LỚP 8
PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI
LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI
(Từ giữa thế kỉ XVI đến năm 1917)
Chủ đề 1. CÁCH MẠNG TƯ SẢN VÀ SỰ XÁC LẬP CỦA CHỦ
NGHĨA TƯ BẢN
(Từ giữa thế kỉ XVI đến nửa sau thế kỉ XIX)
I. Những cuộc cách mạng tư sản đầu tiên:
1. Trình bày những chuyển biến lớn về kinh tế, chính trị, xã hội ở Tây
Âu trong các thế kỉ XV - XVII?
- Đến thế kỉ XV, yếu tố kinh tế TBCN ở Tây Âu đã phát triển khá
mạnh, với nhiều công trường thủ công như dệt vải, luyện kim, nấu đường...
có thuê mướn nhân công, biến Tây Âu thành những trung tâm sản xuất và
buôn bán lớn (nền sản xuất mới TBCN đã ra đời trong lòng xã hội PK châu
Âu).
- Trong xã hội, hai giai cấp mới được hình thành là tư sản và vô sản.
Giai cấp tư sản có thế lực lớn về kinh tế, nhưng trên thực tế họ vẫn là giai
cấp bị trị, bị chế độ PK kìm hãm, chèn ép. Vì vậy mâu thuẫn giữa tư sản và
nhân dân nói chung với chế độ PK rất gay gắt.
Đây là nguyên nhân sâu xa làm bùng nổ các cuộc cách mạng tư sản.
2. Cách mạng Hà Lan thế kỉ XVI - cuộc cách mạng tư sản đầu
tiên.
+ Nguyên nhân:
- Vào thế kỉ XVI, nền kinh tế TBCN ở Nê-đéc-len (vùng đất bao gồm
Bỉ và Hà Lan ngày nay) phát triển mạnh nhất châu Âu, nhưng lại bị Vương
quốc Tây Ban Nha thống trị (từ thế kỉ XII), ra sức ngăn cản sự phát triển
này.
- Chính sách cai trị hà khắc của thực dân Tây Ban Nha ngày càng làm
tăng thêm mâu thuẫn dân tộc.
+ Diễn biến:
- Nhiều cuộc đấu tranh của nhân dân Nê-đéc-lan chống lại chính
* Năm 1642, nội chiến bùng nổ, bước đầu thắng lợi nghiêng về
phía nhà vua. Nhưng từ khi Ô-li-vơ Crôm-oen lên làm chỉ huy quân đội
Quốc hội, xây dựng quân đội có kỉ luật đã liên tiếp đánh bại quân đội
của nhà vua. Sác-lơ I bị bắt.
- Giai đoạn 2 (1649 - 1688)
* Ngày 30 - 1 - 1649, Crôm-oen đưa vua Sác-lơ I ra xử tử. Nước Anh
chuyển sang nền cộng hòa và cách mạng đạt tới đỉnh cao.
* Tuy nhiên, chỉ có giai cấp tư sản và quý tộc mới được hưởng quyền
lợi, còn nhân dân không có gì. Vì vậy họ tiếp tục đấu tranh.
* Để đối phó với cuộc đấu tranh của nhân dân, quý tộc mới và tư sản
lại thỏa hiệp với phong kiến, đưa Vin-hem Ô-ran-giơ (Quốc trưởng Hà Lan
và là con rể của vua Giêm II) lên ngôi, thiết lập chế độ quân chủ lập hiến.
Cách mạng tư sản Anh kết thúc, đây là cuộc cách mạng không triệt
để.
+ Ý nghĩa lịch sử của cuộc cách mạng:
- Cuộc cách mạng tư sản Anh do tầng lớp quý tộc mới liên minh với
giai cấp tư sản lãnh đạo, được đông đảo quần chúng nhân dân ủng hộ đã
giành được thắng lợi, đưa nước Anh phát triển theo con đường TBCN.
- Tuy nhiên, đây là cuộc cách mạng không triệt để vì vẫn còn “ngôi vua”.
Mặt khác, cách mạng chỉ đáp ứng được quyền lợi cho giai cấp tư sản và quý tộc
mới, còn nhân dân không được hưởng chút quyền lợi gì.
4. Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ.
+ Tình hình các thuộc địa. Nguyên nhân của chiến tranh.
- Sau khi Cô-lôm-bô tìm ra châu Mĩ, người Anh đến Bắc Mĩ ngày
càng nhiều. Đến thế kỉ XVIII, họ đã thiết lập được 13 thuộc địa và tiến
hành chính sách cai trị, bóc lột nhân dân ở đây.
- Giữa thế kỉ XVIII, nền kinh tế TBCN ở 13 thuộc địa phát triển
mạnh, nhưng thực dân Anh tìm mọi cách ngăn cản, kìm hãm như tăng
thuế, độc quyền buôn bán trong và ngoài nước... Vì vậy, mâu thuẫn giữa
toàn thể nhân dân Bắc Mĩ và giai cấp tư sản, chủ nô với thực dân Anh trở
- Tuy nhiên, cũng như Cách mạng tư sản Anh, cuộc cách mạng này
không triệt để vì chỉ có giai cấp tư sản, chủ nô được hưởng quyền lợi, còn nhân
dân lao động nói chung không được hưởng chút quyền lợi gì.
II. Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII.
1. Tình hình kinh tế xã hội Pháp trước cách mạng.
+ Tình hình kinh tế:
- Giữa thế kỉ XVIII, nền nông nghiệp Pháp vẫn lạc hậu, công cụ canh
tác rất thô sơ (chủ yếu dùng cày, cuốc) nên năng suất thấp. Nạn mất mùa, đói
kém thường xuyên xảy ra, đời sống nhân dân rất khổ cực.
- Trong lĩnh vực công thương nghiệp, kinh tế TBCN đã phát triển
nhưng lại bị chế độ PK cản trở, kìm hãm. Nước Pháp bấy giờ lại chưa có sự
thống nhất về đơn vị đo lường và tiền tệ.
+ Tình hình chính trị, xã hội;
- Trước CM, Pháp vẫn là nước quân chủ chuyên chế do vua Lu-i XVI
đứng đầu. Xã hội tồn tại ba đẳng cấp là Tăng lữ, Quý tộc và Đẳng cấp thứ
ba.
- Đẳng cấp Tăng lữ, Quý tộc có trong tay mọi quyền lợi, không phải
đóng thuế. Trong khi đó Đẳng cấp thứ ba (gồm tư sản, nông dân và dân
nghèo thành thị) không có quyền lợi gì, phải đóng nhiều thứ thuế. Nông
dân chiếm 90% dân số, là giai cấp nghèo khổ nhất.
- Mâu thuẫn giữa Đẳng cấp thứ ba với các Đẳng cấp Tăng lữ, Quý tộc
ngày càng gay gắt. Nên dưới sự lãnh đạo của giai cấp tư sản, nông dân Pháp
hăng hái tham gia cách mạng để lật đổ chế độ phong kiến.
+ Cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng:
- Thời kì này, đại diện cho trào lưu triết học Ánh sáng Pháp là Mông-
te-xki-ơ, Vôn-te, Giăng Giắc Rút-xô đã ủng hộ những tư tưởng tiến bộ của
giai cấp tư sản, kịch liệt tố cáo và lên án chế độ quân chủ chuyên chế của
Lu-i XVI.
- Cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng đã thúc đẩy cách mạng sớm
bùng nổ.
lãnh đạo nhân dân tiếp tục làm cách mạng, lật đổ phái Lập hiến và xóa bỏ
chế độ PK.
- Giai đoạn phái Gi-rông-đanh tiếp tục làm cách mạng, lật đổ phái
Lập hiến và thiết lập nền cộng hòa (từ ngày 21 - 9 - 1792 đến ngày 2 - 6 -
1793).
* Sau khi lật đổ phái Lập hiến và xóa bỏ chế độ PK, phái Gi-rông-
đanh bầu ra Quốc hội mới, thiết lập nền cộng hòa. Ngày 21 - 1 - 1793, vua
Lu-i XVI bị xử tử vì tội phản quốc.
* Mùa xuân năm 1793, quân Anh cùng quân đội các nước PK châu Âu
tấn công nước Pháp. Bọn phản động trong nước ở mọi nơi cũng nổi dậy tấn
công cách mạng, làm cho tình hình nước Pháp gặp nhiều khó khăn. Trong khi
đó, phái Gi-rông-đanh không lo chống ngoại xâm, nội phản, chỉ lo củng cố
quyền lực.
* Ngày 2 - 6 - 1793, dưới sự lãnh đạo của phái Gia-cô-banh, đứng
đầu là Rô-be-spie, quần chúng nhân dân đã lật đổ phái Gi-rông-đanh.
- Giai đoạn phái Gia-cô-banh lãnh đạo nhân dân lật đổ phái Gi-
rông-đanh và thiết lập nền chuyên chính dân chủ Gia-cô-banh.
* Sau khi lật đổ phái Gi-rông-đanh, phái Gia-cô-banh được sự ủng hộ
của nhân dân lên nắm chính quyền, thiết lập nền chuyên chính dân chủ do
Rô-be-spie đứng đầu. Chính quyền cách mạng đã thi hành nhiều biện pháp
quan trọng để trừng trị bọn phản cách mạng, giải quyết những yêu cầu của
nhân dân như: xóa bỏ mọi nghĩa vụ của nông dân đối với PK, chia ruộng
đất cho nông dân, quy định giá bán các mặt hàng cho dân nghèo,...
* Phái Gia-cô-banh cũng ban hành lệnh tổng động viên, xây dựng đội
quân cách mạng hùng mạnh, nhờ đó đã đánh bại bọn ngoại xâm và nội
phản.
* Do nội bộ chia rẽ, nhân dân lại không ủng hộ như trước (do phái
Gia-cô-banh không đem lại đầy đủ quyền lợi cho họ như đã hứa), nên
phái tư sản phản cách mạng đã tiến hành đảo chính, bắt Rô-be-spie để xử
tử (28 - 7 - 1794). Cách mạng kết thúc vào cuối thế kỉ XVIII.
triều đình phong kiến do vua đứng đầu và mọi quyền lực tập trung trong
tay nhà vua. Chế độ quân chủ lập hiến: Chế độ chính trị của một nước,
trong đó quyền lực của vua bị hạn chế bằng một Hiến pháp do Quốc
hội tư sản định ra... Nhà vua tuy ở ngôi (trị vì) nhưng không nắm thực
quyền cai trị.
- Đẳng cấp: Là những tầng lớp xã hội được hình thành dưới chế độ
PK, do luật pháp hoặc tập tục quy định về vị trí xã hội, quyền lợi và nghĩa
vụ phác nhau.
- Quý tộc mới: Tầng lớp quý tộc PK đã tư sản hóa, kinh doanh theo
TBCN, xuất hiện ở châu Âu vào thế kỉ XVI, mạnh nhất ở Anh, là lực lượng
quan trọng lãnh đạo Cách mạng tư sản Anh thế kỉ XVII.
- Đẳng cấp thứ ba: Đẳng cấp thấp nhất trong xã hội PK Pháp trước
năm 1789, gồm công nhân, dân nghèo thành thị, tư sản và nông dân. Họ
không có quyền gì, bị PK thống trị và phải đóng mọi thứ thuế.
- Phái Lập hiến, phái Gi-rông-đanh, phái Gia-cô-banh: Phái Lập
hiến gồm tầng lớp đại tư sản để phân biệt với phái Gi-rông-đanh gồm tầng
lớp tư sản công thương và phái Gia-cô-banh gồm những người dân chủ
cách mạng được quần chúng ủng hộ.
- Khái niệm “cách mạng tư sản”: Cuộc cách mạng do giai cấp tư
sản lãnh đạo (ở Anh là quý tộc mới) nhằm đánh đổ chế độ phong kiến đã
lỗi thời, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển, xác lập sự thống trị của
giai cấp tư sản.
III. Sự xác lập của CNTB trên phạm vi thế giới.
1. Cách mạng công nghiệp là gì? Nó đã được tiến hành ra sao? Hệ quả
kinh tế, xã hội của cách mạng công nghiệp?
a. Khái niệm “cách mạng công nghiệp”: Bước phát triển của nền
sản xuất TBCN, diễn ra đầu tiên ở Anh rồi lan ra các nước khác. Nó thúc
đẩy việc phát minh ra máy móc, đẩy mạnh sản xuất và hình thành hai giai
cấp tư sản và vô sản.
b. Cách mạng công nghiệp đã diễn ra như thế nào?
c. Hệ quả của cách mạng công nghiệp:
+ Cách mạng công nghiệp đã làm thay đổi bộ mặt các nước tư bản,
như nâng cao năng suất lao động, hình thành các trung tâm kinh tế, các
thành phố lớn,...
+ Về xã hội, hình thành hai giai cấp cơ bản của chế độ TBCN là tư
sản và vô sản mâu thuẫn với nhau, dẫn đến các cuộc đấu tranh giai cấp trong
xã hội tư bản.
2. Tại sao có thể nói: “Đến cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, chủ
nghĩa tư bản đã xác lập và thắng lợi trên phạm vi toàn thế giới”?
+ Những cuộc CMTS tiếp tục nổ ra ở khu vực Mĩ La-tinh và châu
Âu trong tế kỉ XIX:
- Do sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế TBCN, cộng với những tác
động từ cuộc Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ,
Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII, nhân dân các nước thuộc địa ở
khu vực Mĩ La-tinh đã nổi dậy đấu tranh lật đổ ách thống trị của thực dân
Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, giành chính quyền về tay mình, thành lập
hàng loạt quốc gia tư sản như Cô-lôm-bi-a, Ác-hen-ti-na, Chi-lê, Vê-nê-
xu-lê-a,...
- Ở châu Âu, tháng 7 - 1830, phong trào cách mạng tư sản lại tiếp tục nổ
ra ở Pháp, sau đó nhanh chóng lan ra các nước Bỉ, Đức, I-ta-li-a, Ba Lan,... làm
rung chuyển chế độ PK châu Âu và đế quốc Áo - Hung.
- Ở I-ta-li-a, từ năm 1859 đến năm 1870, dưới sự lãnh đạo của quý
tộc tư sản hóa, đại diện là Ca-vua, sau đó là người anh hùng dân tộc Ga-
ri-ban-đi, các vương quốc ở I-ta-li-a đã thoát khỏi sự thống trị của đế quốc
Áo và thống nhất vương quốc I-ta-li-a, mở đường cho CNTB phát triển.
- Ở Đức, từ năm 1864 đến năm 1871, giai cấp tư sản và quý tộc quân
phiệt Phổ - đại diện là Bi-xmác đã lãnh đạo nhân dân tiến hành công cuộc
thống nhất, đưa nước Đức phát triển theo con đường TBCN.
- Ở Nga, năm 1861, Nga hoàng A-lếch-xan-đrơ II đã ban bố “Sắc
lệnh giải phóng nông nô”, nhờ đó tạo thêm nguồn nhân công cho nền sản
công xưởng (do nhận thức sai lầm, cho rằng máy móc là nguyên nhân gây ra
sự cực khổ cho họ). Cuộc đấu tranh nổ ra ở Anh, sau đó là Pháp, Đức, Bỉ,...
- Đến đầu thế kỉ XIX, công nhân đã chuyển sang đấu tranh với hình
thức bãi công, đòi tăng lương và giảm giờ làm, thành lập các tổ chức công
đoàn để bảo vệ mình.
+ Phong trào công nhân trong những năm 1830 - 1840:
- Trong những năm 1830 - 1840, phong trào công nhân ở các nước
Pháp, Đức, Anh phát triển mạnh. Năm 1831, công nhân dệt ở thành phố Li-
ông (Pháp) khởi nghĩa đòi tăng lương, giảm giờ làm. Họ nêu cao khẩu hiệu
“Sống trong lao động, chết trong chiến đấu”. Cuộc khởi nghĩa cuối cùng bị giới
chủ đàn áp.
- Năm 1844, công nhân dệt vùng Sơ-đê-lin (Đức) khởi nghĩa chống
lại sự hà khắc của giới chủ.
- Từ năm 1836 đến năm 1847, ở Anh diễn ra “Phong trào Hiến
chương” có quy mô, tổ chức và mang tính chất chính trị rõ rệt.
- Các cuộc đấu tranh nêu trên tuy cuối cùng đều bị thất bại, nhưng nó
đánh dấu sự trưởng thành của phong trào công nhân quốc tế, tạo điều kiện
cho sự ra đời của lí luận cách mạng sau này.
2. Trình bày những hiểu biết của em về những hoạt động, đóng
góp của C. Mác và Ph. Ăng-ghen đối với phong trào công nhân quốc
tế?
+ C. Mác và Ph. Ăng-ghen:
- C. Mác sinh năm 1818 trong một gia đình trí thức gốc Do Thái ở Ti-
ri-ơ (Đức). Từ nhỏ, Mác nổi tiếng là người thông minh, rất quý trọng người
lao động. Sau khi đỗ Tiến sĩ Triết học, Mác vừa nghiên cứu khoa học, vừa
có nhiều đóng góp cho phong trào cách mạng Đức và châu Âu.
- Ph. Ăng-ghen sinh năm 1820 trong một gia đình chủ xưởng giàu có ở
Bác-men (Đức). Khi lớn lên, Ăng-ghen hiểu rõ những thủ đoạn bóc lột của giai
cấp tư sản đối với người lao động. Vì vậy, năm 1842, ông sang Anh để tìm hiểu
về đời sống của người công nhân và đã viết cuốn “Tình cảnh giai cấp công nhân
thành lập Công xã Pa-ri?
+ Hoàn cảnh ra đời của Công xã Pa-ri:
- Để giảm bớt mâu thuẫn trong nước và ngăn cản sự phát triển của
nước Đức thống nhất, Pháp tuyên chiến với Phổ, song chiến tranh đã gây
cho Pháp nhiều khó khăn.
- Ngày 2 - 9 - 1870, Hoàng đế Na-pô-lê-ông III cùng toàn bộ 10 vạn
quân chủ lực Pháp bị quân Phổ bắt làm tù binh. Nhân cơ hội này, ngày 4 -
7 - 1870, nhân dân Pa-ri (phần lớn là công nhân và tiểu tư sản) đứng lên
khởi nghĩa.
- Chính quyền của Na-pô-lê-ông II bị lật đổ, nhưng giai cấp tư sản đã
cướp mất thành quả cách mạng của quần chúng nhân dân, thành lập Chính
phủ lâm thời tư sản, mang tên “Chính phủ vệ quốc”.
- Khi quân Phổ kéo vào nước Pháp và bao vây Pa-ri, Chính phủ tư sản
hèn nhát, vội vàng xin đình chiến. Trước tình hình đó, quần chúng nhân dân
một lần nữa đứng lên quyết chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.
+ Cuộc khởi nghĩa ngày 18 - 3 - 1871. Sự thành lập Công xã Pa-ri:
- Khi mâu thuẫn giữa Chính phủ tư sản (ở Véc-xai) với nhân dân ngày
càng gay gắt, Chi-e tiến hành âm mưu bắt hết các ủy viên của Ủy ban Trung
ương (đại diện cho nhân dân).
- Ngày 18 - 3 - 1871, Chi-e cho quân đánh úp đồi Mông-mác (Bắc Pa-ri) -
là nơi tập trung đại bác của Quốc dân quân, nhưng cuối cùng chúng đã thất bại.
Âm mưu chiếm đồi Mông-mác không thành, Chi-e phải cho quân chạy về Véc-
xai. Nhân dân nhanh chóng làm chủ Pa-ri và đảm nhiệm vai trò Chính phủ lâm
thời.
- Ngày 26 - 3 - 1871, nhân dân Pa-ri tiến hành bầu cử Hội đồng Công
xã theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu. Những người trúng cử phần đông
là công nhân và trí thức - đại diện cho nhân dân lao động Pa-ri.
+ Tổ chức bộ máy và chính sách của Công xã Pa-ri:
- Tổ chức bộ máy: (Theo sơ đồ)
HỘI ĐỒNG
- Từ ngày 20 đến ngày 28 - 5 - 1871, Chi-e cho quân tấn công thành
phố Pa-ri. Cuộc chiến đấu giữa hai bên đã diễn ra ác liệt trong suốt một tuần
lễ, trở thành “Tuần lễ đẫm máu”.
- Tham gia chiến đấu chống quân của chính phủ Véc-xai có cả người
già, phụ nữ và trẻ em. Các chiến sĩ Công xã đã chiến đấu và hi sinh đến
người cuối cùng tại nghĩa địa Cha La-se-dơ.
+ Ý nghĩa, bài học lịch sử của Công xã Pa-ri:
- Tuy chỉ tồn tại 72 ngày (từ ngày 18 - 3 đến ngày 28 - 5 -1871),
nhưng Công xã Pa-ri có ý nghĩa lịch sử to lớn. Công xã là hình ảnh thu nhỏ
của một chế độ xã hội mới, đem lại niềm tin và mơ ước về một tương lai tốt
đẹp cho nhân dân lao động.
- Công xã đã để lại bài học kinh nghiệm quý báu: muốn cách mạng
vô sản thắng lợi thì phải có đảng cách mạng chân chính lãnh đạo; phải
thực hiện liên minh công nông và phải kiên quyết trấn áp kẻ thù của cách
mạng ngay từ đầu.
II. Trình bày những chuyển biến lớn và những đặc điểm nổi bật
của các nước Anh, Pháp, Đức, Mĩ trong giai đoạn cuối thế kỉ XIX - đầu
thế kỉ XX?
1. Anh:
+ Về kinh tế: Trước năm 1870, Anh đứng đầu thế giới về sản xuất
công nghiệp, nhưng từ sau 1870, Anh mất dần vị trí này và tụt xuống hàng
thứ ba thế giới (sau Mĩ và Đức).
Tuy mất vai trò bá chủ thế giới về công nghiệp, nhưng Anh vẫn đứng
đầu về xuất khẩu tư bản, thương mại và thuộc địa. Nhiều công ti độc quyền
về công nghiệp và tài chính đã ra đời, chi phối toàn bộ nền kinh tế.
+ Về chính trị: Anh là nước quân chủ lập hiến, hai đảng Bảo thủ và
Tự do thay nhau cầm quyền, bảo vệ quyền lợi cho giai cấp tư sản.
+ Về đối ngoại: Anh ưu tiên và đẩy mạnh chính sách xâm lược thuộc
địa. Đến năm 1914, thuộc địa Anh trải rộng khắp thế giới với 33 triệu km
2
Đức là đế quốc “trẻ”, khi công nghiệp phát triển mạnh đòi hỏi cần có
nhiều vốn, nguyên liệu và thị trường. Những thứ này ở các nước châu Á,
châu Phi rất nhiều nhưng đã bị các đế quốc “già’ (Anh, Pháp) chiếm hết. Vì
vậy, Đức hung hãn đòi dùng vũ lực để chia lại thị trường thế giới. Đặc điểm
của đế quốc Đức là “chủ nghĩa đế quốc quân phiệt hiếu chiến”.
4. Mĩ:
+ Về kinh tế: Trước năm 1870, tư bản Mĩ đứng thứ tư thế giới (sau
Anh, Pháp và Đức). Từ năm 1870 trở đi, công nghiệp Mĩ đã phát triển
mạnh, vươn lên vị trí số 1 thế giới. Sản phẩm công nghiệp Mĩ luôn gấp đôi
Anh và gấp 1/2 các nước Tây Âu gộp lại.
Công nghiệp phát triển mạnh đã dẫn đến sự tập trung tư bản cao độ.
Nhiều công ti độc quyền ở Mĩ ra đời như “vua dầu mỏ” Rốc-phe-lơ, “vua
thép” Moóc-gan, “vua ô tô” Pho,...đã chi phối toàn bộ nền kinh tế Mĩ. Mĩ là
“chủ nghĩa đế quốc với những công ti độc quyền”.
Nông nghiệp, nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, lại áp dụng phương
thức canh tác hiện đại, Mĩ vừa đáp ứng đầy đủ nhu cầu lương thực trong
nước, vừa xuất khẩu cho thị trường châu Âu.
+ Về chính trị, đối ngoại: Mĩ theo chế độ cộng hòa, đứng đầu là Tổng
thống. Hai đảng Dân chủ và Cộng hòa thay nhau cầm quyền, thi hành chính
sách đối nội và đối ngoại phục vụ cho giai cấp tư sản.
Cũng như Đức, Mĩ là đế quốc “trẻ”, khi công nghiệp phát triển mạnh
thì nhu cầu về vốn, nguyên liệu và thị trường trở nên cấp thiết. Để đáp ứng
cho nhu cầu phát triển kinh tế tư bản, Mĩ tăng cường bành trướng ở khu vực
Thái Bình Dương, gây chiến tranh với Tây Ban Nha để tranh giành thuộc
địa, dùng vũ lực và đồng đôla để can thiệp vào khu vực Mĩ La-tinh.
* Chuyển biến quan trọng nhất của các nước đế quốc cuối thế kỉ
XIX - đầu thế kỉ XX là gì?
+ Chuyển biến lớn nhất và rõ rệt nhất ở các nước đế quốc cuối thế kỉ XIX
- đầu thế kỉ XX là sự hình thành các tổ chức độc quyền, chi phối toàn bộ đời
sống xã hội. Ở Mĩ có “vua dầu mỏ”, “vua thép”; ở Đức có các ông chủ độc
công nhân thế giới, làm chậm lại quá trình chiến tranh đế quốc của các
nước,... Ăng-ghen được coi là “linh hồn của Quốc tế thứ hai”.
+ Khi chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ (1914), Quốc tế thứ hai đã
bị phân hóa, trừ Đảng công nhân xã hội dân chủ Nga vẫn tiếp tục hoạt động
tích cực, gắn với lãnh tụ Lê-nin.
2. Phong trào công nhân Nga và cuộc Cách mạng 1905 - 1907.
a. Trình bày những hiểu biết của em về Lê-nin và sự ra đời của
Đảng Bôn-sê-vích?
+ Lê-nin sinh ngày 22 - 4 - 1870 trong một gia đình nhà giáo tiến bộ.
Từ nhỏ, Lê-nin đã sớm có tinh thần cách mạng chống lại chế độ chuyên chế
Nga hoàng. Năm 1893, Lê-nin trở thành người lãnh đạo của nhóm công
nhân mác-xít ở Pê-téc-bua, rồi bị bắt và bị tù đày.
+ Năm 1903, Lê-nin thành lập Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga,
thông qua cương lĩnh cách mạng lật đổ chính quyền tư sản, xây dựng xã hội
chủ nghĩa.
* Những điểm chứng tỏ Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga do Lê-
nin sáng lập là đảng kiểu mới:
+ Tháng 7/1903: Đại hội Đại biểu lần thứ Hai của Đảng Công nhân
xã hội dân chủ Nga đã thông qua cương lĩnh khẳng định nhiệm vụ:
- Làm Cách mạng XHCN, đánh đổ chính quyền tư sản, thành lập
chính quyền vô sản; trước mắt là đánh đổ Nga hoàng.
- Sau đó đã hình thành hai phái: phái Men-sê-vích (theo đường lối bảo
thủ, xét lại, cơ hội chủ nghĩa...); phái Bôn-sê-vích (theo đường lối tích cực,
xã hội chủ nghĩa).
+ Đó là một Đảng Vô sản kiểu mới bởi vì:
- Triệt để đấu tranh vì quyền lợi của giai cấp công nhân, thể hiện tính
giai cấp và đấu tranh triệt để.
- Chống chủ nghĩa cơ hội, tuân theo nguyên lý chủ nghĩa Mác (đánh
đổ chế độ tư sản, thực hiện chuyên chính vô sản, xây dựng chế độ XHCN).
- Dựa vào quần chúng nhân dân lao động, lãnh đạo nhân dân đấu
- Cách mạng 1905 - 1907 tuy thất bại nhưng nó đã góp phần làm lung
lay đến tận gốc rễ chính phủ Nga hoàng và bọn tư sản.
- Là bước chuẩn bị cần thiết cho cuộc cách mạng XHCN sẽ diễn ra 10
năm sau đó. Đồng thời, Cách mạng Nga 1905 - 1907 đã cổ vũ mạnh mẽ
phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc trên thế
giới.
III. Sự phát triển của kĩ thuật, khoa học, văn học và nghệ thuật thế
kỉ XVIII - XIX.
1. Những thành tựu về kĩ thuật:
+ Cuộc CM công nghiệp bắt đầu ở Anh, sau đó là Pháp, Đức, Mĩ,...
đã tạo nên một cuộc cách mạng trong sản xuất, chuyển từ lao động thủ công
sang lao động bằng máy móc, đưa nền kinh tế các nước phát triển nhanh
chóng.
+ Việc phát minh ra máy hơi nước đã phát triển ngành giao thông vận
tải đường thủy và đường sắt ra đời. Năm 1807, kĩ sư người Mĩ là Phơn-tơn
đã đóng được tàu thủy chạy bằng động cơ hơi nước đầu tiên có thể vượt
được đại dương.
+ Năm 1814, thợ máy người Anh là Xti-phen-xơn đã chế tạo thành
công xe lửa chạy trên đường sắt chở được nhiều hành khách và hàng hóa
trên các toa, đạt tốc độ 6 km/ giờ, mở đầu cho sự ra đời của ngành đường
sắt.
+ Máy điện tín được phát minh ở Mĩ, tiêu biểu là Moóc-xơ (Mĩ) thế kỉ
XIX.
+ Trong nông nghiệp, những tiến bộ về kĩ thuật và phương pháp
canh tác cũng góp phần nâng cao năng suất lao động.
+ Trong lĩnh vực quân sự, nhiều nước đã sản xuất ra nhiều loại vũ
khí hiện đại như đại bác, súng trường bắn nhanh, ngư lôi, khí cầu,... phục
vụ cho chiến tranh.
2. Những tiến bộ về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội:
+ Khoa học tự nhiên: