Chuẩn kiến thức kĩ năng lịch sử lớp 7 - Pdf 50

LỚP 7
KHÁI QUÁT LỊCH SỬ THẾ GIỚI TRUNG ĐẠI
Chủ đề 1 XÃ HỘI PHONG KIẾN CHÂU ÂU (PHƯƠNG TÂY)
1. Trình bày sự hình thành xã hội PK châu Âu
Cuối thế kỉ V, người Giéc-man xâm chiếm, tiêu diệt các quốc gia cổ đại phương
Tây, thành lập nhiều vương quốc mới : Ăng-glô Xắc-xông, Phơ-răng, Tây Gốt, Đông
Gốt...
Trên lãnh thổ Rô-ma, người Giéc-man đã chiếm ruộng đất của chủ nô, đem
chia cho nhau; phong cho các tướng lĩnh, quý tộc các tước vị như: công tước, hầu
tước... Những việc làm của người Giéc-man đã tác động đến xã hội, dẫn tới sự hình
thành các tầng lớp mới:
- Lãnh chúa phong kiến: là các tướng lĩnh và quý tộc có nhiều ruộng đất và tước vị,
có quyền thế và rất giàu có.
- Nông nô: là những nô lệ được giải phóng và nông dân, không có ruộng đất, làm
thuê, phụ thuộc vào lãnh chúa.
Từ những biến đổi trên đã dẫn tới sự ra đời của xã hội PK châu Âu.
2. Em biết gì về các lãnh địa của các lãnh chúa phong kiến
Lãnh địa PK là khu đất rộng, trở thành vùng đất riêng của lãnh chúa PK - như một
vương quốc thu nhỏ.
Lãnh địa gồm có đất đai, dinh thự với tường cao, hào sâu, kho tàng, đồng cỏ, đầm
lầy... của lãnh chúa. Nông nô nhận đất canh tác của lãnh chúa và nộp tô thuế, ngoài ra
còn phải nộp nhiều thứ thuế khác. Lãnh chúa bóc lột nông nô, họ không phải lao động,
sống sung sướng, xa hoa.
Đặc trưng cơ bản của lãnh địa: là đơn vị kinh tế, chính trị độc lập mang tính tự
cung, tự cấp, đóng kín của một lãnh chúa.
3. Em biết gì về các thành thị trung đại trong xã hội PK châu Âu ?
Nguyên nhân ra đời của các thành thị trung đại là do :
- Vào thời kì PK phân quyền: các lãnh địa đều đóng kín, không có trao đổi, buôn bán,
giao thương với bên ngoài.
- Từ cuối thế kỉ XI, do sản xuất thủ công phát triển, thợ thủ công đã đem hàng hóa
ra những nơi đông người để trao đổi, buôn bán, lập xưởng sản xuất.

tư sản).
Phong trào diễn ra với các nội dung: lên án nghiêm khắc Giáo hội Ki-tô, đả phá trật
tự xã hội phong kiến ; đề cao những giá trị con người, đề cao khoa học tự nhiên, xây dựng
thế giới quan duy vật. Có thể kể tên những nhân vật lịch sử và danh nhân văn hóa tiêu biểu
như : nhà thiên văn học Cô-péc-ních, nhà toán học và triết học xuất sắc R. Đê-các-tơ, họa sĩ
Lê-ô-na đơ Vanh-xi, nhà soạn kịch U. Sếch-xpia...
Phong trào Văn hóa Phục hưng đã có ý nghĩa thức tỉnh và phát động quần chúng đấu
tranh chống lại xã hội phong kiến bảo thủ, lạc hậu ; đồng thời mở đường cho sự phát triển
văn hóa ở một tầm cao mới của châu Âu và nhân loại.
Chủ đề 2. XÃ HỘI PHONG KIẾN PHƯƠNG ĐÔNG
1. So sánh quá trình hình thành và phát triển của xã hội PK ở các nước
phương Đông và phương Tây để rút ra những điểm khác biệt ?
Xã hội PK phương Đông :
- Hình thành sớm, vào thời kì trước CN (như Trung Quốc), phát triển chậm, mức
độ tập quyền cao hơn so với xã hội PK phương Tây.
- Quá trình khủng hoảng, suy vong kéo dài và sau này rơi vào tình trạng lệ thuộc
hoặc trở thành thuộc địa của CNTB phương Tây.
Xã hội PK phương Tây :
- Ra đời muộn (thế kỉ V), nhưng phát triển nhanh.
- Xuất hiện CNTB trong lòng chế độ PK.
- Lúc đầu quyền lực của nhà vua bị hạn chế trong lãnh địa, mãi đến thế kỉ XV khi
các quốc gia PK thống nhất, quyền lực mới tập trung trong tay nhà vua.
2. Trình bày những nét chính về cơ sở kinh tế - xã hội của chế độ PK ?
Cơ sở kinh tế chủ yếu của chế độ PK là sản xuất nông nghiệp, kết hợp với chăn
nuôi và một số nghề thủ công. Sản xuất nông nghiệp đóng kín ở các công xã nông thôn
(phương Đông) hay các lãnh địa (phương Tây).
Tư liệu sản xuất, ruộng đất nằm trong tay lãnh chúa hay địa chủ, giao cho nông
dân hay nông nô sản xuất.
Xã hội gồm hai giai cấp cơ bản là địa chủ và nông dân lĩnh canh (phương Đông),
lãnh chúa phong kiến và nông nô (phương Tây). Địa chủ, lãnh chúa bóc lột nông dân và

Sau khi dẹp tan loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế tức là Đinh
Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư (tỉnh Ninh Bình).
Đồng thời với gian đoạn này, ở Trung Hoa, nhà Tống làm chủ đất nước và tiêu
diệt nước Nam Hán (970). Đinh Tiên Hoàng sai sứ sang thông hiếu. Đến năm 972 nhà
vua sai Đinh Liễn đem quà sang cống. Vua Tống bèn phong cho Đinh Tiên Hoàng làm
An Nam Quận vương và Đinh Liễn làm Tĩnh Hải Quân Tiết độ sứ.
Đinh Tiên Hoàng đặt ra những luật lệ hình phạt nặng nề như bỏ phạm nhân vào
dầu hay cho hổ báo xé xác.
Quân đội dưới thời Đinh Tiên Hoàng đã được tổ chức chặt chẽ, phân ra làm các
đơn vị như sau:
Đạo = 10 quân; Quân = 10 lữ ; Lữ = 10 tốt; Tốt = 10 ngũ ; Ngũ = 10 người.
Năm 979, nhân lúc Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn say rượu, nằm ở sân điện, một
tên quan hầu là Đỗ Thích giết chết cả hai. Đinh Tiên Hoàng làm vua được 12 năm, thọ
56 tuổi.
Sau khi Đinh Tiên Hoàng bị Đỗ Thích giết chết, đình thần tìm bắt được Đỗ Thích
và đem giết chết đi rồi tôn người con nhỏ là Đinh Tuệ (Đinh Toàn), mới sáu tuổi lên làm
vua. Quyền bính ở cả trong tay Thập Đạo Tướng quân Lê Hoàn. Lê Hoàn lại có quan hệ
chặt chẽ với người vợ góa của Đinh Tiên Hoàng là Dương Thái Hậu nên uy thế rất lừng
lẫy. Các công thần cũ của Đinh Bộ Lĩnh như Nguyễn Bặc, Đinh Điền đem quân vây
đánh Lê Hoàn nhưng bị Lê Hoàn tiêu diệt và giết cả.
3. Nhà Tiền Lê (980-1009)
Lê Đại Hành 980-1005 ; Lê Long Việt 1005 ; Lê Long Đĩnh 1005-1009
Nhà Tống lợi dụng sự rối ren trong triều nhà Đinh, chuẩn bị cho quân sang xâm
lược Đại Cồ Việt. Thái hậu Dương Vân Nga trao long cổn (áo bào của vua Đinh Tiên
Hoàng - tượng trưng cho uy quyền của nhà vua) cho Lê Hoàn và cùng quan lại, quân
lính tôn Lê Hoàn lên làm vua.
Lê Hoàn lên ngôi, lấy hiệu là Lê Đại Hành, lập nên nhà Tiền Lê. Để có thời gian
chuẩn bị, nhà vua phái sứ giả qua xin hòa hoãn cùng nhà Tống. Đồng thời nhà vua gấp
rút bày binh bố trận. Đầu năm 981, quân Tống theo hai đường thủy bộ, vào đánh Đại Cồ
Việt. Lê Đại Hành một mặt cho quân chặn đánh toán quân bộ ở Chi Lăng (Lạng Sơn).

tiền, chế tạo vũ khí, may mũ áo... xây cung điện, chùa chiền. Các nghề thủ công truyền
thống cũng phát triển như dệt lụa, làm gốm.
Nhiều trung tâm buôn bán và chợ làng quê được hình thành. Nhân dân hai nước
Việt - Tống thường qua lại trao đổi hàng hóa ở vùng biên giới.
Tóm lại, thời Ngô - Đinh - Tiền Lê, nước ta đã bước đầu xây dựng nền kinh tế tự
chủ trong điều kiện đất nước đã độc lập, các triều vua đã có một số biện pháp khuyến
nông như đào vét kênh, vua tổ chức lễ cày Tịch điền; về thủ công nghiệp, các thợ lành
nghề không còn bị bắt đưa sang Trung Quốc... nên kinh tế đã có sự phát triển.
C. Về văn hóa xã hội:
Xã hội chia thành 3 tầng lớp: tầng lớp thống trị gồm vua, quan văn võ (cùng một
số nhà sư); tầng lớp bị trị mà đa số là nông dân tự do, cày ruộng công làng xã; tầng lớp
cuối cùng là nô tì (số lượng không nhiều).
Nho học chưa tạo được ảnh hưởng, giáo dục chưa phát triển. Đạo Phật được
truyền bá rộng rãi, chùa chiền được xây dựng khắp nơi, nhà sư được nhân dân quý
trọng. Nhiều loại hình văn hóa dân gian như ca hát, nhảy múa, đua thuyền... tồn tại và
phát triển trong thời gian này.
II. Trình bày ngắn gọn công lao của các vị anh hùng dân tộc: Ngô Quyền, Đinh Bộ
Lĩnh, Lê Hoàn?
Ngô Quyền: Người tổ chức và lãnh đạo quân dân ta làm nên chiến thắng trên
sông Bạch Đằng năm 938. Đó là một chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta, kết thúc ách
thống trị hơn một nghìn năm của phong kiến phương Bắc đối với nước ta, mở ra kỉ
nguyên độc lập, tự chủ của đất nước.
Ngô Quyền xưng vương, đặt nền móng cho một quốc gia độc lập, đã khẳng định
nước ta có giang sơn, bờ cõi riêng, do người Việt làm chủ và tự quyết định vận mệnh
của mình.
Đinh Bộ Lĩnh: Là người có công lớn trong việc dẹp “Loạn 12 sứ quân”. Vì trước
nguy cơ ngoại xâm mới (mưu đồ xâm lược nước ta của nhà Tống) đòi hỏi phải nhanh chóng
thống nhất lực lượng để đối phó. Đó cũng là nguyện vọng của nhân dân ta thời bấy giờ. Đinh
Bộ Lĩnh đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử đó.
Việc Đặt tên nước (là Đại Cồ Việt), chọn kinh đô và không dùng niên hiệu của

Lý Công Uẩn lên ngôi, lấy hiệu là Lý Thái Tổ, lập nên nhà Lý. Nhà Lý truyền
được tám đời nên sử sách thường gọi là Lý Bát Đế (không kể đời Lý Chiêu Hoàng).
Lý Thái Tổ với việc dời đô từ Hoa Lư ra Đại La (đổi tên là thành Thăng Long):
Sau khi lên làm vua, Lý Thái Tổ thấy đất Hoa Lư chật hẹp nên cho dời đô về Đại
La (1010) và đổi tên Đại La thành Thăng Long (Hà Nội). Thăng Long bấy giờ nằm vào
vị trí trung tâm của đất nước, là nơi hội tụ của đường bộ, đường sông. Theo quan niệm
của người xưa, Thăng Long có "được cái thế rồng cuộn hổ ngồi; vị trí ở giữa bốn
phương Đông Tây Nam Bắc; tiện hình thế núi sông sau trước... Xem khắp nước Việt ta
chỗ ấy là nơi hơn cả, thật là chỗ hội họp của bốn phương, là nơi đô thành bậc nhất của
đế vương muôn đời" (Chiếu dời đô).
Tổ chức bộ máy nhà nước thời Lý:
Năm 1054, nhà Lý đổi tên nước là Đại Việt và tiến hành xây dựng chính quyền
quân chủ bằng cách tổ chức bộ máy nhà nước gồm :
Chính quyền TW: đứng đầu là vua, dưới có quan đại thần và các quan ở hai ban
văn, võ.
Chính quyền địa phương: cả nước được chia thành 24 lộ, dưới lộ là phủ, dưới
phủ là huyện, dưới huyện là hương, xã.
Đó là chính quyền quân chủ, nhưng khoảng cách giữa chính quyền với nhân dân,
giữa vua với dân chưa phải là đã xa lắm. Nhà Lý luôn coi dân là gốc rễ sâu bền.
2. Trình bày những nét chính về luật pháp, quân đội và chính sách đối nội, đối
ngoại thời Lý:
Luật pháp:
Năm 1042, nhà Lý ban hành bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta có tên là bộ
Luật Hình thư.
Bao gồm những quy định chặt chẽ việc bảo vệ nhà vua và cung điện, xem trọng
việc bảo vệ của công và tài sản của nhân dân; nghiêm cấm việc giết mổ trâu bò, bảo vệ
sản xuất nông nghiệp. Người phạm tội bị xử phạt nghiêm khắc.
Quân đội:
Quân đội thời Lý bao gồm có quân bộ và quân thủy. Vũ khí có giáo mác, dao,
kiếm, cung, nỏ, máy bắn đá. Trong quân còn chia làm hai loại: cấm quân và quân địa

khác. Những người làm nghề thủ công sống rải rác ở các làng, xã phải nộp thuế và làm
nghĩa vụ đối với nhà vua. Nô tì phục vụ trong cung điện, các nhà quan.
Về văn hóa, giáo dục:
Năm 1070, Văn Miếu được xây dựng ở Thăng Long, năm 1076, mở Quốc tử
giám. Nhà nước rất quan tâm giáo dục, khoa cử. Văn học chữ Hán bước đầu phát triển.
Các vua Lý rất sùng đạo Phật, khắp nơi đều dựng chùa, tô tượng, đúc chuông...
Ca hát, nhảy múa, trò chơi dân gian; kiến trúc, điêu khắc... đều phát triển với phong
cách nghệ thuật đa dạng, độc đáo và linh hoạt; tiêu biểu là chùa Một Cột, tượng Phật A-
di-đà, hình rồng thời Lý,...
Việc xây dựng Văn Miếu, Quốc tử giám đánh dấu sự ra đời của nền giáo dục Đại
Việt. Những thành tựu về văn hóa - nghệ thuật đã đánh dấu sự ra đời của một nền văn
hóa riêng của dân tộc - văn hóa Thăng Long.
II. Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống (1075 - 1077) dưới thời Lý đã diễn
ra như thế nào?
1. Âm mưu xâm lược Đại Việt của nhà Tống được thể hiện như thế nào?
Từ giữa thế kỉ XI, tình hình nhà Tống gặp phải những khó khăn: nội bộ mâu
thuẫn, nông dân nổi lên khởi nghĩa, vùng biên ải phía Bắc Tống bị hai nước Liêu - Hạ
quấy nhiễu... Đối với Đại Việt, nhà Tống quyết định dùng chiến tranh để giải quyết tình
trạng khủng hoảng trong nước và đưa nước ta trở lại chế độ đô hộ như trước.
Nhà Tống xúi giục Cham-pa đánh lên từ phía Nam, còn ở biên giới phía Bắc của
Đại Việt chúng ngăn cản việc buôn bán, dụ dỗ, mua chuộc các tù trưởng dân tộc làm
phản.
2. Trước âm mưu xâm lược của nhà Tống, nhà Lý đã chủ động chuẩn bị
kháng chiến ra sao?
Nhà Lý đã cử Lý Thường Kiệt làm người chỉ huy, tổ chức cuộc kháng chiến.
Quân đội được mộ thêm người và tăng cường canh phòng, luyện tập, làm thất bại âm
mưu dụ dỗ của nhà Tống. Lý Thánh Tông cùng Lý Thường Kiệt đem quân đánh Cham-
pa.
Thực hiện chủ trương “tiến công trước để tự vệ”, tháng 10 - 1075, Lý Thường Kiệt
đem 10 vạn quân bất ngờ tấn công vào châu Khâm, châu Liêm (Quảng Đông), sau khi

đáo: để đảm bảo mối quan hệ bang giao hòa hiếu giữa hai nước sau chiến tranh, không
làm tổn thương danh dự của nước lớn, bảo đảm hòa bình lâu dài. Đó là truyền thống
nhân đạo của dân tộc ta.
III. Nhân vật tiêu biểu
Ngoài những ông vua lỗi lạc của nhà Lý như Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý
Thánh Tông, Lý Nhân Tông, nước Việt thời Lý còn có những nhân vật nổi tiếng như Lê
Phụng Hiểu, Lý Đạo Thành, Lê Văn Thịnh... đặc biệt có Lý Thường Kiệt, một nhà quân
sự tài ba và Ỷ Lan Nguyên phi, một người phụ nữ đã phát huy được khả năng trong việc
cai trị đất nước.
Ỷ Lan nguyên phi
Ỷ Lan quê ở làng Thổ Lỗi (Thuận Thành, Hà Bắc). Năm 1062, vua Lý Thánh
Tông đã 40 tuổi mà không có con nên thường đi các nơi để cầu tự. Một hôm vua qua
làng Thổ Lỗi, trong khi mọi người đổ ra đường xem xa giá thì bà đang hái dâu, chỉ đứng
dựa cây lan mà nhìn. Vua thấy thế làm lạ, cho gọi đến để hỏi. Thấy bà xinh đẹp, đối đáp
dịu dàng lại thông minh sắc sảo, vua đưa về cung và phong làm Ỷ Lan phu nhân. Năm
1066 bà sinh Thái tử Càn Đức và được phong là Nguyên phi.
Lúc bấy giờ giữa Đại Việt và Cham-pa đang xảy ra chiến tranh biên giới. Vua Lý
Thánh Tông phải thân chinh đi đánh (1069). Vua giao cho bà quyền giám quốc. Sau
nhiều trận không thành công, Lý Thánh Tông rút quân về nước. Trên đường về kinh đô,
nghe báo là bà Ỷ Lan thay vua trị nước được yên vui, Thánh Tông nghĩ: "Người đàn bà
trị nước còn được như thế, ta đi đánh Chiêm Thành không thành công, thế ra đàn ông
hèn lắm à!” Vua đem quân trở lại và lần này chiến thắng.
Năm 1072, Lý Thánh Tông mất, Thái tử Càn Đức mới bảy tuổi lên nối ngôi. Bà
được phong làm Thái phi. Có tài liệu ghi rằng lúc bấy giờ Thái hậu họ Dương buông
rèm lo việc triều chính. Ỷ Lan lên làm Hoàng Thái Hậu (tức Linh Nhân Thái Hậu) giúp
vua trị nước. Trước họa nhà Tống lăm le xâm lăng Đại Việt, bà đã nghe theo lời Lý
Thường Kiệt cho gọi Lý Đạo Thành trở lại giữ chức Thái phó Bình Chương quân quốc
trọng sự để lo việc triều chính. Đây là lúc triều đình nhà Lý tổ chức thắng lợi cuộc
kháng chiến chống quân Tống. Lý Thường Kiệt đã đem quân đánh sang tận Ung Châu,
Liêm Châu, năm sau chặn đứng quân xâm lăng ở sông Như Nguyệt buộc chúng phải rút

nghị cùng Ỷ Lan mời Lý Đạo Thành về lại triều đình giữ chức Thái phó trông coi việc
triều chính. Trước họa nước, Lý Đạo Thành hợp lực cùng Lý Thường Kiệt tích cực
chuẩn bị việc đối phó.
Cuối năm 1075, Lý Thường Kiệt đem 10 vạn quân tiến sang đất Tống đánh vào
Khâm Châu, Liêm Châu và Ung Châu. Sau 42 ngày vây hãm, quân Việt chiếm được thành
Ung Châu. Sau khi phá hủy phần lớn căn cứ hậu cần của quân Tống, tháng 4.1076, Lý
Thường Kiệt cho rút quân về. Cuối năm ấy, nhà Tống cử tướng Quách Quỳ đem 30 vạn
quân theo hai đường thủy bộ sang xâm lược Đại Việt. Lý Thường Kiệt cho lập phòng
tuyến kiên cố dọc theo sông Như Nguyệt để chặn địch. Đồng thời ông cũng cho quân đón
đánh thủy binh địch và đã ngăn được hai cánh quân thủy bộ của địch phối hợp với nhau.
Trên phòng tuyến Như Nguyệt, chiến trận diễn ra ác liệt. Để cổ vũ quân sĩ, ông làm nên bài
thơ và cho người đêm khuya vào đền thờ Trương Hát ở bờ Nam sông Như Nguyệt giả thần
nhân đọc vang lên:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
(Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận ở sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời)
Nhờ thế tinh thần quân sĩ thêm hăng hái. Sau hơn ba tháng đánh không thắng, lực
lượng bộ binh không thể sang sông vì thiếu thủy binh hỗ trợ, quân Tống bị chết mất quá
nửa lại thêm bệnh tật đe dọa, Quách Quỳ lâm vào thế quẫn bách. Lý Thường Kiệt chủ
động đề nghị hòa để mở lối thoát cho quân địch nhằm sớm chấm dứt chiến tranh. Đến
tháng ba năm 1077 Quách Quỳ rút quân về nước. Từ đấy quân Tống từ bỏ ý định xâm
lược Đại Việt.
Chủ đề 5
NƯỚC ĐẠI VIỆT THỜI TRẦN (THẾ KỈ XIII - XV) VÀ NHÀ HỒ (ĐẦU
THẾ KỈ XV)

Điều đó chứng tỏ nhà Trần đã quan tâm hơn đến nhiều mặt hoạt động của đất
nước và năng lực quản lí được nâng cao.
Bên cạnh đó là việc nhà Trần rất quan tâm đến pháp luật như ban hành bộ luật
mới mang tên “Quốc triều hình luật” (nội dung giống như bộ luật Hình thư thời Lý
nhưng được bổ sung thêm). Luật xác nhận và bảo vệ quyền tư hữu tài sản. Đồng thời có
những biện pháp để tăng cường và hoàn thiện cơ quan pháp luật như thành lập Thẩm
hình viện, là cơ quan chuyên việc xét xử kiện cáo.
Những việc làm trên đã làm cho pháp luật nhà nước được thực hiện nghiêm minh;
góp phần tích cực, có hiệu quả vào việc củng cố vương triều nhà Trần, ổn định xã hội và
phát triển kinh tế.
3. Nêu những chủ trương và biện pháp tích cực, tiến bộ của nhà Trần trong
việc xây dựng quân đội và củng cố quốc phòng?
Nhà Trần đã có những chủ trương và biện pháp tích cực, tiến bộ trong việc xây
dựng quân đội, củng cố quốc phòng:
Quân đội thời Trần, gồm có cấm quân (đạo quân bảo vệ kinh thành, triều đình và
nhà vua) và quân ở các lộ; ở làng xã có hương binh; ngoài ra còn có quân của các vương
hầu. Bố trí tướng giỏi, quân đông ở những vùng hiểm yếu, nhất là biên giới phía Bắc.
Đó là cách tổ chức rất chặt chẽ và chuyên nghiệp với tinh thần chủ động và cảnh giác
cao, tạo ra sức mạnh tổng hợp giữa quân chủ lực và quân địa phương trong luyện tập và
phòng thủ.
Quân đội được tuyển và huấn luyện theo chính sách “ngụ binh ư nông” (gửi binh
trong dân), “quý hồ tinh bất quý hồ đa” (quân lính cốt tinh nhuệ, không cốt đông); coi
trọng học tập binh pháp và huấn luyện võ nghệ. Việc binh lính luân phiên tại ngũ và về
làm ruộng, vừa bảo đảm việc huấn luyện đội quân thường trực lại vừa bảo đảm phát
triển kinh tế.
Với chủ trương: lấy đoản binh thắng trường trận, lấy ngắn đánh dài, xây dựng tình
đoàn kết “tướng sỹ một lòng phụ tử”, đoàn kết quân dân, khoan thư sức dân làm kế sâu
rễ, bền gốc... cùng cách tổ chức, huấn luyện nói trên, nhà Trần đã xây dựng được một
đội quân tinh nhuệ, củng cố vững chắc sức mạnh quốc phòng, phát huy được sức mạnh
tổng hợp trong phát triển kinh tế và bảo vệ đất nước.

Nghệ thuật:

Trích đoạn Phong trào nông dân Tây Sơn. Quang Trung và công cuộc kiến thiết đất nước.
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status