giữa hai thâm hụt (Nguyễn
Thị Lan Hương, 2015).
Bên cạnh mô hình lý thuyết Mundell – Fleming, lý thuyết Keynes cũng cho thấy
mối quan hệ giữa hai thâm hụt. Theo lý thuyết Keynes, sự gia tăng thâm hụt ngân sách sẽ
dẫn đến lãi suất cao, tiết kiệm thấp và giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế, tăng nhập khẩu và
việc mở rộng nhập khẩu sẽ dẫn đến gia tăng thâm hụt tài khoản vãng lai. Do đó giống như
các mô hình Mundell – Fleming, các trường phái Keynes cho thấy rằng mối quan hệ nhân
quả giữa hai biến từ thâm hụt ngân sách đến thâm hụt tài khoản vãng lai và không tồn tại
mối quan hệ ngược lại.
Theo lý thuyết thâm hụt kép, sự thay đổi trong thâm hụt ngân sách dẫn đến sự thay
đổi trong thâm hụt tài khoản vãng lai và ngược lại. Để làm rõ mối quan hệ giữa hai biến
này, chúng ta bắt đầu với định nghĩa thu nhập quốc gia cho một nền kinh tế mở:
𝑌 = 𝐶 + 𝐼 + 𝐺 + 𝑋 − 𝑀 (1)
Trong đó:


12
Y: Tổng cầu (tổng thu nhập)
C: Tiêu dùng khu vực tư nhân
I: Đầu tư
G: Chi tiêu chính phủ (hàng hóa và dịch vụ)
X: Xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ
M: Nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ
Từ phương trình (1), tài khoản vãng lai (CA) được viết lại như sau:
𝐶𝐴 = 𝑌 − (𝐶 + 𝐼 + 𝐺 ) (2)

giảm trong thâm hụt tài khoản vãng lai dẫn đến tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm hơn và
sau đó làm tăng thâm hụt ngân sách.
Theo giả thuyết cân bằng Recardo – Ricardian Equivalence Hypothesis (REH), khi
Chính phủ cắt giảm thuế và tăng thâm hụt ngân sách, người dân dự đoán rằng họ sẽ phải
đối mặt với các mức thuế cao hơn trong tương lai và sau đó họ phải trả lại các khoản nợ
của Chính phủ. Vì vậy, sẽ giảm chi tiêu của họ và tăng tiết kiệm tư nhân để bù đắp cho sự
sụt giảm trong tiết kiệm của chính phủ. Như vậy, thâm hụt ngân sách không có ảnh hưởng
đến thâm hụt tài khoản vãng lai.
Bài nghiên cứu của Baxter (1995) xem xét sự gia tăng chi tiêu chính phủ và thấy
rằng nó làm giảm tỷ số tài khoản vãng lai trên GDP. Điều này đúng cho cả những cú sốc
chi tiêu tạm thời và vĩnh viễn, do nguồn cung lao động nội sinh. Tác giả tiếp tục giả định
rằng chi tiêu chính phủ được tài trợ thông qua nợ. Giả định này gây ra một mối tương
quan dương giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai mặc dù cân bằng
Ricardo tồn tại. Việc giảm thuế bóp méo được coi là tốt: Baxter thấy rằng nó làm giảm tài
khoản vãng lai nếu nó bền vững vì trong trường hợp này các kích thích đầu tư chi phối sự
gia tăng cung ứng lao động. Gần đây hơn, trong bài nghiên cứu của Erceg, Guerrieri và


14
Gust (2005) phân tích chính sách tài khóa trong một mô hình trong đó 50% là các hộ gia
đình tiêu dùng thu nhập khả dụng của mình trong từng thời kỳ. Các tác giả thấy rằng một
món nợ tăng chi tiêu chính phủ làm giảm cán cân thương mại sau 2-3 năm.
Tóm lại, trong khi có một số bằng chứng ủng hộ cho một mối quan hệ thâm hụt kép thì
cũng cần lưu ý rằng kết quả mâu thuẫn đã được nêu ra. Sự phân tán tương đối cao của các
kết quả bản thân nó không gây ngạc nhiên vì những nghiên cứu này sử dụng thời kỳ mẫu
khác nhau, sử dụng kỹ thuật khác nhau và tập trung vào các quốc gia khác nhau. Tuy
nhiên, trong mọi trường hợp, các tác giả cho rằng mối quan hệ thâm hụt kép hoặc là
không mạnh mẽ hoặc không ổn định qua thời gian (Mann, 2002).
2.1.5 Lý thuyết “nghịch lý của tiết kiệm”
Môt trong những phương pháp để tác giả kiểm định tính bên vững của mô hình

đó việc tiếp tục hạ thêm lãi suất một vài điểm phần trăm vẫn không chắc sẽ giúp tăng cầu
đầu tư bởi nhà đầu tư vẫn đang cố gắng giải nợ (deleveraging).
Điều này một phần có thể là do đầu tư đã tăng quá mức trong những giai đoạn tăng
trưởng nóng trước đây dẫn đến tồn kho tăng cao nên cần phải có thời gian để nền kinh tế
hấp thụ. Một phần lý do nữa, có thể đã đi cùng với giai đoạn tăng đầu tư quá mức trên
đây, là do gánh nặng nợ vay quá lớn đi kèm với những rủi ro vỡ nợ mà các doanh nghiệp
phải đặt mục tiêu trước mắt là thu hẹp bảng cân đối tài sản bằng cách giải nợ. Chính xu
hướng giảm nợ phổ biến này mới là động lực làm giảm lãi suất. Nhưng vẫn còn yếu tố
quan trọng khác đó chính là sự kỳ vọng của nhà đầu tư về triển vọng của nền kinh tế. Khi
sự bi quan vẫn là yếu tố chủ đạo thì việc hạ lãi suất không phải là một biện pháp hữu hiệu
để kích thích đầu tư. Người dân giữ tiền, trả bớt nợ và không muốn chi tiêu vì họ lo ngại
thu nhập của mình sẽ giảm trong tương lai. Trong khi đó, các doanh nghiệp cũng giữ tiền
và không muốn gia tăng đầu tư bởi vì không đủ cầu trong nền kinh tế. Như vậy, hai trong
ba thành phần của tổng cầu nội địa đều suy giảm, ở đó các doanh nghiệp trì hoãn đầu tư
trong khi đó người dân thì trì hoãn tiêu dùng.


16
Tuy nhiên, đối với một nền kinh tế mở thì vấn đề có đôi chút khác biệt. Trong một
nền kinh tế mở, việc gia tăng tỉ lệ tiết kiểm và giảm tiêu dùng có thể tác động lên phía cầu
nhập khẩu của nền kinh tế chứ không chỉ là tổng cầu nội địa. Đối với đa phần các nước
đang phát triển, tình trạng suy giảm kinh tế thường đi kèm với sự cải thiện của cán cân
thương mại. Việc người dân gia tăng tiết kiệm trong thời kỳ khó khăn này cũng tác động
làm giảm cầu hơn nữa đối với hàng nhập khẩu và từ đó càng giúp cải thiện tình trạng mất
cân bằng cán cân thương mại. Ngoài ra, đối với một số quốc gia, xuất khẩu là lối thoát
cho sự dư thừa năng lực sản xuất của nền kinh tế được tích lũy những năm bùng nổ trước
đó. Tất nhiên điều này còn phụ thuộc vào năng lực tham gia ngoại thương của các sản
phẩm có thể ngoại thương (tradable goods). Tuy nhiên, đây không hẳn là một tín hiệu tốt
mà ngược lại nó cho thấy sự phụ thuộc của các nước này vào thương mại quốc tế và
nguồn tài trợ hay giải pháp thường đến từ bên ngoài.

từ giai đoạn sau năm 1984. Khi đó, giá dầu giảm mạnh vào năm 1985 ngay sau khi Ả Rập
Xê – Út quyết định mở rộng sản xuất của mình để lấy lại một số các thị phần mà nó đã
mất trong thời gian năm năm trước.
Trong giai đoạn sau năm 2004, khi tăng trưởng kinh tế châu Á bùng nổ nhanh hơn
nhiều so với dự kiến và nguồn cung dầu mỏ có sẵn vẫn tương đối ổn định, bài nghiên cứu
của Hamilton (2009) tìm thấy giá dầu bắt đầu tăng mạnh trong giai đoạn này. Tác giả tìm
hiểu sự giống và khác nhau giữa sự tăng lên của giá dầu trong những năm 2007 - 2008 và
các cú sốc giá dầu trước đó bằng cách nhìn vào những gì gây ra sự tăng giá này và những
tác động trong nền kinh tế. Trong đó, những cú sốc giá dầu giai đoạn trước đã được gây ra
chủ yếu là do sự gián đoạn vật lý của nguồn cung, tuy nhiên giá tăng lên trong giai đoạn
2007- 2008 là do đối mặt với tình trạng trì trệ sản xuất trên thế giới. Mặc dù nguyên nhân
là khác nhau nhưng hậu quả cho nền kinh tế dường như là tương tự như quan sát thấy
trong các thời kỳ trước đó, với những tác động đáng kể đến chi tiêu tiêu dùng và việc mua
xe ô tô nội địa nói riêng. Giai đoạn quý IV năm 2007 – quý III năm 2008 nên được thêm
vào danh sách các cuộc suy thoái ở Mỹ mà giá dầu dường như đã làm một góp phần quan
trọng.
Mối quan hệ giữa giao dịch dầu thô và sự thâm hụt tài khoản vãng lai của các nước
xuất và nhập khẩu dầu trên thế giới cũng được Hungtington (2015) nghiên cứu. Bài


18
nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng lấy từ 91 quốc gia trong giai đoạn 1984 – 2009 để giải
thích cán cân tài khoản vãng lai hàng năm. Các biến độc lập được chọn tương tự như
được dùng trong các nghiên cứu dữ liệu bảng trước đó của Chinn và Prasad (2003), Chinn
và Ito (2007) và Gruber và Kamin (2007, 2009). Các tác giả tập trung vào khoản thời gian
trung hạn hơn là ngắn hạn nên ưu tiên cho dữ liệu năm hơn là quý. Tương tự, các tác giả
xuất phát từ phương pháp của những bài nghiên cứu trên, nơi mà khoảng thời gian cho
mỗi quan sát sẽ dài và được đo lường bởi trung bình trong 1 giai đoạn 5 năm. Trong bài
nghiên cứu trước, các trung bình được tính trong khoản thời gian ngắn hơn 5 năm khi có
dữ liệu bị thiếu. Trong bài nghiên cứu này, những quan sát hàng năm với dữ liệu bị thiếu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status