Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân GVHD: TH.S.Đỗ Hoài
Linh
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế đất nước đang trên đà phát triển với tốc độ cao và ổn định, cùng
với sự phát triển của nền kinh tế chúng ta cần có những chính sách tài chính và tiền
tệ đúng đắn và hệ thống các ngân hàng thương mại không ngừng cải tiến và nâng
cao chất lượng hoạt động để có hiệu quả. Huy động vốn là một trong những hoạt
động có vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng thương
mại. Nguồn huy động vốn của ngân hàng rất đa dạng như các nghiệp vụ cho vay,
nguồn vốn hoạt động từ đân cư và các tổ chức kinh tế, những lĩnh vực đang cần vốn
đầu tư. Vì vậy, Ngân hàng thương mại đóng vai trò là trung gian vốn của nền kinh
tế, chu chuyển những nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội cùng với sự phát triển đất
nước. Để các ngân hàng thương mại hoạt động huy động vốn có hiệu quả hơn, nhận
thức được tầm quan trọng của nguồn vốn và cũng không thể tránh khỏi những khó
khăn chung của ngân hàng. Trong đó, hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh tỉnh Bắc Kạn cũng đang là một trong
những vấn đề cấp thiết mà Ban lãnh đạo Ngân hàng cần có những định hướng để
hoạt động của ngân hàng có hiệu quả. Trong thời gian thực tập tại Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh tỉnh Bắc Kạn em đã đi sâu và tìm hiểu đề
tài “ Mở rộng huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Chi nhánh tỉnh Bắc Kạn ” để làm chuyên đề báo cáo thực tập của mình .Kết cấu
báo cáo gồm:
Lời mở đầu
Chương I: Khái quát chung về hoạt động huy động vốn của Ngân hàng
thương mại.
Chương II: Thực trạng công tác huy động vốn tại NHNo&PTNT Chi
nhánh Tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2008-2010.
Chương III: Giải pháp mở rộng huy động vốn tại NHNo&PTNT Chi
nhánh Tỉnh Bắc Kạn.
Kết Luận
SV: Đặng Thị Thu Trà Lớp: Ngân Hàng K11
huy động những khoản vốn nhàn rỗi đó và sử dụng những khoản vốn huy động
thông qua hình thức cấp tín dụng cho các cá nhân ,doanh nghiệp, tổ chức kinh tế.
Ngân hàng đã tạo điều kiện và cung cấp vốn cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh
tế muốn mở rộng sản xuất, kinh doanh cần vốn để đầu tư mua sắm tư liệu sản xuất,
phương tiện để sản xuất kinh doanh…; cá nhân cần vốn để kinh doanh ,phục vụ đời
SV: Đặng Thị Thu Trà Lớp: Ngân Hàng K11
2
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân GVHD: TH.S.Đỗ Hoài
Linh
sống …Do đó, ngân hàng thương mại trở thành chủ thể đáp ứng nhu cầu vốn trong
nền kinh tế .
1.1.2.2. Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trường
Trong nền kinh tế thị trường đầy cạnh tranh, để có thể đáp ứng tốt nhất nhu
cầu của thị trường các doanh nghiệp phải sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng và
mẫu mã đẹp hơn, phù hợp với thi hiếu của người tiêu dùng. Doanh nghiệp không
những cần nâng cao chất lượng lao động, củng cố và hoàn thiện cơ cấu kinh tế, mà
còn phải không ngừng đầu tư cải tiến máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ hiện
đại vào sản xuất, tìm tòi và sử dụng nguyên vật liệu mới để có được những sản
phẩm chất lượng, giá rẻ, mở rộng quy mô sản xuất một cách thích hợp. Để đáp ứng
được điều đó, doanh nghiệp cần phải đầu tư vốn với số lượng lớn, nhiều khi vượt
quá vốn tự có của doanh nghiệp. Vì vậy, doanh nghiệp đến ngân hàng để vay vốn.
Nguồn vốn tín dụng của ngân hàng cung cấp cho doanh nghiệp đóng vai trò rất
quan trọng trong việc nâng cao chất lượng của sản phẩm, hiệu quả trong kinh
doanh, đáp ứng nhu cầu của thị trường và từ đó tạo cho doanh nghiệp chỗ đứng
vững chắc trong cạnh tranh . Do đó, thông qua hoạt động cấp tín dụng cho doanh
nghiệp ngân hàng là cầu nối doanh nghiệp với thị trường.
1.1.2.3. Ngân hàng thương mại là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô trong
nền kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động của Ngân hàng thương mại đóng vai
trò là các trung gian tài chính trong nền kinh tế. Thông qua việc cấp tín dụng cho
nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế; mặt khác với số vốn này NHTM sẽ đáp ứng
được nhu cầu vốn của nền kinh tế để sản xuất kinh doanh. Qua đó nó thúc đẩy nền
kinh tế phát triển
1.1.3.2. Chức năng trung gian thanh toán
Để thực hiện được các nghiệp vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp thông qua ngân
hàng, NHTM được mở tài khoản cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Để thực
hiện thanh toán giữa các ngân hàng với nhau thông qua NHNN và các NHTM duy trì tại
đó số dư tiền gửi dự trữ bắt buộc theo quy định. Ngoài ra, các chi nhánh của NHTM
được mở tài khoản tiền gửi tại chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở và chi
nhánh. Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ của NHTM bao gồm các hoạt động
sau:các dịch vụ, phương tiện thanh toán trong nước và quốc tế, dịch vụ thu hộ chi hộ,
thanh toán nội bộ trên hệ thống thanh toán liên ngân hàng trong nước.
1.1.3.3. Chức năng tạo phương tiện thanh toán
Đây cũng là một trong những chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của
các NHTM. Chức năng này được thực hiện trên cơ sở chức năng trung gian tài
chính và chức năng trung gian thanh toán để thực hiện mục tiêu của NHTM là tìm
kiếm lợi nhuận. Thông qua chức năng trung gian tài chính, NHTM sử dụng số vốn
đã huy động được để cho vay, số tiền cho vay này được các khách hàng sử dụng để
kinh doanh như đầu tư bất động sản, mua hàng hóa, thanh toán….Do đó, các
SV: Đặng Thị Thu Trà Lớp: Ngân Hàng K11
4
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân GVHD: TH.S.Đỗ Hoài
Linh
NHTM làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng đủ nhu cầu
thanh toán, chi trả các khoản trong xã hội.
1.2. Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm vốn của Ngân hàng thương mại
Vốn của NHTM là toàn bộ các giá trị do bản thân các Ngân hàng huy động và
tạo lập để cho vay, đầu tư và đáp ứng các nhu cầu khác trong hoạt động kinh doanh
của Ngân hàng.
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân GVHD: TH.S.Đỗ Hoài
Linh
Quỹ thặng dư: Là phần đánh giá lại tài sản của ngân hàng và chênh
lệch giữa thị giá và mệnh giá cổ phiếu khi phát hành cổ phiếu mới
Quỹ khác: quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ giám đốc….
Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần
Các nguồn trung và dài hạn có thể chuyển đổi thành cố phần vì các nguồn này
có thể sử dụng lâu dài, đầu tư vào nhà cửa đất đai , không phải hoàn trả khi đến hạn.
1.2.2.2. Vốn huy động
Vốn huy động là nguồn vốn do Ngân hàng thương mại huy động từ công
chúng thông qua các hoạt động nhận tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá.
Nguồn vốn này có tính biến động cao, không ổn định. Chiế tỷ trọng lớn trong
tổng nguồn vốn của Ngân hàng thương mại. Bao gồm:
Tiền gửi giao dịch ( thanh toán )
Tiền gửi phi giao dịch
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
Phát hành giấy tờ có giá
Tiền gửi tổ chức tín dụng
1.2.2.3. Vốn đi vay
Vốn đi vay là nguồn vốn Ngân hàng thương mại có được dựa trên quan hệ vay
mượn trên thị trường liên ngân hàng , trên các quỹ cho vay đã được thiết lập. Bao
gồm. Nguồn vốn này ổn định nhưng chi phí cao. Bao gồm:
Vay ngân hàng Nhà nước:
Ngân hàng nhà nước là nơi phát hành tiền, là ngân hàng của các ngân hàng,
thực thi và điều hành chính sách tín dụng quốc gia. Do vậy, khi các ngân hàng
thương mại lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính, NHNN trở thành cứu cánh
cuối cùng. Thông thường các ngân hàng thương mại và một số tổ chức tài chính
khác được hưởng quyền vay tiền tại NHNN trong những tình huống thiếu hụt dự
trữ, quá kẹt vốn. Vì vậy, NHNN cho các NHTM vay cho dù ngân hàng trung ương
Các khoản nợ khác như thuế chưa nộp, lương chưa trả cho nhân viên….
1.3. Một số khái niêm về huy động vốn
1.3.1.Khái niệm về vốn huy động:
Vốn huy động là những giá trị tiền tệ do bản thân ngân hàng thương mại huy
động từ các cá nhân, các tổ chức trong xã hội bằng việc bán các sản phẩm, dịch vụ
cho khách hàng. Ngân hàng có quyền sử dụng tạm thời nguồn vốn huy động này để
làm vốn kinh doanh thông qua các hoạt động cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các
nghiệp vụ kinh doanh khác và tuân thủ theo các quy định về dự trữ bắt buộc để đảm
bảo khả năng thanh toán.
1.3.2.Khái niệm về huy động vốn của Ngân hàng thương mại
Huy động vốn của các ngân hàng thương mại là nghiệp vụ tạo vốn của Ngân
hàng với nhiều hình thức đa dạng và phong phú. Các ngân hàng thương mại tìm
kiếm nguồn vốn khả dụng từ công chúng thông qua việc thu hút tiền gửi và phát
hành giấy tờ có giá nhằm mục đích kinh doanh và đảm bảo sự vận hành bình
thường, hiệu quả của ngân hàng theo đúng các quy định pháp luật.
1.3.3.Khái niệm về mở rộng huy động vốn:
SV: Đặng Thị Thu Trà Lớp: Ngân Hàng K11
7
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân GVHD: TH.S.Đỗ Hoài
Linh
Mở rộng huy động vốn là việc các ngân hàng thương mại phát triển về quy mô
cũng như mở rộng phạm vi hoạt động của ngân hàng. Là hình thức các ngân hàng
làm tăng thêm nguồn vốn huy động của mình bằng việc đưa ra các hình thức huy
động nhằm thu hút được số lượng vốn lớn trong kinh doanh và hướng đến nhiều đối
tượng khách hàng hơn .
1.4. Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương mại
1.4.1. Phân loại theo bản chất nghiệp vụ huy động vốn
1.4.1.1. Huy động vốn qua nghiệp vụ nhận tiền gửi
Tiền gửi giao dịch ( tiền gửi thanh toán )
Là loại tiền gửi không kỳ hạn được sử dụng với mục đích chủ yếu là thực hiện
công cụ dịch vụ thanh toán bằng các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt để chi trả
cho người khác và không được sử dụng để phát hành séc hoặc chuyển khoản sang tài
khoản khác do chính chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết
kiệm là chủ tài khoản tại tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm đó theo đúng quy định.
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn:
Là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền không được rút tiền ra sau khi hết một
kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm.Tuy
nhiên, do yếu tố cạnh tranh thu hút tiền gửi nên một số các Ngân hàng thương mại
vẫn có phép khách hàng rút tiền trước hạn và chỉ hưởng mức lãi suất gửi tiền tiết
kiệm không kỳ hạn để hạn chế việc khách hàng rút tiền trước hạn.
Với loại tiền gửi này khách hàng có thể lực chọn nhiều loại kỳ hạn như 1
tháng, 2 tháng, 3 tháng, 6 tháng…, với thủ tục mở đơn giản, có thể gửi tiền hoặc rút
tiền tại bất kỳ tại địa điểm giao dịch nào, được thực hiện cầm cố sổ tiết kiệm để vay
vốn và có thể dùng để đảm bảo khi mở thẻ tín dụng bằng số dư trong tài khoản và
được Ngân hàng xác nhận khả năng tài chính khi đi du lịch và học tập ở nước ngoài.
Nhìn chung, nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn có độ ổn định
cao, tiền gửi có thời gian càng lâu thì được hưởng lãi suất càng cao giúp ngân hàng
có thể dùng tiền để kinh doanh và đầu tư vào sản suất, dịch vụ lâu dài hơn. Loại tiền
gửi này mang tính chất ổn định do vậy ngân hàng có thể lập được kế hoạch sử dụng
số tiền gửi này để kinh doanh có hiệu quả. Tuy nhiên, mặt trái kèm theo của nó là
chi phí huy động vốn khá cao như chi phí giao dịch bình quân, chi phí trả lãi, chi
phí thiết lập mạng lưới chi nhánh…
Phát hành các giấy tờ có giá
“ Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động
vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định,
điều kiện trả lãi và các khoản điều cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người
mua ” theo quy định khoản 1 điều 4 Quy chế phát hành giấy tờ có giá, kèm theo
Quyết định số 07/2008/ QĐ-NHNN ngày 24/03/2008 của NHNN Việt Nam.
Huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá khá thông dụng của các tổ
SV: Đặng Thị Thu Trà Lớp: Ngân Hàng K11
Là loại công cụ có khả năng tạo cho ngân hàng thương mại một nguồn vốn ổn
định trong một thời gian ngắn (thông thường dưới 1 năm). Khi NHTM có nguồn tài
chính dồi dào tài trợ cho các dự án quy mô lớn để nhằm phát triển kinh tế địa
phương, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, liên doanh liên kết mà nguồn vốn tự có không
đủ đáp ứng. NHTM trình NHNN cho phép phát hành kỳ phiếu để tạo nguồn vốn tín
SV: Đặng Thị Thu Trà Lớp: Ngân Hàng K11
10
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân GVHD: TH.S.Đỗ Hoài
Linh
dụng lâu dài.
Do đó, loại giấy tờ này có tính thanh khoản cao ổn định, rất dễ chuyển đổi,
tính rủi ro thấp vì chủ thể phát hàng là các ngân hàng có tài chính ổn định, chủ thể
sở hữu nó có thể dễ dàng chuyển đổi nó thành tiền mặt thông qua các giao dịch trên
thị trường tiền tệ.
Tuy nhiên, lãi suất khá thấp vì vậy lợi nhuận không cao so với các loại chứng
khoán khác. Nhưng vẫn thường là loại giấy tờ có giá được lựa chọn đầu tư mang
tính bền vững. Nên loại hình huy động vốn này thu hút được một lượng lớn nguồn
vốn đầu tư.
- Chứng chỉ tiền gửi
Chứng chỉ tiền gửi là một loại phiếu nợ, chủ yếu là ngắn hạn, có mệnh giá
lớn. Nguồn vốn mà các NHTM thu được từ phát hành chứng chỉ tiền gửi cũng như
kỳ phiếu, trái phiếu có tính ổn định cao, tuy nhiên chi phí cũng cao hơn so với các
khoản tiền gửi có cùng kỳ hạn.
1.4.2. Phân loại theo thời gian
1.4.2.1. Huy động ngắn hạn
Huy động vốn ngắn hạn là hình thức huy động chủ yếu trong các ngân
hàng thương mại để cho vay ngắn hạn thường thời hạn là dưới 1 năm. Bằng việc
thông qua việc phát hành các giấy tờ có giá ngắn hạn trên thị trường tiền tệ gồm kỳ
phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác và
các nghiệp vụ nhận tiền gửi ngắn hạn, tiền gửi thanh toán. Do thời hạn huy động
Trong nền kinh tế hiện nay, khi các doanh nghiệp có khoảng cách xa nhau về
mặt địa lý, muốn thanh toán tiền hàng hóa một cách nhanh chóng và an toàn thì các
doanh nghiệp đã thanh toán thông qua các tài khoản ở các Ngân hàng.
Huy động vốn từ các tổ chức kinh tế chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng vốn
huy động và mang lại rất nhiều lợi ích và thuận tiện cho các Ngân hàng thương mại
vì đối tượng này thường xuyên gửi tiền vào Ngân hàng với số lượng lớn để thực
hiện các nghiệp vụ thanh toán ở Ngân hàng.
Để nhằm mục đích tiết kiệm thời gian,chi phí, đảm bảo an toàn trong thanh
toán của Ngân hàng. Khi các tổ chức kinh tế gửi tiền cho có các khoản phải thanh
toán và nhận tiền các khoản phải thu, trên tài khoản của tổ chức này ở Ngân hàng
luôn tồn tại số dư tiền gửi nhất định trong thời gian ngắn, do vậy nguồn vốn này có
chi phí thấp, giúp ngân hàng dễ dàng thực hiện nghiệp vụ cho vay, chủ yếu cho vay
ngắn hạn.
1.4.3.3. Vốn vay từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác
Vay Ngân hàng Nhà nước:
NHTM nào khi được NHNN cho phép thành lập đều đuợc hưởng quyền vay
tiền tại NHNN trong truờng hợp bổ sung nhu cầu vốn khả dụng. NHNN cấp tín
dụng cho các NHTM chủ yếu duới hai hình thức: Cho vay thế chấp hay ứng truớc,
tái cấp vốn chủ yếu dưới hình thức tái chiết khấu các chứng từ có giá.
SV: Đặng Thị Thu Trà Lớp: Ngân Hàng K11
12
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân GVHD: TH.S.Đỗ Hoài
Linh
Vay các Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác:
Một mục đích quan trọng của loại vay này là nhằm đảm bảo nhu cầu vốn khả
dụng trong thời gian ngắn. Trong quá trình hoạt động, một số NHTM có những
ngày cho vay quá nhiều hoặc có nhu cầu lớn về các nghĩa vụ tài chính dẫn đến sự
thiếu hụt dự trữ tại NHTW. Trong khi đó lại có một vài NHTM khác trong tình
trạng dư thừa dự dữ. Việc vay lẫn nhau giữa các ngân hàng là nhằm điều hoà nhu
cầu vốn khả dụng và đảm bảo nguồn vốn lưu chuyển liên tục trong hệ thống các
nguồn tiền gửi, tiền gửi tiết kiệm vào các NHTM tăng lên. Ngược lại, nền kinh tế của
nước đó suy thoái thì khả năng khai thác vốn đưa vào nền kinh tế bị hạn chế dẫn đến
việc gửi tiền tiết kiệm của người dân vào các NHTM cũng sẽ giảm đi, do vậy, hoạt
động thu hút vốn của các NHTM cũng gặp khó khăn. Ngoài sự biến động của tình hình
kinh tế thì xã hội cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng và có khả năng chi phối
lớn đến khách hàng khi sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng.
Việc phân bố dân cư, thu nhập của người dân là một nguồn lực tiềm tàng có
thể khai thác nhằm mở rộng quy mô hoạt động vốn của NHTM. Môi truờng văn hoá
như phong tục tập quán, lối sống, trình độ dân trí, tâm lý, thói quen sử dụng tiền của
dân cư ảnh hưởng nhiều đến quyết định kinh tế của nguời có thu nhập về tiêu dùng và
tiết kiệm, mức độ chấp nhận rủi ro khi gửi tiền vào các tổ chức tín dụng hay quyết định
chi số tiền nhàn rỗi của họ đầu tư vào động sản, bất động sản, chứng khoán.
1.5.1.3. Tâm lý, thói quen của khách hàng
Tâm lý và thói quen của khách hàng ảnh hưởng rất nhiều tới hoạt động huy
động vốn của các NHTM. Nếu người dân có sự hiểu biết vê ngân hàng cũng như
các hoạt động cung cấp dịch vụ của ngân hàng, ở đó họ thấy được những lợi ích và
tiện ích mà ngân hàng đem lạo thì họ sẽ gửi tiền nhiều hơn, do vậy, người dân có
thói quen gửi tiền vào ngân hàng thì huy động vốn của ngân hàng sẽ dễ dàng hơn.
Bên cạnh đó ở những nước phát triển thói quen gửi tiền vào ngân hàng và
hoạt động thanh toán của người dân cũng tác động không nhỏ tới huy động vốn, tuy
nhiên ở những những nước đang phát triển như nước ta thì người dân vẫn có thói
quen cất giữ tiền trong nhà bằng vàng, ngoại tệ hoặc đầu tư vào bất động sản, chưa
có thói quen gửi tiền vào ngân hàng để sử dụng các sản phẩm và dịch vụ của ngân
hàng nên đó cũng là nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của NHTM.
1.5.2. Nhân tố chủ quan
1.5.2.1. Chiến lược kinh doanh của Ngân hàng
Trong quá trình hội nhập của nền kinh tế, người dân ngày càng có nhiều sự
chủ động và lựa chọn các kênh khác nhau để đầu tư vốn của mình chứ không phải
SV: Đặng Thị Thu Trà Lớp: Ngân Hàng K11
14
những dịch vụ vào sản phẩm phù hợp sẽ đảm bảo được lượng vốn an toàn, làmtăng
uy tín, đem lại hiệu quả cao. Qua đó, các cán bộ Ngân hàng là đối tượng mang lại hình
ảnh của Ngân hàng tới khách hàng, là đối tượng trực tiếp tiếp xúc, gây được ấn tượng tốt
SV: Đặng Thị Thu Trà Lớp: Ngân Hàng K11
15
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân GVHD: TH.S.Đỗ Hoài
Linh
đối với khách hàng, thu hút được nhiều khách hàng hơn.
Do đó, để thu hút khách hàng gửi tiền vào ngân hàng mình thì các cán bộ ngân
hàng phải trau dồi kiến thức, nắm chắc nghiệp vụ, hiểu biết đối tượng khách hàng, phải
thường xuyên hoàn thiện phong cách phục vụ của mình sao cho vừa lòng khách hàng.
1.5.2.3. Uy tín của Ngân hàng
Thương hiệu và uy tín của một Ngân hàng cũng là nhân tố quan trọng trong
hoạt động của ngân hàng. Nếu một Ngân hàng có uy tín được nhiều người biết đến
thì sẽ có điều kiện thuận lợi tốt hơn, khách hàng sẽ tin tưởng và cảm thấy an tâm
hơn khi gửi tiền vào những ngân hàng đó. Đây là một yếu tố rất quan trọng để giúp
ngân hàng cạnh tranh phi lãi suất vì khi Ngân hàng có uy tín khách hàng tin tưởng
vào ngân hàng mình lưa chọn thì họ sẽ không quan tâm đến lãi suất mà quan tâm
đến chất lượng và loại hình dich vụ mà ngân hàng cung ứng. Điều này giúp cho
hoạt động huy động vốn của ngân hàng tốt hơn, dễ dàng thu hút lượng vốn nhiều
hơn và tiết kiệm chi phí huy động.
1.5.2.4. Trình độ công nghệ Ngân hàng:
Trình độ công nghệ ngân hàng ngày càng cao, khả năng ứng dụng công nghệ
là một trong những điều kiện bắt buộc đễ Ngân hàng tồn tai và phát triển. Khách
hàng sẽ càng cảm thấy hài lòng về dịch vụ được ngân hàng cung ứng và yên tâm
hơn khi gửi tiền tại các ngân hàng.
Mặt khác, khi các ngân hàng có cũng mức lãi suất như nhau ngân hàng nào cải
tiến chất lượng dịch vụ tốt hơn, hiện đại hơn, tạo thuận tiện hơn cho khách hàng thì
sức cạnh tranh sẽ cao hơn. Trong những năm gần đây, nhờ tiến bộ của công nghệ
thông tin đã xuất hiện nhiều sản phẩm dịch vụ mới liên quan đến hoạt động huy
vay hay đầu tư từ nguồn vốn huy động hoặc so sánh với chi phí huy động vốn bình
quân trên thị trường. Và đồng thời đảm bảo quyền lợi cho người gửi tiền thì lãi suất
huy động phải là lãi suất dương, tức là lãi suất cao hơn tỷ lệ lạm phát.
Hệ số xác định tỷ trọng chi phí trả lãi/ tổng chi phí (%)
Hệ số xác định mức chi phí huy động vốn bình quân
Chi phí huy động vốn =
Chi phí trả lãi
× 100%
Tổng vốn huy động
SV: Đặng Thị Thu Trà Lớp: Ngân Hàng K11
17
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân GVHD: TH.S.Đỗ Hoài
Linh
1.7.2. Chỉ tiêu xác định hiệu quả quy mô mở rộng huy động vốn
Điểm khác nhau cơ bản trong nguồn vốn của NHTM với các doanh nghiệp phi
tài chính là: NHTM kinh doanh chủ yếu bằng nguồn vốn huy động từ nền kinh tế,
còn các doanh nghiệp hoạt động dựa trên vốn tự có là chính. Vì vậy đánh giá hiệu
quả công tác huy động vốn là công tác không thể thiếu trong nghiên cứu nguồn vốn
của các NH.Khi đánh giá mở rộng công tác huy động vốn hiệu quả, có một số chỉ
tiêu đánh giá như sau:
Vốn huy động / tổng nguồn vốn (%)
Chỉ tiêu này cho ta thấy được tỷ trọng đóng góp của vốn huy động trong tổng
nguồn vốn và khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên hoạt động huy động
vốn.
Tỷ trọng vốn huy
động/ tổng nguồn vốn
=
Vốn huy đông
x 100%
Tổng nguồn vốn
Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn hàng năm
Tốc độ tăng
trưởng
nguồn vốn
(%)
=
Tổng nguồn vốn
huy động cuối kỳ
-
Tổng nguồn vốn huy
động đầu kỳ
× 100%
Tổng nguồn vốn huy động đầu kỳ
SV: Đặng Thị Thu Trà Lớp: Ngân Hàng K11
19
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân GVHD: TH.S.Đỗ Hoài
Linh
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI
NHNo&PTNT CHI NHÁNH TỈNH BẮC KẠN
2.1. Khái quát hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT chi nhánh tỉnh
Bắc Kạn
2.1.1. Khái quát chung về NHNNo&PTNT Việt Nam.
2.1.1.1. Tổng quan về NHNo&PTNT Việt Nam.
Tên tiếng Việt: Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam
Tên giao dịch quốc tế: Vietnam Bank for Agriculture and Rural Development
( VBARD)
Tên gọi tắt: AGRIBANK
Slogan: Mang phồn vịnh đến với khách hàng
2.1.1.3. Một số thành tựu đã đạt được của NHNo&PTNT Việt Nam năm 2010
Nhằm tăng cường năng lực tài chính phục vụ tốt hơn nhiệm vụ đầu tư cho
nông nghiệp, nông thôn. Agribank được Chính phủ cấp bổ sung 10.202,11 tỷ đồng,
nâng tổng vốn điều lệ Agribank lên 20,810 tỷ đồng tiếp tục định chế tài chính có
vốn điều lệ lớn nhất Việt Nam.
Agribank thực hiện Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg về chính sách tín dụng
phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và tiếp tục khẳng định vai trò chủ lực
trong đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn với tỷ trọng cho vay khu vực này luôn
chiếm 70% tổng dư nợ toàn hệ thống.
Agribank trở thành Ngân hàng số 1 Việt Nam về phát hành thẻ với trên 6
triệu thẻ.
Agribank phát triển được gần 190 sản phẩm dịch vụ tiện ích, tiên tiến, vươn
lên dẫn đầu về các sản phẩm thanh toán, đặc biệt là các sản phẩm thanh toán từ Thu
Ngân Sách Nhà nước, Chuyển tiền, Thanh toán hóa đơn, Gửi rút tiền nhiều nơi….
Agribank duy trì quan hệ đại lý với 1043 ngân hàng tại 95 quốc gia và vũng
lãnh thổ, và đối tác tin cậy trên 30,000 doanh nghiệp, gần 10,000,000 hộ gia đình.
2.1.2. Khái quát chung về NHNo&PTNT Chi nhánh Tỉnh Bắc Kạn.
2.1.2.1. Tổng quan về NHNo&PTNT Chi nhánh Tỉnh Bắc Kạn.
NHNo&PTNT Chi nhánh Tỉnh Bắc Kạn trực thuộc tại NHNo&PTNT Việt
Nam
Đỉa chỉ : Tổ 1A Phường Phùng Chí Kiên, Thị xã Bắc Kạn, Tỉnh Bắc Kạn
Được thành lập theo Quyết định số 595./QĐ-NHNo/02 ngày 16 tháng 12
năm 1996 của Tổng giám đốc NHNo&PTNT Việt Nam. NHNo&PTNT Chi nhánh
Bắc Kạn có tư cách pháp nhân, có quyền tự chủ kinh doanh và chịu sự rang buộc về
quyền lợi va nghĩa vụ đối với NHNo&PTNT Việt Nam.
Trải qua hơn 15 năm thành lập trước những khó khăn và thách thức , toàn
hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp nó chung và NHNo&PTNT Chi nhánh Tỉnh Bắc
Kạn nói riêng đã định hướng tập trung các hoạt động về thị trường nông nghiệp-
nông thôn, xác định hộ nông dân là người bạn đồng hành của NHNo&PTNT.
Chi nhánh đã từng bước khắc phục những khó khăn, thực hiện những chiến
Phòng
Kiểm tra
kiểm toán
nội bộ
Phòng
Hành
chính nhân
sự
Phòng Kế
toán ngân
quỹ
Phòng Dịch
vụ và
Marketing
Phòng
Điện toán
(Vi tính)
Phòng Kế
hoạch Kinh
doanh
Chi nhánh loại 3 và các PGD
trực thuộc
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân GVHD: TH.S.Đỗ Hoài
Linh
của đơn chi nhánh và báo cáo thông tin lên hội sở chính Agribank Việt Nam, tiếp
theo là các Phó giám đốc, trưởng phòng hoạt động theo nhân sự phân công của
Giám đốc.
Phòng Kế hoạch kinh doanh: Có chức năng tham mưu, xây dựng các biện
pháp thực hiện chính sách, chủ trương của Agribank tỉnh Bắc Kạn về tiền tệ, tín
dụng, thực hiện cho vay đối với các thành phần kinh tế theo Luật Ngân hàng, mở tài
Linh
toàn trong kinh doanh theo đúng quy định của Pháp luật về Ngân hàng Nông nghiệp
Việt Nam. Làm đầu mối phối hợp với các đoàn thanh tra, kiểm toán đối với các
hoạt động của các chi nhánh trong toàn tỉnh.
Phòng giao dịch: tiếp nhận các loại tiền gửi của các thành phần kinh tế,
thực hiện nghiệp vụ tín dụng và một số loại dịch vụ như bảo lãnh, chuyển tiền thu
đổi ngoại tệ, thu đổi tiền mặt… Huy động vốn của các thành phần kinh tế và các
cá nhân dưới dạng tiền gửi và tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu bằng VNĐ .
2.1.3.Kết quả một số hoạt động của NHNo&PTNT chi nhánh tỉnh Bắc Kạn
trong giai đoạn 2008-2010.
Cùng với sự khởi sắc của nền kinh tế đất nước và của tỉnh Bắc Kạn, trong
những năm gần đây NHNo&PTNT chi nhánh tỉnh Bắc Kạn đã thu được những
thành qủa đáng khích lệ trong hoạt động kinh doanh và đã tạo dựng được một vị trí
quan trọng trong nền kinh tế của tỉnh. NHNo&PTNT chi nhánh tỉnh Bắc Kạn ngày
càng khẳng định là ngân hàng đứng đầu trong địa bàn tỉnh, cố gắng phát triển với
phương châm: “Mang phồn vịnh đến với khách hàng”.
SV: Đặng Thị Thu Trà Lớp: Ngân Hàng K11
25