Chuẩn kiến thức kĩ năng lịch sử lớp 6 - Pdf 50

CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG MÔN LỊCH SỬ BẬC THCS
LỚP 6
Mở đầu: SƠ LƯỢC VỀ MÔN LỊCH SỬ
1. Lịch sử là gì?
Xã hội loài người có lịch sử hình thành và phát triển. Vậy Lịch sử là gì?
- Lịch sử là những gì đã diễn ra trong quá khứ.
- Lịch sử còn là một khoa học, có nhiệm vụ tìm hiểu và khôi phục lại quá khứ của con
người và xã hội loài người.
2. Mục đích học tập Lịch sử là gì?
- Trước hết, học lịch sử để biết được gốc tích, cội nguồn của tổ tiên, quê hương, đất nước,
dân tộc mình.
- Từ hiểu biết ấy, chúng ta phải trân trọng và tự hào trước cuộc sống đấu tranh và lao
động sáng tạo của dân tộc mình và của cả loài người trong quá khứ xây dựng nên xã hội văn
minh như ngày nay.
- Để hiểu được những gì chúng ta đang thừa hưởng của ông cha trong quá khứ và biết mình
phải làm gì cho tương lai.
KHÁI QUÁT LỊCH SỬ THẾ GIỚI NGUYÊN THỦY VÀ CỔ ĐẠI
Chủ đề 1. XÃ HỘI NGUYÊN THỦY
1. Con người đã xuất hiện trên Trái đất như thế nào?
- Cách ngày nay khoảng 5 - 6 triệu năm, trên trái đất đã xuất hiện loài Vượn cổ có dáng
hình người.
- Khoảng 3 - 4 triệu năm về trước, loài Vượn cổ đã tiến hóa và xuất hiện Người tối cổ.
Người tối cổ đã thoát khỏi thế giới động vật, con người hoàn toàn đi bằng hai chân, đôi tay đã
trở nên khéo léo, có thể cầm nắm và biết sử dụng những hòn đá, cành cây...làm công cụ. Đặc
biệt, Người tối cổ đã biết chế tạo ra những công cụ thô sơ (bằng đá) và phát minh ra lửa.
- Khoảng 4 vạn năm về trước, Người tối cổ tiến hóa dần trong quá trình lao động trở thành
Người tinh khôn. Người tinh khôn có cấu tạo cơ thể như con người ngày nay với thể tích sọ não
lớn, tư duy phát triển.
Như vậy là lao động có vai trò sáng tạo ra con người và xã hội loài người. Thông qua
các di cốt được tìm thấy ở khắp các châu lục: Đông Phi, Đông Nam Á, Trung Quốc, châu
Âu,...Các nhà khảo cổ học đã tái hiện được lịch sử sự xuất hiện và tiến hóa của con người và

Hà, sông Ấn và sông Hằng ở Ấn Độ,
Hoàng Hà và Trường Giang ở Trung
Quốc.
Trên các bán đảo Ban Căng ở I-ta-li-a,
ở đó có rất ít đồng bằng, chủ yếu là đất
đồi, khô và cứng, nhưng lại có nhiều
hải cảng tốt, thuận lợi cho buôn bán
đường biển.
Đời sống
kinh tế
+ Ngành KT chính là nông nghiệp. Biết
làm thủy lợi, đắp đê ngăn lũ, đào kênh
máng dẫn nước vào ruộng. Thu hoạch
lúa ổn định hằng năm theo mùa vụ.
Ngoài ra còn phát triển chăn nuôi gia
súc.
+ Ngành KT chính là thủ công nghiệp
(luyện kim, đồ mĩ nghệ, đồ gốm, làm
rượu nho, dầu ô liu) và thương nghiệp
(xuất khẩu các mặt hàng thủ công, rượu
nho, dầu ô liu, nhập lúa mì và súc vật).
Ngoài ra còn trồng trọt cây lưu niên như
nho, ô liu, cam,...
Các tầng
lớp xã hội
+ 3 tầng lớp chính
- Nông dân công xã, đông đảo nhất và là
tầng lớp lao động, sản xuất chính trong xã
hội.
- Quý tộc là tầng lớp có nhiều của cải và

+ Bộ máy hành chính phân ra theo các
thành bang, có sự phân quyền hơn so
với xã hội cổ đại phương Đông.
Những
thành tựu
văn hóa
chính
+ Biết làm lịch và dùng lịch âm (1 năm
có 12 tháng, mỗi tháng có 29 hoặc 30
ngày); biết làm đồng hồ đo thời gian
bằng bóng nắng mặt trời.
+ Sáng tạo chữ viết, gọi là chữ tượng
hình (vẽ mô phỏng vật thật để nói lên
suy nghĩ của con người); viết trên giấy
Pa-pi-rút, trên mai rùa, thẻ tre và các
tấm đất sét...
+ Toán học: phát minh ra phép đếm đến
10, các chữ số từ 1 đến 9 và số 0, tính
được số Pi bằng 3,16.
+ Kiến trúc: xây dựng các công trình
kiến trúc đồ sộ như Kim tự tháp ở Ai
Cập, thành Ba-bi-lon ở Lưỡng Hà...
+ Biết làm lịch và dùng lịch dương,
chính xác hơn: 1 năm có 365 ngày và
6 giờ, chia thành 12 tháng.
+ Sáng tạo ra hệ chữ cái a, b, c...gồm 26
chữ, gọi là hệ chữ cái La-tinh, đang được
dùng phổ biến hiện nay.
+ Khoa học phát triển cao, đặt nền móng
cho các ngành khoa học sau này. Một số

Trải qua hàng triệu năm phát triển, bầy người nguyên thủy tiến lên một cộng đồng mới
cao hơn: Công xã thị tộc hay còn gọi là Chế độ thị tộc.
Chế độ thị tộc: là tổ chức của những người có cùng quan hệ lâu dài, cùng huyết thống đã
họp thành một nhóm riêng cùng sống trong một hang động hay mái đá, hoặc trong một vùng
nhất định nào đó.
Thị tộc mẫu hệ hay còn gọi là Thị tộc mẫu quyền: là chế độ của những người cùng
huyết thống, hôn nhân đã tuân theo chế độ ngoại tộc hôn, qui định nam nữ trong thị tộc là ruột
thịt, nên không được kết hôn với nhau. Nhưng là vì hôn nhân tập thể (quần hôn) làm cho con
cái chỉ biết mặt mẹ nên theo họ mẹ. Tất cả tôn người mẹ lớn tuổi nhất lên làm chủ.
Trong thị tộc mẫu hệ, kinh tế hái lượm vẫn là chủ yếu. Người nguyên thủy thời kỳ này
cho rằng vạn vật đều có linh hồn.
Chế độ mẫu hệ là thời kỳ hưng thịnh nhất của xã hội nguyên thủy. Nó kéo dài khoảng
18.000 năm trong lịch sử, đến nay chế độ mẫu hệ vẫn còn nhiều tàn dư ở một số dân tộc trên
thế giới.
Thị tộc phụ hệ hay còn gọi là Thị tộc phụ quyền: Ham muốn của người nguyên thủy
cũng như con người về sau là làm thế nào để nâng cao năng suất lao động. Khoảng 4.000 năm
trước công nguyên con người đã tìm ra đồng. Người nguyên thủy đã phát minh ra cung tên mà
tầm quan trọng của nó được F. Ăng-ghen đánh giá như phát minh ra súng của thời cận đại.
Các ngành nghề thủ công, chăn nuôi … cũng phát triển một cách mạnh mẽ. Một cuộc phân
công lao động và sự chuyển biến vị trí giữa đàn ông và đàn bà bắt đầu. Thị tộc mẫu quyền
nhường chỗ cho thị tộc phụ quyền (trong đó, quyền lực của người cha - đàn ông trong bộ lạc
được đề cao).
Từ khi có sự phân công lao động, sản xuất ngày càng phát triển, cuộc sống của con người
ngày càng ổn định. Ở các vùng đồng bằng ven các con sông lớn hình thành các làng bản (chiềng,
chạ), các làng bản vùng cao cũng nhiều hơn trước. Dần dần hình thành các cụm chiềng, chạ hay
làng bản, có quan hệ chặt chẽ với nhau được gọi là bộ lạc.
d. Xã hội “chiếm hữu nô lệ” là gì?
Là xã hội có hai giai cấp chính là chủ nô và nô lệ, trong đó giai cấp chủ nô thống trị và bóc lột giai
cấp nô lệ.
LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NGUỒN GỐC ĐẾN THẾ KỈ X

Người tối cổ.
Về đời sống vật chất:
Người tinh khôn thường xuyên cải tiến và đạt được những bước tiến bộ về chế tác công
cụ sản xuất cũng như đồ dùng sinh hoạt. Từ thời Sơn Vi, con người đã biết ghè đẽo các hòn
cuội thành rìu; đến thời Hòa Bình - Bắc Sơn họ đã biết dùng các loại đá khác nhau để mài
thành các loại công cụ như rìu, bôn, chày. Họ còn biết dùng tre, gỗ, xương, sừng làm công cụ
và biết làm đồ gốm; biết trồng trọt (rau, đậu, bí, bầu...) và chăn nuôi. Nhờ nghề nông và chăn
nuôi phát triển, họ đã chủ động được lương thực, thực phẩm, dần thoát khỏi sự lệ thuộc vào
thiên nhiên. Hơn nữa, cùng với công cụ sản xuất tiến bộ kéo theo năng suất lao động tăng, đời
sống ngày càng ổn định và nâng cao.
Về tổ chức xã hội:
Người tinh khôn đã biết sống thành từng nhóm trong các hang động, ở những vùng
thuận tiện, thường định cư lâu dài ở một số nơi (Hòa Bình - Bắc Sơn). Cũng do sự tiến bộ của
công cụ sản xuất, kinh tế phát triển nên đời sống không ngừng được nâng cao, dân số ngày
càng tăng, dần dần đã hình thành các mối quan hệ xã hội và đời sống tinh thần.
Đời sống tinh thần:
Họ đã biết chế tác và sử dụng những đồ trang sức; biết vẽ những hình mô tả cuộc sống
tinh thần của mình. Rồi đã hình thành một số phong tục tập quán và tín ngưỡng: thể hiện trong
mộ táng có chôn theo lưỡi cuốc đá. Như vậy là trong thời kì nguyên thủy, con người đã bắt
đầu quan tâm đến đời sống tinh thần thể hiện ở việc làm đẹp bản thân và bày tỏ tình cảm với
người chết. Đó là một bước tiến đáng kể trong sự phát triển tinh thần của loài người.
Chủ đề 2. THỜI KÌ VĂN LANG - ÂU LẠC
I. Thời kì Văn Lang - Âu Lạc đã có những chuyển biến như thế nào trong đời sống kinh
tế, xã hội? 1. Trình độ sản xuất, chế tác công cụ của người Việt cổ đã có sự phát triển, tiến bộ
như thế nào?
Người nguyên thủy trên đất nước ta lúc đầu sinh sống ở các hang động, sau đó tiếp tục
mở rộng vùng cư trú đến các vùng chân núi, thung lũng ven khe suối, vùng đất bãi ven sông.
Qua các di chỉ Phùng Nguyên (Phú Thọ), Hoa Lộc (Thanh Hóa), Lung Leng (Kon
Tum), có niên đại cách đây 4.000 - 3.500 năm, các nhà khảo cổ đã phát hiện hàng loạt công
cụ: rìu đá, bôn đá được mài nhẵn toàn bộ, có hình dáng cân xứng; những đồ trang sức, những

3. Trình bày những biểu hiện về sự chuyển biến xã hội thời Văn Lang - Âu Lạc ?
Từ khi thuật luyện kim được phát minh và nghề nông trồng lúa nước ra đời, con người
phải chuyên tâm làm một công việc nhất định. Sự phân công lao động đã được hình thành cụ
thể :
Phụ nữ làm việc nhà, thường tham gia sản xuất nông nghiệp và làm đồ gốm, dệt vải vì
người Việt cổ không chỉ độc canh cây lúa mà còn trồng các loại rau củ, cây trái như khoai,
đậu, trồng dâu, nuôi tằm. Nam giới, một phần làm nông nghiệp, đi săn, đánh cá ; một phần
chuyên hơn làm công việc chế tác công cụ, đúc đồng, làm đồ trang sức…, về sau, được gọi
chung là nghề thủ công.
Từ khi có sự phân công lao động, sản xuất ngày càng phát triển, cuộc sống con người
ngày càng ổn định ; ở các vùng đồng bằng ven các con sông lớn hình thành các làng bản
(chiềng, chạ), các làng bản ở vùng cao cũng nhiều hơn trước. Dần dần hình thành các cụm
chiềng, chạ hay làng bản có quan hệ chặt chẽ với nhau được gọi là bộ lạc. Vị trí của người
đàn ông trong sản xuất và gia đình, làng bản ngày càng cao hơn. Chế độ phụ hệ dần dần thay
thế cho chế độ mẫu hệ.
II. Nước Văn Lang đã ra đời và phát triển như thế nào?
1. Trình bày những điều kiện dẫn tới sự ra đời của nhà nước Văn Lang, nhà nước
đầu tiên trong lịch sử Việt Nam?
Vào khoảng các thế kỉ VIII - VII TCN, ở vùng đồng bằng ven các con sông lớn thuộc
Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ ngày nay, đã hình thành những bộ lạc lớn. Sản xuất phát triển, mâu
thuẫn giữa người giàu và người nghèo đã nảy sinh và ngày càng tăng thêm.
Việc mở rộng nghề nông trồng lúa nước ở các vùng đồng bằng ven các con sông lớn
thường xuyên phải đối mặt với hạn hán, lũ lụt. Vì vậy, cần phải có người chỉ huy đứng ra tập
hợp nhân dân các làng để giải quyết vấn đề thủy lợi bảo vệ sản xuất, mùa màng và đời sống.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status