ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
--------------------------
Trần Anh Tuấn
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG ĐA DẠNG SINH HỌC
NÔNG NGHIỆP TẠI HAI XÃ TÊNH PHÔNG VÀ QUÀI TỞ,
HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN
PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI BỀN VỮNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 01/2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
--------------------------
Trần Anh Tuấn
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG ĐA DẠNG SINH HỌC
NÔNG NGHIỆP TẠI HAI XÃ TÊNH PHÔNG VÀ QUÀI TỞ,
HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN
PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI BỀN VỮNG
Chuyên ngành:
Mã số:
Và sau tất cả, tôi xin được cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã luôn ủng hộ, là chỗ dựa
vững chắc cho tôi trong suốt thời gian qua.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 11 tháng 01 năm 2018
Học viên
Trần Anh Tuấn
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1
Chương 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU ......................................................................... 2
1.1. TỔNG QUAN VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC NÔNG NGHIỆP ...................... 2
1.1.1. Khái niệm........................................................................................................ 2
1.1.2. Đặc điểm, thành phần ..................................................................................... 3
1.1.3. Vai trò ............................................................................................................. 7
1.2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC NÔNG
NGHIỆP ...................................................................................................................... 9
1.2.1. Trên thế giới.................................................................................................... 9
1.2.2. Ở Việt Nam ................................................................................................... 13
1.3.
TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU .............................................. 23
1.3.1. Điều kiện tự nhiên ......................................................................................... 23
1.3.2. Điều kiện kinh tế, xã hội ............................................................................... 27
Chương 2 - PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .......... 30
2.1. PHẠM VI NGHIÊN CỨU ............................................................................ 30
2.1.1. Địa điểm........................................................................................................ 30
2.1.2. Thời gian ....................................................................................................... 30
CIP…………………………………………………………..International Potato Centre
…………………………………………………………..(Trung tâm cây có củ Quốc tế)
ĐDSH……………………………………………………….……..….Đa dạng sinh học
FAO……………………….. Food and Agriculture Organization of the United Nations
………………………………..(Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc)
HST……………………………………………………………………...….Hệ sinh thái
IBPGR………………………………..International Board for Plant Genetic Resources
……………………….…………(Uỷ ban nguồn tài nguyên di truyền thực vật Quốc tế)
ICARDA……………..International Centre for Agricultural Research in the Dry Areas
…………………………………….(Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp vùng khô hạn)
ICRISAT……………International Crops Research Institute for the Semi-Arid Tropics
……………………………….(Viện nghiên cứu cây trồng vùng Nhiệt đới bán khô hạn)
IITA…………………………………The International Institute of Tropical Agriculture
……………………………………………….(Viện nghiên cứu Nông nghiệp Nhiệt đới)
IRRI………………………………………………International Rice Research Institute
…………………………………………………………..(Viện nghiên cứu lúa Quốc tế)
IUCN ……………………………….…International Union for Conservation of Nature
…………………………………………...….(Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế)
UNEP ……………………………………..…United Nations Environment Programme
…………………………………………….(Chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc)
WARDA…………………….…………….West Africa Rice Development Association
…………………………………………………………(Hiệp hội phát triển lúa Tây Phi)
WWF……………………………….……………………………...World Wildlife Fund
…………………………………………………...….(Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên Nhiên)
DANH LỤC BẢNG
Bảng 1.1 - Các nhóm cây trồng phổ biến ở Việt Nam năm 2005 .................................15
Bảng 1.2 - Số lượng giống vật nuôi bản địa của Việt Nam ..........................................17
Bảng 2.1 - Thời gian các đợt khảo sát thực địa……………………………………….30
điều cấp thiết, có ý nghĩa thực tiễn cao.
Tênh Phông và Quài Tở là hai xã nằm ở phía Đông huyện Tuần Giáo, tỉnh
Điện Biên thuộc vùng Tây Bắc Việt Nam, nơi mà người dân sống dựa trên nguồn thu
chủ yếu đến từ các hoạt động nông lâm nghiệp nên kinh tế còn nhiều khó khăn. Việc
nghiên cứu đa dạng sinh học nông nghiệp không chỉ bảo tồn, nâng cao tính đa dạng
các giống cây trồng vật nuôi mà quan trọng hơn còn phục vụ phát triển kinh tế - xã
hội, cải thiện chất lượng đời sống của người dân địa phương. Đây là hướng đi quan
trọng và là nhu cầu tất yếu tại hai xã Tênh Phông và Quài Tở hiện nay.
Từ những luận điểm trên, nghiên cứu “Đánh giá hiện trạng đa dạng sinh
học nông nghiệp tại hai xã Tênh Phông và Quài Tở, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện
Biên phục vụ phát triển kinh tế xã hội bền vững” được thực hiện với mục tiêu cung
cấp các các dẫn liệu ban đầu về tính đa dạng các giống cây trồng, vật nuôi tại hai xã
Tênh Phông và Quài Tở thuộc huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên góp phần bảo tồn đa
dạng sinh học nông nghiệp nói chung và các loài cây con bản địa nói riêng.
1
Chương 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. TỔNG QUAN VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC NÔNG NGHIỆP
1.1.1. Khái niệm
❖ Đa dạng sinh học
Đa dạng sinh học (ĐDSH) là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trên phạm vi
toàn cầu. Thuật ngữ ĐDSH xuất hiện lần đầu tiên trong ba bài viết của Myers (1979),
Lovejoy (1980), Norse và McManus (1980) [44, 46, 47]. Sau đó, công trình của
Wilson (1985) đã nhấn mạnh sự cần thiết trong các hoạt động nghiên cứu, bảo tồn
tính đa dạng và phong phú của sự sống trên Trái đất [52].
WWF (1989) quan niệm “ĐDSH là sự phồn thịnh của sự sống trên Trái đất, là
hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các
loài và là những hệ sinh thái (HST) vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường”
thiếu quan tâm đầy đủ. Vì vậy làm thế nào để nâng cao tính ĐDSH nông nghiệp, phát
triển nông nghiệp một cách bền vững đang là bài toán cần tìm lời giải thích đáng.
1.1.2. Đặc điểm, thành phần
ĐDSH nông nghiệp là sản phẩm của mối tương tác chặt chẽ giữa nguồn gen,
môi trường, hệ thống quản lý và canh tác của người nông dân. Do vậy, ĐDSH nông
nghiệp phát triển như là kết quả của cả quá trình chọn lọc tự nhiên và sự tác động của
con người [15].
Thành phần của HST nông nghiệp rất đa dạng (hình 1.1). Về hệ động vật, HST
nông nghiệp thường bao gồm động vật cỡ trung bình và nhỏ, các loài bắt mồi và kí
sinh, các loài côn trùng, các loài ăn cỏ, giun đất... Trong đó, các loài côn trùng giúp
thụ phấn, thiên địch; giun đất là những thành phần chính hỗ trợ ĐDSH, đóng vai trò
như các dịch vụ sinh thái quan trọng: cầu nối của các quá trình tổ hợp gen, kiểm soát
HST theo các quy luật tự nhiên, tuần hoàn dinh dưỡng và phân huỷ. Hệ thực vật
thường bao gồm giống được trồng trọt, các loài cỏ trong khu vực canh tác... Bên cạnh
đó, HST nông nghiệp còn chịu sự tác động mạnh mẽ từ con người như xen canh, luân
canh, nông - lâm kết hợp, bón phân, chắn gió... Tất cả những yếu tố này góp phần
hình thành nên một HST nông nghiệp bền vững. Nếu sự suy giảm về hệ động thực
vật trong HST nông nghiệp xảy ra, tính bền vững của HST nông nghiệp sẽ bị lung
lay [21].
3
Các
loài
thụ
phấn
Loài
bắt
sinh học
Sự cạnh
tranh với
các loài xâm
lấn, các loài
thiên địch
và cỏ dại
Cấu trúc của
đất; chu
trình dinh
dưỡng
Sự phân
giải, sự bắt
mồi và chu
trình dinh
dưỡng
Chu trình
sinh dưỡng
và diệt trừ
sâu bệnh
Tăng cường xen canh, nông, lâm kết hợp, luân canh, cây che bóng, ủ phân, phân
xanh, bón phân hữu cơ, chắn gió.
Hình 1. 1 - Thành phần, chức năng và các chiến lược tăng cường ĐDSH
trong HST nông nghiệp
miền núi gần các khu dân cư, các lều canh đồng hay ở ven ruộng. Phần lớn ao hồ do
con người đào để dự trữ nước cho tưới tiêu, nước uống cho các loài gia súc như trâu
và nuôi trồng thuỷ sản.
• Các sinh cảnh đất ngập nước còn lại là những vùng đầm lầy, than bùn hoặc
vùng nước, bất kể tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm thời, có nước chảy
hay nước tù, là nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, kể cả những vùng nước biển có độ
sâu không quá 6 m khi triều thấp [2].
Tất cả các sinh cảnh trên đều có mức độ ĐDSH cao, mang nhiều chức năng
và giá trị quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp. Tuy nhiên, việc thu hẹp và biến
đổi dần các vùng đất ngập nước thành các vùng sinh kế nông nghiệp của người dân,
cũng như việc sử dụng các loại hóa chất nông nghiệp làm tích tụ các hoá chất độc hại
và giảm thiểu các chất dinh dưỡng trong môi trường tự nhiên dẫn đến những tổn thất
đáng kể về ĐDSH.
5
❖ Hệ sinh thái đồng cao
HST nông nghiệp đồng cao là HST bao gồm những cánh đồng được trồng trọt
nhiều mùa vụ, những cánh đồng ít canh tác có năng suất thấp và những cánh đồng bỏ
hoang [1].
Mỗi cánh đồng đều đóng góp nhất định vào ĐDSH. Trong đó phải kể đến các
cánh đồng hoang, đây là môi trường có đóng góp quan trọng trong việc bảo tồn
ĐDSH, ít bị tác động và ảnh hưởng bởi các yếu tố từ các mô hình canh tác và sản
xuất nông nghiệp. Các cánh đồng trồng trọt, tuy tạo ra các sản phẩm nông nghiệp
nhưng chất lượng của môi trường sống và mức độ ĐDSH tại đây bị giảm đi đáng kể
do nông dân sử dụng thuốc trừ sâu, các chất hoá học, kích thích tăng trưởng trong
quá trình canh tác và sản xuất.
Ngoài ra, bờ ruộng là nguồn quan trọng để tái tạo và phục hồi tính ĐDSH sau
mỗi mùa thu hoạch trước khi bắt đầu vụ mùa mới; là môi trường sống của nhiều loài
vườn nhà cung cấp 60% tổng số rau củ, hoa quả [49]. Ở Philippines, 20% thức ăn gia
đình được cung cấp từ vườn nhà. Trong khi đó, ở Việt Nam chỉ số này lên đến 51%
[51].
Tuy nhiên, ngày nay áp lực tăng dân số làm cho diện tích vườn quanh nhà
ngày càng hạn hẹp. Con người cũng phụ thuộc nhiều hơn vào các mặt hàng thương
mại có sẵn, từ đó mà các hộ gia đình thu hẹp các khu vườn lại. Điều này đồng nghĩa
với tính ĐDSH vườn nhà có xu hướng giảm sút nghiêm trọng.
1.1.3. Vai trò
Ngành nông nghiệp cung cấp nguồn lực, đầu vào cho các ngành kinh tế khác,
có mối quan hệ phụ thuộc qua lại với ngành công nghiệp, thúc đẩy công nghiệp hóa
nên có vai trò quan trọng với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội [48]. Trong
đó, ĐDSH nông nghiệp đóng vai trò quan trọng đối với nông nghiệp bền vững.
ĐDSH nông nghiệp bao gồm: tài nguyên di truyền thực vật, nguồn gen động
vật, nguồn tài nguyên di truyền vi khuẩn và nấm, đây là những đơn vị sản xuất chính
trong nông nghiệp phục vụ phát triển cây trồng, vật nuôi. Ngoài ra, biến đổi di truyền
và duy trì sự biến đổi di truyền trong cây trồng nông nghiệp mở rộng các mặt hàng
và dịch vụ thiết yếu hỗ trợ chức năng, khả năng phục hồi và năng suất của HST [38].
7
Vì thế nguồn tài nguyên di truyền đấy trở thành yếu tố cốt lõi của nông nghiệp bền
vững và nông nghiệp sinh thái [50].
Ngoài ra, các thành phần của ĐDSH nông nghiệp cung cấp các nguyên vật
liệu, các sinh vật trong các hệ thống sản xuất nông nghiệp góp phần lớn trong chu kỳ
dinh dưỡng, phân hủy các chất hữu cơ và duy trì độ màu mỡ của đất, quy định về
dịch hại và bệnh tật, duy trì và cải thiện cảnh quan sinh thái, duy trì các chu trình thuỷ
văn, kiểm soát thiên tai xói mòn, giảm thiểu nguồn thải cacbon và điều hoà khí hậu.
Việc kết hợp kiến thức và văn hoá canh tác bản địa cùng các kiến thức về ĐDSH
nông nghiệp trong các hoạt động quy hoạch, quản lý đất nông nghiệp cũng như
thực phẩm cho con người.
❖ Đa dạng về ngân hàng giống
Tài nguyên di truyền là nguồn lương thực, thực phẩm của HST nông nghiệp,
bao gồm tài nguyên di truyền thực vật, nguồn gen động vật, nguồn tài nguyên di
truyền vi khuẩn và nấm, đây là những đơn vị sản xuất chính trong nông nghiệp phục
vụ phát triển cây trồng, vật nuôi. Trải qua quá trình chọn lọc nhân tạo của con người,
một lượng giống cây trồng, vật nuôi khổng lồ đã được tạo ra, mà mỗi loài đều được
đặc trưng bởi những dấu hiệu thích nghi duy nhất và có lợi. Bảo tồn nguồn tài nguyên
di truyền là cơ sở để nâng cao sản lượng nông nghiệp và phát triển nền nông nghiệp
bền vững, góp phần quan trọng vào xoá đói giảm nghèo, an toàn lương thực và bảo
vệ môi trường của toàn cầu.
Trên thế giới, tại nhiều quốc gia, việc thu thập và lưu giữ nguồn gen cây trồng,
vật nuôi để phục vụ phát triển kinh tế, xã hội lâu dài đã được quan tâm từ đầu thế kỷ
XX. Năm 1960 Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) được thành lập, đến năm 1962
viện này đã bắt đầu thu thập quỹ gen lúa trên toàn thế giới. Trước năm 1965 chỉ có 3
giống lúa được phổ biến sản xuất nhưng đến năm 1976 đã có 222 giống lúa được sản
xuất qua sử dụng nguồn gen của chương trình INGER. Theo đó, năm 1977 IRRI đã
khai trương Ngân hàng gen lúa quốc tế (IRGB) để lưu giữ tập đoàn quỹ gen lúa thu
thập từ 110 quốc gia. Rất nhiều nguồn gen lúa của Việt Nam đã được thu thập và lưu
giữ tại đây [15, 20].
9
Hiện nay trên toàn thế giới có 140 nước và tổ chức có ngân hàng gen cây trồng,
đang lưu giữ trên 6 triệu mẫu giống, trong đó 83% là ở các ngân hàng gen cây trồng
cấp quốc gia, chủ yếu là ở các nước lớn như Trung quốc, Mỹ, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ,
Đức, Canada; 11% ở các ngân hàng gen của các tổ chức quốc tế, phần còn lại ở khu
vực tư nhân, các tổ chức phi chính phủ và một số tổ chức khác. Tiêu biểu các cây
trồng bản địa chính được lưu trữ và bảo quản tại các trung tâm, điển hình: ở Trung
dữ liệu của FAO cập nhật nguồn gen vật nuôi của toàn thế giới có 42 loài sử dụng
cho mục đích nông nghiệp và cung cấp thực phẩm. Theo đó:
✓ Các loài gia súc: Trâu: 3%; Bò: 22%; Dê: 12%; Lợn: 12%; Lừa: 3%; Ngựa:
14%; Thỏ: 5%; Loài khác: 3%.
✓ Các loài gia cầm: Gà: 63%; Vịt: 11%; Gà tây: 5%; Ngỗng: 9%; Gà Sao:
3%; Bò câu: 3%; Loài khác: 6%.
Trong đó, loài vật nuôi có mặt nhiều trên thế giới là bò với khoảng 1,3 tỷ con
thuộc hàng trăm giống khác nhau đã được thuần hoá và chọn lọc, nhân thuần và lai
tạo hàng trăm năm, nhiều giống bò thuần địa phương nổi tiếng, như bò Red Sind
(Pakistan), bò Sahiwal (Ấn độ). Các giống bò nhiệt đới Châu Á này là những nguồn
gen quý để lai tạo với các giống bò ôn đới của Châu Âu như Santagestrudis, Charolais,
Limousin mục đích tạo nên những giống bò thịt nổi tiếng thế giới. Đồng thời chúng
cũng được chọn lọc nâng cao năng suất và tạo nên các dòng thuần bò khác nhau phù
hợp với môi trường nuôi dưỡng, điều kiện sinh thái của địa phương [20], ví dụ như
Bò Holstein (có mặt ở 128 nước), Bò Jersey (82 nước), Bò Charolais (64 nước), Bò
Lợn Ðại bạch (117 nước), Bò Brahman (45 nước), Lợn Duroc (93 nước), Lợn
Landrace (91 nước)…
❖ Đa dạng cây trồng
Hệ thống cây trồng bao gồm các loài cây được bố trí theo không gian và thời
gian của một vùng sinh thái nông nghiệp, nhằm tận dụng hợp lý các nguồn tài nguyên
kinh tế - xã hội [26]. Các HST nông nghiệp trên thế giới đều có mối tương tác lẫn
nhau. Tính ĐDSH của từng HST phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như loại hình sinh
cảnh, phương thức canh tác sử dụng và phương thức quản lý.
Diamond (2002) [trích theo 15] phân chia vai trò cung cấp lương thực, thực
phẩm của các nguồn gen thực vật bao gồm: 250.000 tổng số loại cây trồng, trong đó
có 30.000 loài có thể ăn được, 7.000 loài đã được sử dụng làm lương thực với 12 cây
11
Năm 2007, nguồn gen vật nuôi của toàn thế giới có 42 loài được sử dụng cho
mục đích nông nghiệp và cung cấp thực phẩm; số lượng các giống trong các loài đó
ít nhất là 3.550 thuộc loài chim và 10.512 thuộc loài thú [40].
1.2.2. Ở Việt Nam
Diện tích đất của nước ta đứng hàng thứ 58 trên thế giới. Trong đó có tới hơn
2/3 diện tích là đất đồi núi dốc, còn lại gần 1/3 là đồng bằng [18]. Việt Nam được thế
giới ghi nhận là một trong những quốc gia có mức độ ĐDSH cao với nhiều kiểu HST,
các loài sinh vật và nguồn gen phong phú, đặc hữu. Đến nay, Việt Nam đã xác định
được khoảng 49.200 loài sinh vật, bao gồm 7.500 chủng vi sinh vật; 20.000 loài thực
vật trên cạn và dưới nước; 10.500 loài động vật trên cạn; 2.000 loài động vật không
xương sống và cá ở nước ngọt; có trên 11.000 loài sinh vật biển. Bởi sự đa dạng đó,
Việt Nam được đánh giá là một trong 10 trung tâm ĐDSH phong phú nhất thế giới,
được xếp hạng thứ 16 trên thế giới về sự đa dạng tài nguyên sinh vật/ tài nguyên di
truyền, là một trong những nơi có nguồn gen cây trồng và vật nuôi địa phương đa
dạng hàng đầu [33].
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp của Việt Nam từ 1961 – 2014 tăng từ 6.292
triệu ha lên tới 10.873 triệu ha [55]. Diện tích sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam chủ
yếu là canh tác lúa cũng như canh tác các giống cây trồng lâu năm và ngày càng được
mở rộng. Do giá trị kinh tế mang lại nên diện tích cây trồng lâu năm có xu hướng
tăng nhanh từ 775.5 nghìn ha vào năm 2008 lên 779.7 nghìn ha vào năm 2010 [25].
Diện tích trồng cây công nghiệp lâu năm của cả nước năm 2008 là 1.886 triệu ha tăng
lên 2.010 triệu ha vào năm 2010. Trong khi đó, diện tích trồng lúa có xu hướng giảm
và chuyển sang canh tác các giống cây lâu năm, cây hàng năm do trồng lúa kém hiệu
quả và năng suất thấp... Diện tích đất trồng lúa giảm từ 7.666 triệu ha năm 2000 xuống
7.493 triệu ha năm 2001 và 7.207 triệu ha năm 2007, tăng lên 7.400 triệu ha năm
2008, 7.437 triệu ha năm 2009, 7.489 triệu ha năm 2010 [25]. Bên cạnh đó, quá trình
đô thị hóa cũng tác động mạnh mẽ đến quy hoạch đất nông nghiệp, diện tích lúa và
cây nông nghiệp có xu hướng suy giảm chuyển đổi sang các loại đất với những chức
năng thay thế khác.
-
Các giống lợn bao gồm các giống lợn Ỉ, lợn Ba Xuyên, lợn Cỏ, lợn Mán,
lợn Táp Ná, lợn Vân Pa;
14
-
Các giống gia cầm bao gồm các giống gà (bao gồm gà Hồ, gà Mía, gà
Đông Tảo, gà Tè (lùn), gà Tre), các giống vịt (Vịt Bầu Bến, Bầu Quỳ, vịt Kỳ Lừa),
các giống ngan (Ngan Dé, ngan Trâu), các giống ngỗng (Ngỗng Cỏ, ngỗng Sư Tử);
-
Các giống bò bao gồm Bò Mèo (bò Mông), bò U đầu rìu;
-
Giống ngựa: Ngựa Bạch [5].
Đối với các giống gà, QĐ số 06/2012/TT-BNNPTNT đã bổ sung giống gà
nhiều cựa Phú Thọ (Gà 9 cựa) vào danh mục nguồn gen vật nuôi quỹ cần bảo tồn [7].
❖ Đa dạng cây trồng
Ở Việt Nam, ngành trồng trọt phát triển với nhiều phương thức canh tác như
các mô hình gieo trồng tự nhiên, đồng ruộng, vườn, trang trại cũng như gieo trồng
trong nhà kính, nhà lưới hay gieo trồng bằng phương thức gieo trồng hỗn hợp với
nhiều nhóm cây phổ biến (bảng 1.1).
Nhóm cây lấy dầu béo
Nhóm cây lấy tinh dầu
Nhóm cây cải tạo đất
Nhóm cây dược liệu
Nhóm cây cây cảnh
Nhóm cây bóng mát
Nhóm cây cây công nghiệp
Nhóm cây lấy gỗ
Tổng
41
95
105
55
46
14
16
14
45
20
28
181
62
7
24
49
802
(Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2005) [6])
và có hiệu quả kinh tế cao đã góp phần phát triển kinh tế xã hội và bảo tồn ĐDSH
nông nghiệp. Tuy nhiên trong quá trình đó, các vấn đề gây suy giảm ĐDSH nông
16
nghiệp là không tránh khỏi bởi các yếu tố như các yếu tố tự nhiên và con người, biến
đổi khí hậu, thiên tai, chuyển đổi quy hoạch và quản lý đất nông nghiệp, ô nhiễm môi
trường và sự du nhập của sinh vật ngoại lai xâm hại... Việc thúc đẩy sự tham gia của
người dân trong công tác bảo tồn ĐDSH nông nghiệp, bảo vệ các nguồn gen nông
nghiệp, áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật để tạo ra những nguồn gen và loài
mới nhưng cũng đồng thời lưu giữ và bảo quản những giống gen bản địa, truyền
thống... là những nỗ lực đáng ghi nhận hiện nay.
❖ Đa dạng về động vật
Ngành chăn nuôi ở Việt Nam phát triển với các phương thức chăn nuôi gồm:
chăn thả nhỏ lẻ, thả rông, chăn nuôi bán công nghiệp và chăn nuôi công nghiệp. Trong
đó chăn nuôi nhỏ lẻ thả rông là phương thức chăn nuôi truyền thống phù hợp với điều
kiện tự nhiên cũng như kinh tế của các hộ nông dân. Chăn nuôi bán công nghiệp là
phương thức kết hợp kinh nghiệm truyền thống và kỹ thuật tiên tiến, mang lại sản
lượng thực phẩm và kinh tế cao. Chăn nuôi công nghiệp là hình thức tập trung chăn
nuôi của các doanh nghiệp, áp dụng các mô hình chăn nuôi tiên tiến, tuy nhiên không
phù hợp với các hộ nông dân có mức đời sống bình thường.
Trong quy chế bảo tồn nguồn gen Việt Nam năm 1997 có đề cập đến 20 loài vật
nuôi của Việt Nam với ít nhất là 88 giống bản địa và nhập nội đã thích nghi và có ý
nghĩa đối với Việt Nam (bảng 1.2) [trích theo 54].
Bảng 1. 2 - Số lượng giống vật nuôi bản địa của Việt Nam
Thú
Số giống
Số giống
30
9
3
3
1
1
1
2
50
(Nguồn: Võ Văn Sự và CTV (2004) [54])
17