ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
DƢƠNG NGỌC HẢI
QUẢN TRỊ HOẠT ĐỘNG LOGISTICS TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN PHỤC VỤ MẶT ĐẤT SÀI GÒN
CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng - Năm 2017
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
DƢƠNG NGỌC HẢI
QUẢN TRỊ HOẠT ĐỘNG LOGISTICS TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN PHỤC VỤ MẶT ĐẤT SÀI GÒN
CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số: 60.34.01.02
N ƣ
ƣ n
n
1.1.2. Phân loại các hoạt động logistics .................................................. 6
1.1.3 Vị trí và vai trò của logistics .......................................................... 8
1.2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUẢN TRỊ LOGISTICS ............................ 13
1.2.1 Khái niệm và mô hình quản trị logistics ...................................... 13
1.2.2 Mục tiêu và quan điểm của quản trị logistics kinh doanh ........... 14
1.2.3 Các nội dung cơ bản của quản trị logistics .................................. 22
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1................................................................................ 33
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ LOGISTICS TẠI CÔNG TY
SAGS ĐÀ NẴNG ........................................................................................... 34
2.1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY ................................................................. 34
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển ................................................. 34
2.1.2. Thông tin chung về Công ty ....................................................... 34
2.1.3. Chức năng, nhiệm vụ .................................................................. 35
2.1.4. Cơ cấu tổ chức ............................................................................ 36
2.1.4. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh ...................................... 38
2.1.5. Thuận lợi và khó khăn của công ty ............................................. 39
2.2. THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ LOGISTICS TẠI CÔNG TY SAGS ĐÀ
NẴNG ............................................................................................................. 40
2.2.1. Mô tả chuỗi cung ứng của Công ty ............................................. 40
2.2.2. Dự báo nhu cầu, lập kế hoạch và thu mua .................................. 41
2.2.3. Tồn kho ....................................................................................... 44
2.2.4. Hệ thống thông tin ...................................................................... 48
2.2.5. Dịch vụ khách hàng .................................................................... 49
2.3. ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ LOGISTICS ............................... 64
2.3.1. Về kế hoạch ................................................................................ 64
2.3.2. Về mua hàng ............................................................................... 64
2.3.3. Về tồn kho ................................................................................... 64
2.3.4. Về cung ứng dịch vụ ................................................................... 65
ệu
Tên bản
bản
2.1.
2.2.
Thống kê sản lƣợng phục vụ thực tế năm 2016
Thống kê số liệu doanh thu, chi phí, lợi nhuận thực
tế năm 2016
Trang
38
38
2.3.
Sản lƣợng phục vụ bay theo cơ cấu năm 2016
51
2.4.
Cơ cấu nguồn nhân lực theo bộ phận
52
2.5.
Danh mục trang thiết bị sân đỗ của Công ty
62
3.1.
Lộ trình giảm thuê trang thiết bị sân đỗ của Công ty
75
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Số
ệu
ìn vẽ
Tên ìn vẽ
Trang
2.1.
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty
36
2.7.
Quy trình phục vụ hàng hóa đi
59
1
MỞ ĐẦU
1. Tín
ấp t ết ủ đề tà
Theo xu hƣớng toàn cầu hóa, tính cạnh tranh trong kinh doanh cũng
ngày càng khốc liệt hơn trƣớc rất nhiều. Điều này đồng nghĩa với việc các
doanh nghiệp phải đối mặt với thách thức trong việc quản lý và kiểm soát
dòng chảy hàng hóa, thông tin và tài chính một cách hiệu quả.
Trong môi trƣờng kinh doanh hiện nay, hoạt động logistics là một trong
những nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp so với đối
thủ cùng ngành. Doanh nghiệp nào xây dựng đƣợc hệ thống logistics hợp lý,
nhanh nhạy, sáng tạo sẽ chiếm ƣu thế lớn. Quản trị tốt hoạt động logistics
giúp doanh nghiệp đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng, từ đó gia tăng lợi
nhuận một cách đáng kể.
Ngành hàng không là một ngành kinh tế đặc thù. Lợi thế cạnh tranh của
các đơn vị trong ngành chủ yếu đến từ hai yếu tố quan trọng nhất: chất lƣợng
và sự an toàn. Việc quản trị hoạt động logistics hiệu quả sẽ góp phần giúp gia
tăng chất lƣợng phục vụ, vốn đƣợc đòi hỏi ở mức rất cao từ khách hàng, do đó
tôi lựa chọn đề tài “Quản trị oạt độn lo st s tạ Côn ty Cổ p ần P ụ
vụ mặt đất Sà Gòn – C
Công ty dựa trên số liệu thực tế từ các phòng ban, từ đó rút ra điểm mạnh và
điểm yếu của vấn đề cung ứng hiện tại của công ty.
5. Bố ụ đề tà
Đề tài gồm có 03 phần chính:
C ƣơn 1: Cơ sở lý luận về quản trị logistics
Nêu lên lý thuyết của các tác giả trong và ngoài nƣớc về hoạt động
quản trị logistics.
C ƣơn 2: Thực trạng quản trị hoạt động logistics tại Công ty SAGS
Đà Nẵng
Nêu lên những ƣu, khuyết điểm của hoạt động quản trị logistics mà
SAGS Đà Nẵng đang gặp phải.
C ƣơn 3: Các giải pháp nâng cao chất lƣợng quản trị hoạt động
logistics tại Công ty SAGS Đà Nẵng
Dựa vào những ƣu, khuyết điểm đã nêu lên ở Chƣơng 2, tác giả đề ra
những giải pháp để phát huy những điểm mạnh cũng nhƣ khắc phục những
điểm yếu đang tồn tại trong hoạt động quản trị logistics của SAGS Đà Nẵng.
6. Tổn qu n tà l ệu n
ên ứu
Để thực hiện nghiên cứu đề tài này, tác giả đã sử dụng các tài liệu, giáo
trình về lý thuyết quản trị logistics cũng nhƣ lý thuyết quản trị chuỗi cung ứng
của giảng viên Trƣờng Đại học Kinh tế Đà Nẵng và các tác giả bên ngoài, kết
3
hợp với các trang web về kinh tế nói chung và logistics nói riêng. Do quản trị
logistics là một lĩnh vực khá mới tại Việt Nam, hệ thống tài liệu nghiên cứu
nhìn chung vẫn còn hạn chế, do đó tác giả tiến hành tham khảo phƣơng pháp
hợp hai mặt: đầu vào (cung ứng vật tƣ) với đầu ra (phân phối sản phẩm),
nhằm tiết kiệm chi phí, tăng hiệu quả của quá trình này. Sự kết hợp này chính
là hệ thống logistics.
* Giai đoạn 3: Quản trị chuỗi cung ứng (Supply Chain Management):
Diễn ra vào những năm cuối của thế kỷ XX cho tới nay. Khái niệm bao trùm
mang tính chiến lƣợc là quản trị chuỗi nối tiếp các hoạt động từ ngƣời cung
cấp - ngƣời sản xuất và khách hàng tiêu dùng sản phẩm cuối cùng với các giá
5
trị gia tăng nhƣ tạo lập và cung cấp các chứng từ liên quan, hệ thống theo dõi,
kiểm tra làm gia tăng giá trị sản phẩm. Dễ dàng nhận thấy khái niệm này sự
coi trọng đối tác, phát triển đối tác, kết hợp giữa doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh với ngƣời cung ứng khách hàng cũng nhƣ những ngƣời liên quan tới hệ
thống quản lý nhƣ các công ty vận tải, kho bãi và những ngƣời cung cấp công
nghệ thông tin [2]
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về logistics trên thế giới và đƣợc xây
dựng căn cứ trên ngành nghề và mục đích nghiên cứu về dịch vụ logistics
khác nhau, tuy nhiên, có thể nêu một số khái niệm chủ yếu sau:
Theo tài liệu của Liên Hiệp Quốc (UNESCAP), khái niệm “logistics”
đƣợc giải thích nhƣ sau: Logistics đƣợc hiểu là việc quản lý dòng chu chuyển
và lƣu kho nguyên vật liệu, quá trình sản xuất, thành phẩm và xử lý các thông
tin liên quan từ nơi xuất xứ đến nơi tiêu thụ cuối cùng theo yêu cầu của khách
hàng.
Theo Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ (CLM), nay đổi tên thành Hội
đồng các nhà quản trị chuỗi cung ứng chuyên nghiệp (The Council of Supply
Chain Management Professionals – CSCMP), logistics là một bộ phận của
dây chuyền cung ứng tiến hành lập ra kế hoạch, thực hiện và kiểm soát công
việc chu chuyển, lƣu kho hàng hóa, xử lý thông tin, cùng với các dịch vụ liên
quan từ địa điểm xuất phát đến nơi tiêu dùng một cách hiệu lực, hiệu quả
- Logistics kinh doanh (Business logistics) là một phần của quá trình
chuỗi cung ứng, nhằm hoạch định thực thi và kiểm soát một cách hiệu quả và
hiệu lực các dòng vận động và dự trữ sản phẩm, dịch vụ và thông tin có liên
quan từ các điểm khởi đầu đến điểm tiêu dùng nhằm thoả mãn những yêu cầu
của khách hàng.
- Logistics quân đội (Military logistics) là việc thiết kế và phối hợp các
phƣơng diện hỗ trợ và các thiết bị cho các chiến dịch và trận đánh của lực
lƣợng quân đội. Đảm bảo sự sẵn sàng, chính xác và hiệu quả cho các hoạt
động này.
- Logistics sự kiện (Event logistics) là tập hợp các hoạt động, các
7
phƣơng tiện vật chất kỹ thuật và con ngƣời cần thiết để tổ chức, sắp xếp lịch
trình, nhằm triển khai các nguồn lực cho một sự kiện đƣợc diễn ra hiệu quả và
kết thúc tốt đẹp.
- Dịch vụ logistics (Service logistics) bao gồm các hoạt động thu nhận,
lập chƣơng trình, và quản trị các điều kiện cơ sở vật chất/ tài sản, con ngƣời,
và vật liệu nhằm hỗ trợ và duy trì cho các quá trình dịch vụ hoặc các hoạt
động kinh doanh.
b. Theo vị trí của các bên tham gia
- Logistics bên thứ nhất (1PL- First Party Logistics): là hoạt động
logistics do ngƣời chủ sở hữu sản phẩm/ hàng hoá tự mình tổ chức và thực
hiện để đáp ứng nhu cầu của bản thân doanh nghiệp.
- Logistics bên thứ hai (2PL - Second Party Logistics): chỉ hoạt động
logistics do ngƣời cung cấp dịch vụ logistics cho một hoạt động đơn lẻ trong
chuỗi cung ứng để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng.
- Logistics bên thứ ba (3PL - Third Party Logistics): là ngƣời thay mặt
chủ hàng tổ chức thực hiện và quản lí các dịch vụ logistics cho từng bộ phận
chức năng.
hóa hoạt động logistics theo đặc trƣng riêng của loại sản phẩm tùy vào mức
độ chuyên môn hóa, hình thành nên các hoạt động logistics đặc thù với các
đối tƣợng hàng hóa khác nhau nhƣ:
- Logistic hàng tiêu dùng ngắn ngày
- Logistic ngành ô tô
- Logistic ngành hóa chất
- Logistic hàng điện tử
- Logistic ngành dầu khí [4]
1.1.3 Vị trí và vai trò của logistics
Ngành logistics có vị trí ngày càng quan trọng trong các nền kinh tế
9
hiện đại và có ảnh hƣởng to lớn đến sự phát triển kinh tế của các quốc gia và
toàn cầu. Phần giá trị gia tăng do ngành logistics tạo ra ngày càng lớn và tác
động của nó thể hiện rõ dƣới những khía cạnh dƣới đây:
Logistics là công cụ liên kết các hoạt động kinh tế trong một quốc
gia và toàn cầu qua việc cung cấp nguyên liệu, sản xuất, lƣu t ôn p ân
phối, mở rộng thị trƣ ng.
Trong các nền kinh tế hiện đại, sự tăng trƣởng về số lƣợng của khách
hàng đã thúc đẩy sự gia tăng của các thị trƣờng hàng hóa và dịch vụ trong
nƣớc và quốc tế. Hàng nghìn sản phẩm và dịch vụ mới đã đƣợc giới thiệu,
đang đƣợc bán ra và phân phối hàng ngày đến các ngõ ngách của thế giới
trong thập kỷ vừa qua. Để giải quyết các thách thức do thị trƣờng mở rộng và
sự tăng nhanh của hàng hóa và dịch vụ, các hãng kinh doanh phải mở rộng
quy mô và tính phức tạp, phát triển các nhà máy liên hợp thay thế cho những
nhà máy đơn. Hệ thống logistics hiện đại đã giúp các hãng làm chủ đƣợc toàn
bộ năng lực cung ứng của mình qua việc liên kết các hoạt động cung cấp, sản
xuất, lƣu thông, phân phối kịp thời chính xác. Nhờ đó mà đáp ứng đƣợc
những cơ hội kinh doanh trong phạm vi toàn cầu. Chính vì vậy, sự phân phối
o n đặc biệt
trong buôn bán và vận tải quốc tế. Trong thời đại toàn cầu hóa, thƣơng mại
quốc tế là sự lựa chọn tất yếu cho mọi quốc gia trong tiến trình phát triển đất
nƣớc. Các giao dịch quốc tế chỉ thực hiện đƣợc và mang lại hiệu quả cho quốc
gia khi dựa trên một hệ thống logistics rẻ tiền và chất lƣợng cao. Hệ thống
này giúp cho mọi dòng hàng hóa đƣợc lƣu chuyển thuận lợi, suôn sẻ từ quốc
gia này đến quốc gia khác nhờ việc cung ứng kịp thời, phân phối chính xác,
chứng từ tiêu chuẩn, thông tin rõ ràng…
Là một bộ phận trong GDP, logistics ảnh hƣởng đáng kể đến tỷ lệ lạm
phát, tỷ lệ lãi xuất, năng suất, chi phí, chất lƣợng và hiệu quả, cũng nhƣ các
khía cạnh khác của nền kinh tế. Một nghiên cứu chỉ ra rằng bình quân một tổ
chức của Mỹ có thể mở rộng năng suất logistics 20% hoặc hơn trong 1 năm.
Một cách để chỉ ra vai trò của logistics là so sánh phí tổn của nó với các hoạt
động xã hội khác. Tại Mỹ chi phí kinh doanh logstics lớn gấp 10 lần quảng
cáo, gấp đôi so với chi phí bảo vệ quốc gia và ngang bằng với chi phí chăm
sóc sức khỏe con ngƣời hàng năm [5]. Xét ở tầm vi mô, trƣớc đây các công ty
thƣờng coi logistics nhƣ một bộ phận hợp thành các chức năng marketing và
sản xuất. Marketing coi logistics là việc phân phối vật lý hàng hóa. Cơ sở cho
quan niệm này là hoạt động dự trữ thành phẩm hoặc cung cấp các yếu tố đầu
11
vào do logistics đảm nhiệm cũng là nhiệm vụ của biến số phân phối trong
marketing - mix và đƣợc gọi là phân phối vận động vật lý. Hiểu đơn giản là
khả năng đƣa một sản phẩm đến đúng thời điểm, đúng số lƣợng, đúng khách
hàng. Phân phối vật lý và thực hiện đơn đặt hàng có thể coi là sự thay đổi chủ
chốt trong việc bán sản phẩm, do đó cũng là cơ sở quan trọng trong thực hiện
bán hàng. Sản xuất coi logistics là việc lựa chọn địa điểm xây dựng
nhà máy, chọn nguồn cung ứng tốt và phân phối hàng hóa thuận tiện…Bởi lẽ
tăn về th
n và đị đ ểm: Mỗi sản
phẩm đƣợc sản xuất ra luôn mang một hình thái hữu dụng và giá trị (form
utility and value) nhất định với con ngƣời. Tuy nhiên để đƣợc khách hàng tiêu
thụ, hầu hết các sản phẩm này cần có nhiều hơn thế. Nó cần đƣợc đƣa đến
đúng vị trí, đúng thời gian và có khả năng trao đổi với khách hàng. Các giá trị
này cộng thêm vào sản phẩm và vƣợt xa phần giá trị tạo ra trong sản xuất
đƣợc gọi là lợi ích địa điểm, lợi ích thời gian và lợi ích sở hữu (place, time
and possession utility) [6]. Lợi ích địa điểm là giá trị cộng thêm vào sản phẩm
qua việc tạo cho nó khả năng trao đổi hoặc tiêu thụ đúng vị trí. Lợi ích thời
gian là gía trị đƣợc sáng tạo ra bằng việc tạo ra khả năng để sản phẩm tới
đúng thời điểm mà khách hàng có nhu cầu, những lợi ích này là kết quả của
hoạt động logistics. Nhƣ vậy logistics góp phần tạo ra tính hữu ích về thời
gian và địa điểm cho sản phẩm, nhờ đó mà sản phẩm có thể đến đúng vị trí
cần thiết vào thời điểm thích hợp. Trong xu hƣớng toàn cầu hóa, khi mà thị
trƣờng tiêu thụ và nguồn cung ứng ngày càng trở nên xa cách về mặt địa lý thì
các lợi ích về thời gian và địa điểm do logistics mang trở nên đặc biệt cần
thiết cho việc tiêu dùng sản phẩm.
Logistics cho phép doanh nghiệp di chuyển hàng hóa và dịch vụ hiệu
quả đến khách hàng: Logistics không chỉ góp phần tối ƣu hóa về vị trí mà còn
tối ƣu hóa các dòng hàng hóa và dịch vụ tại doanh nghiệp nhờ vào việc phân bố
mạng lƣới các cơ sở kinh doanh và điều kiện phục vụ phù hợp với yêu cầu vận
động hàng hóa. Hơn thế nữa, các mô hình quản trị và phƣơng án tối ƣu trong
dự trữ, vận chuyển, mua hàng…và hệ thống thông tin hiện đại sẽ tạo điều kiện
để đƣa hàng hóa đến nơi khách hàng yêu cầu nhanh nhất với chi phí thấp, cho
14
dự trữ, tồn kho, bảo quản, vận chuyển đến thông tin, bao bì, đóng gói…Và
chính nhờ vào sự kết hợp này mà các hoạt động kinh doanh đƣợc hỗ trợ một
cách tối ƣu, nhịp nhàng và hiệu quả, tạo ra đƣợc sự thoả mãn khách hàng ở
mức độ cao nhất hay mang lại cho họ những giá trị gia tăng lớn hơn so với đối
thủ cạnh tranh [8]
1.2.2 Mụ t êu và qu n đ ểm ủ quản trị lo st s
n
o n
Một cách khái quát, mục tiêu của quản trị logistics là cung ứng dịch vụ
cho khách hàng đạt hiệu quả cao. Cụ thể hơn, mục tiêu của hệ thống logistics
là cung cấp cho cho khách hàng 7 lợi ích - (7 rights): đúng khách hàng, đúng
sản phẩm, đúng số lƣợng, đúng điều kiện, đúng địa điểm, đúng thời gian,
đúng chi phí. Các mục tiêu này đòi hỏi doanh nghiệp phải thực hiện tốt hai
yêu cầu cơ bản sau:
a. Cung ứng mức dịch vụ khách hàng có tính chiến lược
Là mức dịch vụ thỏa mãn nhu cầu dịch vụ cho của các nhóm khách
hàng mục tiêu và có ƣu thế so với đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp. Mức
dịch vụ này đƣợc lƣợng hóa qua 3 tiêu chuẩn:
- Tính sẵn có của hàng hóa/dịch vụ
- Khả năng cung ứng dịch vụ
- Độ tin cậy dịch vụ
Sự sẵn có của hàng hóa tại các địa điểm bán và nơi cung cấp là một
cách thức để đánh giá khả năng đáp ứng những mong đợi của khách hàng
trong quá trình vận hành các hoạt động logistics. Tính sẵn có đƣợc đánh giá
theo 03 chỉ tiêu sau:
- Tỷ lệ phần trăm hàng hóa có mặt tại kho ở một thời điểm.
chi phí phù hợp.
Sự chính xác của vòng quay đơn đặt hàng, còn gọi là độ ổn định thời
gian giao hàng. Chỉ tiêu sự chính xác của vòng quay đơn hàng thƣờng để
16
đánh giá khoảng thời gian của một vòng quay đơn đặt hàng vƣợt quá khoảng
thời gian cho phép hoặc mong đợi. Khi đánh giá khả năng cung ứng dịch vụ
khách hàng, đôi khi chỉ tiêu đƣợc coi là quan trọng hơn chỉ tiêu thời gian cung
ứng, bởi lẽ trong điều kiện cung ứng hiện đại, các phƣơng thức cung ứng đòi
hỏi sự tồn trữ là nhỏ nhất trong điều kiên có thể nên thời gian cần chính xác
để đáp ứng tốt các yêu cầu kinh doanh nhƣng giảm thiểu đƣợc chi phí dự trữ.
Các doanh nghiệp thƣờng dựa vào nhà cung cấp để giảm số lƣợng hàng trong
kho đồng thời lại luôn cần duy trì một lƣợng hàng lớn sẵn có cho khách hàng
nên sự chính xác của thời giao hàng là rất quan trọng. Trên thực tế khoảng
thời gian cần thiết cho bất cứ hoạt động nào trong 5 hoạt động của chu kỳ đặt
hàng có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn so với thời gian mong đợi nên sự phù hợp
của toàn bộ vòng quay sẽ là tổng thời gian cần thiết để tiến hành tất cả các
hoạt động riêng lẻ. Ví dụ có thể bù đắp sự chậm trễ trong việc lựa chọn và
chuẩn bị đơn đặt bằng việc thuê phƣơng tiện vận chuyển tốc độ cao để có thể
giao hàng đúng thời hạn [9].
Tính linh hoạt đề cập tới khả năng của một công ty trong việc điều phối
các nguồn lực để đáp ứng các yêu cầu về dịch vụ đặc biệt của khách hàng.
Trong các hoạt động phân phối sự linh hoạt có thể giúp khắc phục sự thất bại
trong cung ứng dịch vụ hoặc có thể là cách thức hay đƣợc dùng để thỏa mãn
tốt hơn những đòi hỏi đặc biệt nào đó của khách hàng.
Ví dụ khi xuất một mặt hàng quan trọng nhằm phục vụ cho một khách
hàng quan trọng, công ty có thể năng động sử dụng phƣơng tiện vận chuyển
có tốc độ cao. Với khả năng hoạt động linh hoạt nhƣ vậy những thất bại trong
cung ứng dịch vụ có thể đƣợc hạn chế. Ngoài ra, dựa trên yêu cầu của khách
các vận đơn chính xác hoặc hoàn hảo, thực hiện trả hàng an toàn, cung cấp
thông tin nhanh chóng và chính xác, thái độ phục vụ thiện chí hoặc khả năng
nhanh chóng giải quyết các vấn đề nảy sinh cũng đƣợc sử dụng để đánh giá