B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y H NI
NGUYN TH HN
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng
ở phụ nữ nhiễm Chlamydia trachomatis
đến khám vô sinh tại Bệnh viện Phụ sản
Trung Ương năm 2012
CNG LUN VN THC S Y HC
H NI 2012
B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y H NI
1
NGUYN TH HN
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng
ở phụ nữ nhiễm Chlamydia trachomatis
đến khám vô sinh tại Bệnh viện Phụ sản
Trung Ương năm 2012
Chuyờn ngnh: Sn ph khoa
Mó s :
CNG LUN VN THC S Y HC
Ngi hng dn khoa hc:
TS. Cung Th Thu Thy
H NI 2012
CH VIT TT
: m o
H : m h
BLTQTD : Bnh lõy truyn qua ng tỡnh dc
BVPST : Bnh vin ph sn Trung ng
CTC : C t cung
1.3.6. Tiền sử viêm nhiễm trùng đường sinh dục 18
1.4. Các nghiên cứu trong nước và quốc tế về nhiễm Chlamydia trachomatis 18
1.4.1. Các nghiên cứu trong nước 18
1.4.2. Các nghiên cứu trên thế giới 19
1.5. Các xét nghiệm chẩn đoán nhiễm Chlamydia trachomatis 21
1.5.1. Phương pháp nhuộm soi trực tiếp 21
1.5.2. Nuôi cấy vi khuẩn 21
1.5.3. Phương pháp miễn dịch 22
1.5.4. Phương pháp lai acid nucleic (ADN Probe) 23
1.5.5. Phương pháp khuếch đại gen 23
1.5.5. Phát hiện kháng thể [38],[52] 24
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1. Đối tượng nghiên cứu 25
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng 25
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ 25
2.2. Phương pháp nghiên cứu 25
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu 25
2.2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu 26
2.2.3. Cách chọn mẫu 26
2.2.4. Các bước tiến hành 26
2.2.5. Các phương pháp xét nghiệm cụ thể tìm C.trachomatis 29
2.3. Phân tích và xử lý số liệu 33
2.4. Thời gian 34
4
2.5. Khía cạnh đạo đức 34
DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
3.1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 35
3.1.1. Tỷ lệ nhiễm C.trachomatis 35
3.1.2. Phân bố theo nhóm tuổi 35
3.1.3. Phân bố theo nghề nghiệp 36
trên thế giới có tới 370 triệu trường hợp mắc bệnh lây truyền qua đường tình
dục. Trong đó, nhiễm Chlamydia chiếm tỷ lệ cao nhất: khoảng 89 triệu ca
nhiễm C.trachomatis, 62 triệu ca lậu, 12 triệu ca giang mai. Mặc dù tỷ lệ
nhiễm C.trachomatis chỉ chiếm khoảng 5% dân số nhưng viêm nhiễm sinh
dục do C.trachomatis để lại nhiều biến chứng nguy hiểm lâu dài đặc biệt là
trong lĩnh vực sản sinh sản [37],[65].
Triệu chứng lâm sàng của nhiễm C.trachomatis rất nghèo nàn, thường ở
dạng tiềm ẩn khó phát hiện, khoảng 50-70% nhiễm C. trachomatis không có
triệu chứng, ngay cả khi có biến chứng viêm vùng chậu cũng chỉ khoảng 25%
có triệu chứng. Do vậy bệnh thường không được chẩn đoán và điều trị sớm
làm gia tăng lây lan bệnh và gây ra những biến chứng nghiêm trọng như viêm
tiểu khung, chửa ngoài dạ con, viêm vòi tử cung, ảnh hưởng đối với phụ nữ
mang thai đặc biệt hậu quả nặng nề nhất là vô sinh do viêm tắc vòi trứng
[2],[11],[27],[32].
Số người nhiễm C.trachomatis trên thế giới ngày càng tăng. Năm 1990
có 5 triệu người nhiễm C.trachomatis, năm 1999 có 92 triệu người nhiễm, đến
năm 2001 đã có 300 triệu người nhiễm [46],[55]. Theo một điều tra của Mỹ ở
nữ, tuổi từ 15-25 đến khám phụ khoa có tới một phần ba nhiễm C.trachomatis
và mỗi năm có khoảng 3-4 triệu người nhiễm mới. Khoảng 40% phụ nữ
nhiễm C.trachomatis mà không được điều trị sẽ bị bệnh viêm nhiễm vùng
chậu (Pelvic Inflammatory Disease = PID) và 20% trong số phụ nữ PID sẽ vô
sinh [59],[63]. Ở Việt Nam, Viện Da liễu Quốc gia đã có thống kê về tình hình
6
nhiễm C.trachomatis trên toàn quốc từ năm 1996 nhưng các số liệu thống kê
không thường xuyên từ các tỉnh và trong các năm. Theo thống kê giai đoạn
1996 đến 2000 có 14.800 ca nhiễm C.trachomatis. Năm 2007 có 2.414 ca ở
nam giới và 3.473 ca nhiễm ở nữ giới [14],[15].Nghiên cứu năm 1999-2000 ở
415 phụ nữ tại huyện Hóc Môn Thành phố Hồ Chí Minh bằng phương pháp
miễn dịch huỳnh quang kết quả cho thấy tỷ lệ viêm CTC do C.trachomatis là
18,07% [5]. Nghiên cứu khác ở bệnh nhân vô sinh có tắc vòi trứng các
nhân vô sinh do tắc vòi trứng [46].
C.trachomatis thuộc họ Chlamydiaceae: có nhiều hình thái gây bệnh ở
người. Có 15 typ C.trachomatis, được chia làm 3 nhóm chính [11],[18],[31]:
+ Nhóm gây bệnh hạch sinh dục lymphogranuloma venereum (LGV).
Khi Chlamydia trachomatis ở typ này xuất hiện thì có nhiều tế bào cảm thụ
trên cơ thể người so với các typ khác [57].
+ Nhóm gây bệnh mắt hột, gây sẹo giác mạc có thể dẫn đến mù lòa.
+ Nhóm gây bệnh qua đường tình dục như: Viêm niệu đạo, viêm CTC,
viêm ống dẫn trứng, viêm tuyến Bartholin, viêm ÂĐ, viêm mào tinh hoàn,
viêm hạch sinh dục ở nam, Đặc biệt là typ D và K gây viêm CTC, gây viêm
ống dẫn trứng, làm hẹp, tắc ống dẫn trứng dẫn đến vô sinh.
8
1.1.2. Đặc tính sinh vật [3],[11],[18],[31]:
C.trachomatis thuộc nhóm vi khuẩn gram (-), có kích thước nhỏ khoảng
2-10μm, có đặc điểm của vi khuẩn vì có màng tế bào, có nguyên sinh chất, cấu
tạo ADN và ARN, có men tổng hợp protein và nhạy cảm với kháng sinh.
Nhưng cũng có một số đặc điểm giống vi rút vì chúng không phát triển trên
môi trường nuôi cấy vi khuẩn mà phải ký sinh bắt buộc trong tế bào.
C.trachomatis chết ở nhiệt độ 60
0
C trong 10 phút, nhưng có thể giữ vi khuẩn
sống hàng năm ở nhiệt độ (-50
0
C) đến (-70
0
C), bị phenol và ether làm bất hoạt.
Mặc dù có hoạt động biến hình nhưng C.trachomatis không có hệ thống
enzym để tự tổng hợp ATP nên bắt buộc chúng cần một cơ thể tế bào sống để
chúng nhân lên và tồn tại.
C.trachomatis có các loại kháng nguyên:
C.trachomatis là vi khuẩn thường gặp nhất và gây nên bệnh lây truyền qua
10
đường tình dục phổ biến nhất tại Mỹ, Anh, Thụy Điển, Đông Nam Nigeria và
các nước đang phát triển. Thống kê cho thấy tỷ lệ mắc C.trachomatis ở Mỹ
tăng từ 289,4/100.000 dân năm 2002 lên 347,8/100.000 dân năm 2006 [29],
[33],[35],[54].
C.trachomatis có thể gây viêm kết mạc mắt, viêm khớp, viêm phổi, gây
bệnh ở hệ sinh dục tiết niệu như viêm niệu đạo, viêm CTC, viêm tắc vòi
trứng, viêm dính quanh gan
So với nam giới thì phụ nữ là đối tượng dễ bị nhiễm bệnh và bị ảnh
hưởng nhiều hơn bởi C.trachomatis. Hầu hết các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ
nhiễm C.trachomatis ở nữ cao hơn ở nam. Năm 2006, tỷ lệ nhiễm
C.trachomatis ở nữ giới tại Mỹ là 515,8/100.000 dân còn nam giới là
173/100.000 dân [34].
Các yếu tố nguy cơ làm tăng nhiễm C.trachomatis bao gồm: Tuổi trẻ,
kinh tế xã hội thấp, nhiều bạn tình, tình trạng không kết hôn, tiền sử nạo hút
thai, mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục Sử dụng bao cao su có thể
đề phòng sự lây truyền của bệnh, làm giảm tỷ lệ mắc bệnh [22],[39].
Nếu không được điều trị hoặc điều trị không đầy đủ, 20- 40% nhiễm
C.trachomatis dẫn đến viêm vùng chậu và gây hậu quả như vô sinh, thai
ngoài tử cung, đau vùng chậu mãn tính. Nhiễm C.trachomatis làm tăng nguy
cơ ung thư CTC, tăng nguy cơ nhiễm HIV lên gấp 2-3 lần [40],[41],[46].
1.2. Chlamydia trachomatis và vấn đề vô sinh ở nữ giới
1.2.1. Các khái niệm về vô sinh:
Theo định nghĩa cổ điển, một cặp vợ chồng gọi là vô sinh khi người vợ
không thụ thai sau 2 năm chung sống thực sự mà không áp dụng bất cứ biện
pháp tránh thai nào
Hiện nay, theo tổ chức y tế thế giới (WHO) quy định: Vô sinh là tình
trạng không có thai sau 1 năm chung sống vợ chồng, sinh hoạt tình dục đều
đặn và không áp dụng bất kỳ biện pháp tránh thai nào. Riêng đối với những
loét đỏ, không bắt màu lugol khi làm chứng nghiệm Schiller [2].
Viêm CTC ở bệnh nhân có nhiễm C.trachomatis chiểm tỷ lệ rất cao. Theo
nghiên cứu của Johanisson (1980) ở những phụ nữ đang điều trị BLTQĐTD có
tới trên 35% nhiễm C.trachomatis và viêm CTC chiếm 81% [44].
Nghiên cứu của Nguyễn Năng Hải (2004) tại bệnh viện Phụ sản trung ương
thấy tỷ lệ viêm CTC ở phụ nữ có thai có nhiễm C.trachomatis là 85,1% [9]
− Viêm niệu đạo
Hội chứng đái khó, đái mủ niệu đạo cấp tính. Bệnh nhân viêm niệu đạo
do C.trachomatis than phiền tiểu khó, tiểu buốt. Xét nghiệm có tăng số lượng
bạch cầu trong nước tiểu [13].
− Viêm tuyến Bartholin
C.trachomatis gây viêm xuất tiết ống tuyến Bartholin, tuyến Barholin sưng,
đau, có mủ. Có thể viêm đơn thuần hoặc phối hợp với lậu.
− Viêm nội mạc tử cung
Có tới gần một nửa bệnh nhân viêm CTC và hầu hết bệnh nhân có viêm vòi
trứng có kèm theo viêm nội mạc tử cung. Nhiễm C.trachomatis khi mang thai
nếu không điều trị dễ dẫn đến sốt sau đẻ và viêm nội mạc tử cung sau đẻ [27].
Nếu không được điều trị, nhiễm trùng Chlamydia có thể tiến triển thành
các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng đối với sinh sản với cả hai hậu quả ngắn
hạn và dài hạn.
13
Hình 2: Ảnh hưởng của Chlamydia trachomatis lên đường sinh dục nữ []
* Các bệnh lý do C.trachomatis gây ra ở phụ nữ mang thai.
Nhiễm C.trachomatis không được điều trị trong lúc mang thai có thể dẫn
đến những biến chứng như là: gây sẩy thai tự nhiên, thai chậm phát triển
trong tử cung, ối vỡ sớm, ối vỡ non, đẻ non [37]
1.2.3. Chlamydia và vấn đề vô sinh ở nữ
Nhiễm C.trachomatis nếu không được điều trị có thể dẫn đến viêm vùng
chậu, viêm tắc vòi trứng dẫn đến vô sinh ở nữ giới [40]
sinh. Theo Nalbanski- B nghiên cứu ở 162 phụ nữ vô sinh thấy tỷ lệ bệnh
nhân có kháng thể IgG kháng C.trachomatis là 62,3%. Kiểm tra 29 phụ nữ có
tắc vòi trứng một hoặc 2 bên đều có sự hiện diện của kháng thể IgG kháng
C.trachomatis. Ở nghiên cứu này đã đưa đến kết luận những phụ nữ có tiền sử
nhiễm C.trachomatis có nguy cơ tắc vòi trứng cao gấp 4 lần những phụ nữ
không có bằng chứng nhiễm C.trachomatis.
Theo nghiên cứu của Semberova tại khoa phụ sản bệnh viện Charles,
Plzen ở Tiệp Khắc so sánh giữa nhóm phụ nữ vô sinh và nhóm chứng tác giả
đã đi đến kết luận mức độ cao của kháng thể kháng C.trachomatis và vô sinh
15
gây dính, tắc vòi trứng [61].
1.3. Một số yếu tố nguy cơ nhiễm Chlamydia trachomatis.
1.3.1. Tuổi
Tuổi được xem là yếu tố nguy cơ chính quan trọng nhất, nhiễm C.
trachomatis thường xảy ra ở những phụ nữ dưới 25 tuổi, chiếm 75% các trường
hợp nhiễm trong cộng đồng Mỹ
[56]
. Tuổi vị thành niên có quan hệ tình dục tỷ
lệ nhiễm 5-10%, khoảng 50% phụ nữ tuổi 30 có kháng thể C. trachomatis trong
huyết thanh, cho thấy tình trạng phơi nhiễm bệnh trước đó. Ghi nhận qua thống
kê ở Anh 87,9% phụ nữ nhiễm C. trachomatis ở độ tuổi dưới 25 và ở Thụy Điển
độ tuổi nhiễm bệnh chủ yếu dưới 19 tuổi
[42]
.
Tuổi dưới 25 chiếm 563 trường hợp mắc bệnh trên 100.000 dân ở Canada ,
còn ở Mỹ là 1.132 trường hợp [48],[60].
Nghiên cứu của Phạm Văn Đức và cộng sự thấy rằng nhiễm C. trachomatis
ở nhóm tuổi 18-25 tăng nguy cơ nhiễm lên 2-3 lần so với nhóm tuổi lớn hơn [6].
Theo nghiên cứu tại viện Da liễu quốc gia của Trần Hậu Khang và cộng
sự tỷ lệ nhiễm C.trachomatis ở phụ nữ dưới 25 tuổi là 28,3% trên 25 tuổi là
Theo Nguyễn Năng Hải (2004) nghiên cứu có thấy mối liên quan giữa tiền
sử sản khoa và nhiễm C.trachomatis, tỷ lệ cao ở nhóm đã đẻ và có nạo hút thai,
nhiễm C.trachomatis tăng lên theo số lần đẻ và số lần nạo hút thai [9].
Thái Ngọc Huỳnh Vân (2005) cũng cho thấy có mối liên quan giữa tiền
sử nạo buồng tử cung và tình trạng nhiễm C.trachomatis [24].
Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhiễm C.trachomatis với tiền
sử có can thiệp vào buồng tử cung theo nghiên cứu của Nguyễn Công Trúc
17
(2007) [23].
1.3.6. Tiền sử viêm nhiễm trùng đường sinh dục
Theo Nguyễn Thị Thanh Hải (2006) thấy rằng nhiễm C.trachomatis ở
nhóm phụ nữ có tiền sử viêm nhiễm đường sinh dục cao hơn nhóm không có
tiền sử, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê [10].
Bất kỳ người nào hoạt động tình dục có thể bị nhiễm Chlamydia. Số
lượng bạn tình càng nhiều, nguy cơ nhiễm trùng càng lớn. Bởi vì cổ tửu cung
(mở vào tử cung) của các cô gái vị thành niên và phụ nữ trẻ không hoàn toàn
trưởng thành có thể dễ bị nhiễm trùng, họ có nguy cơ đặc biệt cao đối với
nhiễm trùng nếu có quan hệ tình dục.
1.4. Các nghiên cứu trong nước và quốc tế về nhiễm Chlamydia trachomatis
1.4.1. Các nghiên cứu trong nước
Nhiễm C.trachomatis gần đây đã trở thành vấn đề thời sự và được nhiều
tác giả trên thế giới quan tâm và nghiên cứu. Tuy nhiên ở Việt Nam còn có ít
các nghiên cứu về C.trachomatis một cách hệ thống.
Viện Da liễu Quốc gia đã có thống kê về tình hình nhiễm C.trachomatis
trên toàn quốc từ năm 1996, nhưng số liệu thống kê không đồng đều và
thường xuyên từ các tỉnh và trong các năm. Theo thống kê trong giai đoạn
1996 đến năm 2000 có 14.800 ca nhiễm C.trachomatis, năm 2007 là 2.414
nam giới và 3.473 nữ giới nhiễm C.trachomatis. Con số này chỉ phản ánh một
phần nhỏ tình hình bệnh nhân nhiễm C.trachomatis ở Việt Nam vì tại Việt
Nam vẫn còn tồn tại song song hai hệ thống báo cáo số liệu theo hội chứng và
Tại Mỹ, mỗi năm có khoảng 4-5 triệu người nhiễm mới C.trachomatis.
19
Năm 2004 là 929.462, năm 2005 là 976.445 ca, năm 2007, 1.108.374.
Chlamydia là bệnh thường xuyên nhất được báo cáo bệnh lây truyền qua
đường tình dục vi khuẩn tại Hoa Kỳ. Trong năm 2009, 1.244.180 nhiễm trùng
Chlammydia được báo cáo với CDC từ 50 bang và quận Columbia. Ước tính
có 2,8 triệu ca nhiễm C.trachomatis xảy ra hằng năm ở phụ nữ Mỹ thường
xuyên bị tái nhiễm nếu các đối tác tình dục của họ không được điều trị [33],
[35],[63],
Theo Boseley S nghiên cứu ở Anh cho thấy năm 1996 có 32000 trường
hợp nhiễm mới và tăng 11% so với năm trước và tăng gấp 2 lần trong vòng 5
năm [29].
Levidiotou S và cộng sự nghiên cứu ở Greece năm 2005 bằng test
khuếch đại acid nucleic thấy tỷ lệ nhiễm C.trachomatis thấp 3,9% [51].
Riêng Trung Quốc hiện nay đang phải đối mặt với các bệnh lây truyền
qua đường tình dục, đặc biệt là nhiễm C.trachomatis [66].
Một nghiên cứu tại Nhật Bản cho thấy tỷ lệ nhiễm C.trachomatis ở gái
mại dâm là 13%, còn ở đối tượng có nguy cơ thấp là 3%. Trong đối tượng mại
dâm ở San Francisco, bao gồm cả nam, nữ và nữ chuyển giới, tỷ lệ nhiễm
C.trachomatis là 6,8% [36],[44].
Tại Philipin, bằng phương pháp PCR, người ta xác định tỷ lệ nhiễm
C.trachomatis ở phụ nữ đến khám thai là 6,3%, còn ở đối tượng mại dâm tỷ lệ
này dao động từ 17,9% đến 32% tùy từng thời điểm nghiên cứu [59]
Ở vùng Đông Nam của Nigeria, tỷ lệ nhiễm C.trachomatis ở bệnh nhân
đến phòng khám các BLTQĐTD là 25% ở nam và 36,1% ở nữ giới [54]
Như vậy có thể thấy rằng tình hình nhiễm C.trachomatis đặc biệt cao ở
các nước đang phát triển và đặc biệt ở các đối tượng nguy cơ cao như gái mại
dâm. Đây là nguồn lây lớn cho cộng đồng.
C.trachomatis là mối quan tâm sức khỏe cộng đồng đối với nhiều nước
20
thời gian, đòi hỏi vận chuyển bệnh phẩm lạnh để đảm bảo vi khuẩn còn sống
cho tới khi tiến hành nuôi cấy. Độ đặc hiệu cao nhưng độ nhạy thấp khoảng
80%. Do đó phương pháp này chủ yếu được dùng trong nghiên cứu khoa học,
ít được áp dụng trong thực tế lâm sàng, nhưng đây vẫn là tiêu chuẩn vàng
chẩn đoán C.trachomatis [3],[31].
1.5.3. Phương pháp miễn dịch
− Phương pháp miễn dịch huỳnh quang trực tiếp (Direct Fluorescent
Antibody- DFA):
Các kháng thể đơn dòng kháng kháng nguyên đặc hiệu loài được gắn huỳnh
quang. Phức hợp này sẽ gắn đặc hiệu với C.trachomatis có trong bệnh phẩm. Kết
quả được nhận định dưới kính hiển vi huỳnh quang, nếu có trên 10 hạt phát quang
màu xanh lục trên 1 tiêu bản là dương tính. Cho kết quả sau 2 giờ.
Độ nhạy cảm 85-90%, độ đặc hiệu khoảng 95% [31].
- Phương pháp miễn dịch men (ELISA: Enzyme Linked Immuno
Sorbent Assay): Tự động để phát hiện mầm bệnh. Phát hiện kháng nguyên vỏ
bằng kháng thể đơn dòng hoặc đa dòng được gắn emzym. Enzym làm thay
đổi màu sắc từ đó có thể xác định sự có mặt của C.trachomatis. Thích hợp cho
sàng lọc nhưng tỷ lệ dương tính giả cao và ít đặc hiệu. Độ nhạy 85%, độ đặc
hiệu 80% [26].
− Test chẩn đoán nhanh miễn dịch sắc ký: Có nhiều loại như test
Hexagon (Đức), AmeriTek (Mỹ) Dùng kháng thể phát hiện kháng nguyên
C.trachomatis. Nguyên lý kết hợp kháng nguyên- kháng thể và tạo màu khi
xảy ra phản ứng. Không đòi hỏi trang thiết bị, có thể làm ở bất cứ một cơ sở y
22
tế nào. [43]. Nghiên cứu của Phạm Văn Đức và cộng sự đánh giá hiệu quả
cua test nhanh kết quả thấy rằng so với PCR, test nhanh có độ nhạy 62,5%, độ đặc
hiệu 99,5%, giá trị dự báo dương 90,9%, giá trị dự báo âm 96,9%, khả năng mắc
bệnh trước test nhanh (tần suất bệnh) là 7,9%, khả năng mắc bệnh sau test nhanh
(+): 90,91%, khả năng mắc bệnh sau test nhanh (-): 3,125% [6].
So sánh tính giá trị của một số xét nghiệm EIA so với PCR:
PCR là sự tổng hợp ADN ngoài cơ thể, kỹ thuật này giúp nhân lên một
23
số lượng lớn đoạn ADN đích mà ta muốn nhân lên từ đoạn gen ban đầu có
trong bệnh phẩm. Với số ADN thu được sẽ dễ dàng phát hiện bằng các kỹ
thuật thông thường, giúp chẩn đoán một cách chính xác sự có mặt của
C.trachomatis có trong bệnh phẩm.
Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về những ưu điểm của kỹ thuật
này với độ nhạy và độ đặc hiệu (95- 98%) trong chẩn đoán rất cao, thậm chí
nó còn được xem là một tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán. Các tác giả đều
thấy PCR có độ nhạy và độ đặc hiệu cao hơn hẳn EIA. Tuy nhiên phương
pháp này mới chỉ có ở một số labo lớn vì quy trình khá phức tạp, đòi hỏi trang
thiết bị, hóa chất đắt tiền [49].
1.5.5. Phát hiện kháng thể [38],[52].
− Xác định kháng thể IgG kháng kháng nguyên giống Chlamydia có bản
chất là glyco-lipid trong huyết thanh người.
Các kháng nguyên vỏ được gắn vào các giếng. Khi các kháng thể kháng
kháng nguyên này hiện diện trong huyết thanh bệnh nhân chúng sẽ kết hợp
đặc hiệu với kháng nguyên, sau đó cho kháng kháng thể IgG lấy trong huyết
thanh dê có gắn men peroxydase kết hợp với chất tạo màu, nếu cho màu vàng
là kết quả dương tính.
− Phản ứng vi lượng huỳnh quang xác định kháng thể chẩn đoán loài
C.trachomatis , đây là một phản ứng đặc hiệu.
Xét nghiệm định lượng kháng thể ít được sử dụng vì kháng thể IgG còn
tồn tại nhiều năm sau khi đã điều trị khỏi bệnh và không đặc hiệu riêng cho
nhiễm trùng ở hệ sinh dục tiết niệu.
24
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại Khoa