BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Chuyên ngành: Công nghệ sinh học
Mã ngành: 9 42 02 01
CAO THỊ TÀI NGUYÊN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ DẠNG BẤT THƯỜNG
NHIỄM SẮC THỂ Y Ở NAM GIỚI KHÁM VÔ SINH
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Cần Thơ, 2018
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Luận án được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp trường
Họp tại:…………………………………, Trường Đại học Cần Thơ
Vào lúc ….. giờ ….. ngày ….. tháng ….. năm …..
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
Trung tâm Học liệu, Trường Đại học Cần Thơ.
Thư viện Quốc gia Việt Nam.
GIỚI THIỆU
1.1. Đặt vấn đề
Có nhiều nguyên nhân gây vô sinh ở nam giới, trong đó nguyên
nhân di truyền chiếm từ 4-38%. Hiện nay, 2 nguyên nhân di truyền thường
gặp ở nam giới vô sinh là hội chứng Klinefelter và mất đoạn AZF. Tại
Việt Nam, tỷ lệ các nguyên nhân này là khoảng 23% ở nam giới có ≤
5x106 tinh trùng/mL tinh dịch. Tỷ lệ nam giới vô sinh bị mất đoạn AZF ở
Việt Nam khoảng 5-12,8%.
Có 3 loại mất đoạn AZF là AZFa, AZFb và AZFc. Nam giới bị
mất đoạn AZFc có thể có con nhờ vào kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (tỷ lệ thành
công khoảng 70%), các mất đoạn khác rất khó có con. Viện Hàn Lâm
Nam học Châu Âu/Mạng lưới kiểm định chất lượng Di truyền phân tử
Châu Âu khuyến cáo nam giới có ≤ 5x106 tinh trùng/mL tinh dịch nên
thực hiện xét nghiệm tìm nguyên nhân di truyền trước khi sử dụng kỹ
thuật hỗ trợ sinh sản (Krausz et al., 2014).
Kỹ thuật QF-PCR với nhiều ưu điểm như thời gian trả kết quả
nhanh, giá thành rẻ, độ chính xác cao nên nhiều tác giả đề xuất áp dụng kỹ
thuật này trong chẩn đoán tìm nguyên nhân di truyền ở nam giới vô sinh.
Trên cơ sở đó, luận án “Nghiên cứu một số dạng bất thường nhiễm sắc
thể Y ở nam giới khám vô sinh tại Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần
Thơ” được thực hiện.
1.2. Mục tiêu đề tài
(1) Xây dựng và kiểm định quy trình kỹ thuật QF-PCR để phát
hiện một số dạng bất thường nhiễm sắc thể Y ở nam giới khám vô sinh có
≤ 5x106 tinh trùng/mL tinh dịch.
(2) Xác định tỷ lệ một số dạng bất thường nhiễm sắc thể Y ở nam
giới khám vô sinh có ≤ 5x106 tinh trùng/mL tinh dịch bằng quy trình kỹ
thuật QF-PCR đã được xây dựng và kiểm định.
(3) Mô tả đặc điểm tinh dịch đồ, nội tiết tố và một số yếu tố liên
quan đến bất thường nhiễm sắc thể Y ở nam giới khám vô sinh có ≤ 5x106
2.1. Đại cương về vô sinh và quá trình sinh tinh
2.1.1. Một số khái niệm về vô sinh và vô sinh nam
Khoảng 80-85% các cặp vợ chồng có thai tự nhiên sau một năm
chung sống, nhưng cũng có 15-20% cặp vợ chồng gặp vấn đề về khả năng
sinh sản hay còn gọi là vô sinh (Ayensu-Coker et al., 2007; Jungwirth et
al., 2012).
Một cặp vợ chồng hay một đôi nam nữ được gọi là vô sinh khi họ
giao hợp thường xuyên và không sử dụng biện pháp tránh thai nào sau 12
tháng mà vẫn không có con (WHO, 2000).
Vô sinh nam là tình trạng các cặp vợ chồng hoặc cặp nam nữ không
có thai sau một năm sinh hoạt tình dục bình thường và không dùng biện
pháp tránh thai nào do nguyên nhân từ nam giới (Jungwirth et al., 2012).
2.1.2. Đại cương về quá trình sinh tinh
Các tế bào mầm sinh dục nguyên thủy tham gia vào quá trình sinh
tinh trải qua 3 giai đoạn là phân bào nguyên phân, giảm phân và biệt hóa
để tạo thành tinh trùng trưởng thành (Oliveira và Alves, 2015). Nam giới
3
có khả năng sinh sản bình thường mỗi ngày tạo ra > 40x106 tinh trùng
(Cheng và Mruk, 2013).
Quá trình sinh tinh được điều hòa bởi 3 hormon chính là FSH
(FSH - Follicle-stimulating hormon), LH (LH - Luteinizing hormon) và
testosteron (Verhoeven et al., 2010; Rato et al., 2012). Bên cạnh đó, quá
trình này còn được điều hòa bởi một số yếu tố khác như nhiệt độ, các dạng
oxi hoạt động ROS (ROS - Reactive oxygen species) và hàng rào chống
oxi hóa tại tinh hoàn (Oliveira và Alves, 2015).
Xét nghiệm nồng độ hormon FSH, LH và testosteron là những xét
nghiệm cần thiết và quan trọng giúp tìm ra được nguyên nhân và cách điều
trị cho nam giới vô sinh do nội tiết (Hotaling và Walsh, 2009).
phát hiện mất một phần đoạn AZFc. Trên cơ sở đó, nghiên cứu này sử
dụng các chỉ dấu di truyền sY84, sY86, sY127, sY134, sY254, sY255,
sY1191, sY1192 và sY1291. Ngoài ra, để có thể phát hiện được một số
dạng bất thường nhiễm sắc thể Y, nghiên cứu sử dụng thêm các chỉ dấu di
truyền AMEL, TAF9B, DAZ, CDY, SRY. Như vậy, luận án sử dụng 14
chỉ dấu di truyền.
Tất cả các trình tự mồi của các chỉ dấu di truyền được kiểm tra trên
ngân hàng cơ sở dữ liệu của NCBI (Phiên bản GRCh38.p7) để phát hiện vị
trí các đoạn sản phẩm PCR. Ở Hình 2.2 thể hiện sản phẩm PCR được
khuếch đại của 13 chỉ dấu di truyền trên nhiễm sắc thể Y, ngoại trừ
TAF9B (khuếch đại đoạn gen trên nhiễm sắc thể 3 và NST X).
Hình 2.2. Vị trí sản phẩm các đoạn ADN được khuếch đại bằng cặp mồi
của 13 chỉ dấu di truyền trên nhiễm sắc thể Y.
5
2.3.3. Bất thường nhiễm sắc thể Y ở nam giới vô sinh
Các nguyên nhân di truyền chiếm khoảng 30% gồm có rối loạn
đơn gen, bất thường di truyền tế bào và các loại bất thường đoạn AZF của
nhiễm sắc thể Y (Aston và Conrad, 2013).
2.4. Một số kỹ thuật dùng để phát hiện nguyên nhân di truyền ở nam
giới vô sinh
Hiện nay, bên cạnh kỹ thuật di truyền tế bào người ta đã dùng
nhiều kỹ thuật phân tử để phát hiện các bất thường trên nhiễm sắc thể Y
như kỹ thuật lai tại chỗ huỳnh quang (FISH), PCR đa mồi, Realtime PCR,
khuếch đại các đầu dò phụ thuộc ghép nối (MLPA) và QF-PCR.
2.5. Tình hình nghiên cứu một số nguyên nhân vô sinh ở nam giới
2.5.1. Trên thế giới
Nhiều nghiên cứu cho thấy hội chứng Klinefelter và mất đoạn AZF
- Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng cho một tỷ lệ
n Z12 / 2 .
p.(1 p)
d2
Trong đó:
n: cỡ mẫu tối thiểu cần thiết.
Z1-/2 = 1,96 với hệ số tin cậy mong muốn là 95%.
p: tỷ lệ nam giới có ≤ 5x106 tinh trùng/mL tinh dịch bị mất đoạn
AZF trên nhiễm sắc thể Y. Dựa trên nghiên cứu của Nguyễn Minh Hà
(2011) với p = 12,8%, luận án chọn p = 0,128.
d: sai số cho phép, chọn d = 0,037.
Thay vào công thức tính được n = 313.
Như vậy, cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu là 313 nam giới khám vô
sinh có ≤ 5x106 tinh trùng/mL tinh dịch.
Trong thực tế, luận án đã nghiên cứu trên 322 trường hợp.
3.4. Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện không xác xuất.
3.5. Thời gian và địa điểm
3.5.1. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 11/2014 đến tháng 3/2017.
3.5.2. Địa điểm nghiên cứu
- Thu nhận mẫu tinh dịch đồ và thực hiện xét nghiệm tinh dịch đồ
tại Khoa Hiếm muộn, Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ.
- Xét nghiệm nồng độ hormon FSH, LH, testosteron, ly trích ADN,
kỹ thuật QF-PCR và giải trình tự được thực hiện tại Khoa xét nghiệm - Di
truyền học, Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ.
- Gửi 1 mẫu máu, 3 mẫu ADN đến phòng xét nghiệm kỹ thuật cao
sY1291-R
SRY-F
SRY-R
CDY-F
CDY-R
AMEL-F
AMEL-R
TAF9B-F
TAF9B-R
DAZ-F
DAZ-R
Vị trí
nhiễm sắc thể
AZFa
Trình tự mồi (5’-3’)
F: AGAAGGGTCCTGAAAGCAGGT
R: GCCTACTACCTGGAGGCTTC
AZFa
F: GTGACACACAGACTATGCTTC
R: ACACACAGAGGGACAACCCT
AZFb
F: GCACCCACTGGAATCTACC
R: CATGGCTACACAGACAGGGA
AZFb
F: GTCTGCCTCACCATAAAACG
R: ACCACTGCCAAAACTTTCAA
AZFc
9
Màu
huỳnh quang
NED
Kích thước sản phẩm PCR
tham khảo (bp)
326
VIC
318
FAM
195
NED
301
FAM
380
FAM
123
FAM
Nguồn
tham khảo
Krausz et al.
(2014)
Krausz et al.
(2014)
Fu et al.
(2012)
Krausz et al.
(2014)
Krausz et al.
(2014)
Krausz et al.
(2014)
Krausz et al.
(2014)
Krausz et al.
(2014)
Fu et al.
(2012)
Plaseska et al.
(2011)
Xie và Liang et al.
(2014)
Plaseska et al.
(2011)
Alimardanian et al.
3.3.1. Xây dựng và kiểm định quy trình kỹ thuật QF-PCR để phát
hiện một số dạng bất thường nhiễm sắc thể Y ở nam giới khám vô
sinh có ≤ 5x106 tinh trùng /mL tinh dịch
3.3.1.1. Ly trích ADN
3.3.1.2. Xây dựng quy trình kỹ thuật QF-PCR
Luận án khảo sát các điều kiện thực hiện phản ứng QF-PCR và
điện di mao quản để xây dựng và tối ưu hóa quy trình kỹ thuật QF-PCR.
a. Khảo sát các điều kiện thực hiện phản ứng QF-PCR
Xác định nhiệt độ gắn mồi của từng chỉ dấu di truyền dựa vào
trang web của NEB calculator Tm tại />Sắp xếp nhóm các chỉ dấu di truyền dựa vào nhiệt độ gắn mồi và
tối ưu dựa vào điều kiện thực nghiệm.
Thử nghiệm phản ứng QF-PCR ở nồng độ cuối cùng của mồi là 5
pmol và 10 pmol; multiplex PCR mastermix là 1X và 2X ở thể tích phản
ứng là 25 µl và 50 µl.
Xác định điều kiện tối ưu của các nhóm chỉ dấu di truyền trong
phản ứng QF-PCR.
b. Khảo sát các điều kiện điện di mao quản sản phẩm PCR huỳnh
quang
Thực hiện pha HiDi-Formamide (HiDi) và thang chuẩn ở 2 thể tích
là 200 µl HiDi + 4 µl thang chuẩn và 120 µl HiDi + 4 µl thang chuẩn.
10
Pha loãng 40 lần, 60 lần và 100 lần sản phẩm PCR huỳnh quang
với nước cất khử ion 2 lần (Bảng 3.2).
Bảng 3.2. Thể tích pha loãng sản phẩm PCR huỳnh quang
Thể tích dung dịch cuối
cùng điện di mao quản
0,5 µl
0,5 µl
giới khám vô sinh có ≤ 5x106 tinh trùng /mL tinh dịch bằng quy trình
kỹ thuật QF-PCR đã được xây dựng và kiểm định
Áp dụng quy trình kỹ thuật QF-PCR đã kiểm định vào xác định một
số dạng bất thường nhiễm sắc thể Y.
Nam giới khám vô sinh không có bất thường nhiễm sắc thể Y (bình
thường) xuất hiện các peak như sau: AMELX/AMELY là 1:1 (103-106 bp),
DAZ/DAZL là 4:2 (210-214 bp), TAF9B3/TAF9BX là 2:1 (144-148 bp),
CDY2/CDY1 là 2:2 (198-204 bp), SRY ( 465 bp), sY84 (328 bp), sY86
(316 bp), sY127 (192 bp), sY134 (302 bp), sY254 (380 bp), sY255 (122
bp), sY1191 (385 bp) và sY1192 (255 bp). Peak của sY1291 có thể xuất
11
hiện tại một trong các vị trí sau: 507 bp hoặc 512 bp hoặc 523 bp hoặc 527
bp.
+ Mất một phần đoạn AZFb kiểu mất 2 gen CDY2 xuất peak
CDY2/CDY1 là 0:2; các peak còn lại đều xuất hiện như ở nam giới bình
thường.
+ Mất một phần đoạn AZFc kiểu gr/gr: xuất hiện peak DAZ/DAZL
là 2:2 (DAZ bị giảm ½); CDY2/CDY1 là 2:1 (mất 1 CDY1), không có peak
của sản phẩm PCR huỳnh quang sY1291 và các peak còn lại giống như
nam giới bình thường.
+ Mất một phần đoạn AZFc kiểu b2/b3: xuất hiện peak DAZ/DAZL
là 2:2 (DAZ bị giảm ½); CDY2/CDY1 là 2:1 (mất 1 CDY1), không có peak
của sản phẩm PCR huỳnh quang sY1191 và sY1192; và các peak khác
giống ở nam giới bình thường.
+ Mất một phần đoạn AZFc kiểu mất 2 gen DAZ: xuất hiện peak
DAZ/DAZL là 2:2; các peak khác giống như ở nam giới bình thường.
+ Mất một phần đoạn AZFc kiểu mất 1 gen CDY1: xuất hiện peak
CDY2/CDY1 là 2:1; các peak còn lại giống ở nam giới bình thường.
nhiễm sắc thể X và peak DAZ/DAZL là 2:2 và các peak khác giống nam
giới bình thường.
3.3.3. Mô tả đặc điểm tinh dịch đồ, nội tiết tố và một số yếu tố liên
quan đến bất thường nhiễm sắc thể Y ở nam giới khám vô sinh có ≤
5x106 tinh trùng /mL tinh dịch
- Tư vấn và hướng dẫn bệnh nhân lấy mẫu tinh dịch.
- Đánh giá các thông số tinh dịch đồ theo WHO (2010).
- Phỏng vấn bệnh nhân theo phiếu điều tra.
- Thăm khám lâm sàng: đo chiều cao, cân nặng, khám và ghi nhận
các bất thường ở bìu.
- Xét nghiệm nội tiết trục tuyến yên-tinh hoàn.
- Phân tích kết quả.
Chương 4
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
4.1. Xây dựng và kiểm định quy trình kỹ thuật QF-PCR để phát hiện
một số dạng bất thường phân tử nhiễm sắc thể Y ở nam giới khám vô
sinh có ≤ 5x106 tinh trùng/mL tinh dịch
4.1.1. Xây dựng quy trình kỹ thuật QF-PCR
4.1.1.1. Khảo sát các điều kiện thực hiện phản ứng QF-PCR
Qua thực nghiệm, luận án đã tối ưu nhiệt độ gắn mồi trong phản
ứng QF-PCR và chia làm 3 set. Set 1 gồm có 4 chỉ dấu di truyền (sY254,
sY255, sY1191, sY1192), set 2 gồm có 5 chỉ dấu di truyền (AMEL, CDY,
DAZ, TAF9B, SRY) với nhiệt độ gắn mồi là 560C. Set 3 gồm có 5 chỉ dấu
di truyền (sY84, sY86, sY127, sY1291, sY134) với nhiệt độ gắn mồi là
580C. Bên cạnh nhiệt độ gắn mồi, nồng độ cuối cùng và thể tích phản ứng
QF-PCR cũng đã được tối ưu tương ứng là 5 pmol và 25 µl. Ngoài ra,
multiplex PCR 5X mastermix cũng đã được tối ưu trong phản ứng QFPCR với nồng độ cuối cùng là 1X.
Chu trình nhiệt phản ứng QF-PCR set 1 và set 2 như sau:
940C - 2 phút, {[940C - 30 giây, 560C - 1 phút, 680C - 1 phút 30
tại 103 bp (nhiễm sắc thể X) và 109 bp (nhiễm sắc thể Y) theo tỷ lệ 1:1;
sY255 tại 122 bp; TAF9B3/TAF9BX tại 144 bp (nhiễm sắc thể 3) và 148
bp (nhiễm sắc thể X) theo tỷ lệ 2:1; sY127 tại 192 bp; DAZ/DAZL tại 210
bp (nhiễm sắc thể Y) và 214 bp (nhiễm sắc thể 3) theo tỷ lệ 4:2; sY254 tại
380 bp và SRY tại 465 bp (Hình 4.1) .
Nhóm chỉ dấu di truyền sử dụng màu VIC gồm có CDY, sY86,
sY1191 và sY1291 xuất hiện peak màu xanh lá cây (Hình 4.2).
14
Hình 4.2. Kết quả QF-PCR nhóm chỉ dấu di truyền màu VIC với peak của
sY1291 có kích thước 507 bp.
Nam giới không có bất thường nhiễm sắc thể Y kết quả QF-PCR
xuất hiện peak của CDY tại vị trí 198 bp (AZFb) và 204 bp (AZFc) theo tỷ
lệ 2:2; sY86 tại vị trí 316 bp; sY1191 tại vị trí 385 bp (Hình 4.2).
Riêng peak của sY1291 có thể xuất hiện 1 trong 4 vị trí sau: 507
bp, 512 bp, 523 bp và 527 bp (Hình 4.3). Điều này cho thấy có sự đa hình
về chiều dài sản phẩm PCR huỳnh quang của đoạn gen này. Sự đa hình về
chiều dài của đoạn gen này phù hợp với nghiên cứu của Lin et al. (2006)
và Evguenia et al. (2016). Để khẳng định sự đa hình về chiều dài, luận án
sử dụng kỹ thuật giải trình tự và được trình bày chi tiết ở mục 4.1.2.
Hình 4.3. Sự đa hình về chiều dài sản phẩm PCR huỳnh quang khuếch đại
bằng cặp mồi của chỉ dấu di truyền sY1291.
Kết quả QF-PCR của nhóm chỉ dấu di truyền sử dụng màu NED
(sY1192, sY134 và sY84), sản phẩm PCR huỳnh quang được thể hiện
bằng các peak màu đen (Hình 4.4).
15
248 bp. Sở dĩ có sự khác nhau là do nghiên cứu sử dụng trình tự đoạn mồi
khác. Kết quả phù hợp với nghiên cứu của Plaseska et al. (2011) và
16
Papoulidis et al. (2012) là 103 bp và 109 bp. Một nghiên cứu khác của
Fodor et al. (2007) và Majumder et al. (2015) cũng ghi nhận kích thước
sản phẩm PCR huỳnh quang của đoạn gen này là 104 bp và 110 bp.
Như vậy, kích thước sản phẩm PCR huỳnh quang có thể ngắn hơn
từ 2-3 bp so với kích thước sản phẩm PCR tham khảo do điều kiện phản
ứng QF-PCR không giống nhau. Điều này hoàn toàn phù hợp với khuyến
cáo của hãng về bộ kit Devyser dùng phát hiện mất đoạn AZF.
Như vậy, vị trí peak của các sản phẩm PCR huỳnh quang có thể
bằng, ngắn hoặc dài hơn kích thước nucleotid tham khảo là phù hợp với
nhiều nghiên cứu trên thế giới. Kết quả luận án ghi nhận đa số sản phẩm
PCR huỳnh quang ngắn hoặc dài hơn 2-5 bp so với sản phẩm PCR tham
khảo; ngoại trừ đoạn gen thể hiện sự đa hình về chiều dài (ngắn hơn 4-20
bp) được khuếch đại bằng chỉ dấu di truyền sY1291.
4.1.2.2. So sánh với mẫu chứng dương
Nghiên cứu thực hiện xét nghiệm một số mẫu chứng dương (ADN
nam giới bị mất đoạn AZFc và hội chứng Klinefelter) bằng kỹ thuật QFPCR. Kết quả ghi nhận hoàn toàn giống với mẫu chứng dương.
4.1.2.3. Gửi mẫu đi kiểm chứng
Kết quả kiểm định 1 mẫu máu bằng phương pháp nuôi cấy bạch
cầu lympho máu ngoại vi cũng cho thấy nam giới tăng 1 nhiễm sắc thể X,
karyotype là 47,XXY, giống với kết quả QF-PCR. Ngoài ra, luận án chọn
ngẫu nhiên 3 mẫu ADN (1 mẫu ADN không có bất thường nhiễm sắc thể
Y, 1 mẫu ADN bị mất đoạn hoàn toàn AZFbc và 1 mẫu ADN bị mất đoạn
hoàn toàn AZFc) gửi đi kiểm định tại Phòng xét nghiệm kỹ thuật cao
ISOLABO bằng kit của Devyser cũng cho kết quả tương tự.
4.1.2.4. Giải trình tự để xác định sự đa hình về chiều dài của sản
truyền để phát hiện một số dạng bất thường nhiễm sắc thể Y có độ chính
xác cao và đáng tin cậy.
4.2. Xác định tỷ lệ một số dạng bất thường nhiễm sắc thể Y ở nam giới
khám vô sinh có ≤ 5x106 tinh trùng/mL tinh dịch bằng quy trình kỹ
thuật QF-PCR đã được xây dựng và kiểm định
Kết quả nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ bất thường nhiễm sắc thể Y ở
đối tượng nghiên cứu là 35,1% (Hình 4.6), cao hơn một số nghiên cứu
trong và ngoài nước (4-24%).
Hình 4.6. Tỷ lệ bất thường nhiễm sắc thể Y ở đối tượng nghiên cứu.
19
Có 3 dạng bất thường nhiễm sắc thể Y, trong đó mất đoạn AZF
chiếm tỷ lệ cao nhất (83,18%), thấp hơn là nhân đoạn gen DAZ (13,27%)
và hội chứng Klinefelter có bất thường cấu trúc nhiễm sắc thể Y chiếm
3,55%. Không giống nghiên cứu của chúng tôi, đa số các nghiên cứu chỉ
ghi nhận bất thường về karyotype và mất đoạn AZF. Sự khác biệt là do
phương pháp nghiên cứu và số lượng chỉ dấu di truyền khác nhau.
Có 4 dạng mất đoạn AZF; trong đó mất một phần đoạn AZFc
chiếm tỷ lệ cao nhất (80,85%), thấp hơn là mất hoàn toàn đoạn AZFc
chiếm 9,57%; mất hoàn toàn đoạn AZFbc chiếm 6,38%; và thấp nhất là
mất một phần đoạn AZFb chiếm 3,2%. Kết quả nghiên cứu tương tự với
nhiều nghiên cứu khác trên thế giới (45-98%) (Choi et al., 2013; Zhang et
al., 2013b; Fadlalla et al., 2014; Gallego et al., 2014; Bichile et al., 2016;
Zhu et al., 2016; Asadi et al., 2017).
So sánh với các nghiên cứu trong nước cũng cho thấy tỷ lệ mất
đoạn AZFc chiếm cao nhất (Nguyễn Minh Hà, 2011; Nguyễn Thị Việt Hà,
2012; Nguyễn Đức Nhự, 2015). Kết quả nghiên cứu công bố năm 20112012 trên 70 nam giới khám vô sinh tại Bệnh viện Từ Dũ cho thấy mất
đoạn AZFc chiếm tỷ lệ cao nhất 11,4% và mất đoạn AZFb là 1,43%
DAZ/DAZL xuất hiện peak theo tỷ lệ 4:2. Tuy nhiên, kết quả luận án ghi
nhận 15/113 (13,27%) trường hợp nam giới có peak DAZ/DAZL xuất hiện
với tỷ lệ là 6:2 (Hình 4.7) hoặc 8:2 (Hình 4.8).
Hình 4.7. Kết quả QF-PCR mẫu A236 với tỷ lệ peak DAZ/DAZL là 6:2 tại
vị trí 210 bp và 214 bp.
Hình 4.8. Kết quả QF-PCR mẫu A174 với tỷ lệ peak DAZ/DAZL là 8:2 tại
vị trí 210 bp và 214 bp.
Nhân đoạn gen DAZ cũng đã được Lu et al. (2013); Saito et al.
(2015); Vaszko et al. (2016) và Alimardanian et al. (2016) ghi nhận.
Ngoài ra, nghiên cứu ghi nhận dạng bất thường số lượng nhiễm sắc
thể X kết hợp với bất thường nhiễm sắc thể Y. Cụ thể ở nam giới bình
thường tỷ lệ AMELX/AMELY là 1:1 và TAF9B3/TAF9BX là 2:1, còn ở
21
nam giới có bất thường số lượng nhiễm sắc thể giới tính X tỷ lệ này là 2:1
và 2:2 (Hình 4.9A và 4.9B).
Hình 4.9A. Nam giới bình thường có tỷ lệ peak AMELX/AMELY và
TAF9B3/TAF9BX tương ứng là 1:1 và 2:1 của mẫu A95.
Hình 4.9B. Nam giới tăng 1 nhiễm sắc thể X với tỷ lệ peak
AMELX/AMELY và TAF9B3/TAF9BX là 2:1 và 2:2 của mẫu A97.
Bốn trường hợp tăng 1 nhiễm sắc thể X này có bất thường nhiễm
sắc thể Y: mất một phần đoạn AZFc kiểu gr/gr (1 trường hợp), nhân đoạn
gen DAZ (2 trường hợp) và mất 2 gen DAZ (1 trường hợp). Kết quả nghiên
cứu phù hợp với nghiên cứu của Mitra et al. (2006), Hadjkacem-Loukil et
al. (2009), Ceylan et al. (2010) và Li et al. (2015).
Nhóm sử dụng điện thoại di động 6-10 năm chiếm tỷ lệ cao nhất (44,7%),
phù hợp với nghiên cứu của Radwan et al. (2016).
4.3.1.6. Đặc điểm về tiền sử quai bị
Có 42/322 (13,0%) trường hợp với tiền sử quai bị, phù hợp với
nghiên cứu của Radwan et al. (2016).
4.3.1.7. Đặc điểm về BMI và liên quan với bất thường nhiễm sắc thể Y
BMI bình thường chiếm tỷ lệ cao nhất (52,8%) và thấp nhất là
nhóm gầy (3,1%), phù hợp với nghiên cứu của Wang et al. (2017). Ngoài
ra, nghiên cứu chưa ghi nhận mối liên quan giữa BMI với bất thường
nhiễm sắc thể Y.
4.3.1.8. Đặc điểm về thể tích tinh hoàn
Thể tích tinh hoàn trung bình là 9,972,72 mL, thấp hơn nghiên
cứu của Nguyễn Đức Nhự (2015). Thể tích tinh hoàn 6-10 mL chiếm tỷ lệ
cao nhất (67,4%), khác biệt với Nguyễn Đức Nhự (2015). Điều này có lẽ
do cỡ mẫu và địa điểm nghiên cứu khác nhau.
4.3.1.9. Đặc điểm về bìu và liên quan giữa giãn tĩnh mạch
thừng tinh với bất thường nhiễm sắc thể Y
Tỷ lệ nam giới có bất thường bìu là 10,8%, phù hợp với nghiên
cứu của Nguyễn Đức Nhự (2015). Kích thước tinh hoàn 2 bên không đều
và giãn tĩnh mạch thừng tinh chiếm tỷ lệ cao nhất (37,1%), phù hợp với
nghiên cứu của Phạm Chí Kông và ctv (2011), Olesen et al. (2016) và
Suganya et al. (2016). Kết quả chưa tìm thấy mối liên quan giữa giãn tĩnh
mạch thừng tinh với bất thường nhiễm sắc thể Y.
23