ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ và độ ẩm cao là
điều kiện thuận lợi cho vi nấm phát triển và dễ dàng gây nhiễm nấm ở người.
Bên cạnh đó, xu hướng ngày càng gia tăng các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh
sản (Reproductive tract infection– RTI) và bệnh lây truyền qua đường tình dục
(Secxually transmitted infection - STI), đặc biệt trước sự bùng nổ đại dịch
HIV/AIDS. Vì vậy, tỷ lệ các bệnh do nhiễm nấm cơ hội ngày càng gia tăng [3].
Trong đó, viêm âm đạo do nấm hiện đang là một vấn đề quan trọng của chăm
sóc sức khỏe sinh sản. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thông thường
nhất là phụ nữ trong thời kỳ sinh đẻ và có tỷ lệ mắc bệnh cao trong cộng đồng
[58]. Klein Catherine (2002) thấy khoảng 70-75% phụ nữ nhiễm nấm âm đạo ít
nhất 1 lần trong đời và hơn một nửa trong số họ bị tái phát hàng năm [53].
Theo Phạm Thị Lan (2009) và cộng sự nghiên cứu thấy tỷ lệ nhiễm Candida
âm đạo cao nhất trong các tác nhân viêm ĐSD, chiếm khoảng 26% (59).
Biểu hiện lâm sàng nhiễm nấm vùng niêm mạc âm hộ, âm đạo thường không
đặc hiệu như: Ngứa, đau rát, viêm trợt niêm mạc, tiết dịch, chảy máu…Bệnh
ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Nếu bệnh không
điều trị đúng và kịp thời có thể diễn biến dai dẳng, tiến triển nặng nề gây nhiều
biến chứng ảnh hưởng đến các cơ quan phủ tạng thậm chí gây vô sinh hoặc tử
vong [10]. Nguyên nhân điều trị thất bại liên quan đến các yếu tố như: cơ thể
vật chủ, sử dụng thuốc và vi nấm gây bệnh. Trong đó, các yếu tố liên quan đến
vật chủ thường có vai trò quan trọng đưa đến hiện tượng kháng thuốc [27].
Những năm gần đây, cùng với việc ứng dụng những thành tựu mới của y
học hiện đại như: Ghép tạng, dùng thuốc ức chế miễn dịch, hoá trị, xạ trị điều
trị ung thư, các bệnh rối loạn chuyển hoá (tiểu đường, suy tuyến giáp…), sử
dụng kháng sinh hoạt phổ rộng, corticoid kéo dài thiếu kiểm soát, Trong đó
có việc sử dụng rộng rãi các thuốc kháng nấm đang là vấn đề đáng lo ngại.
Trên thực tế lâm sàng đã có nhiều trường hợp không đáp ứng với kháng sinh
kháng nấm [1], [2], [3]. Nhiều nghiên cứu khác nhau chỉ ra rằng: nhiễm nấm
Candida âm đạo dai dẳng, tái phát là do chúng đã sinh ra kiểu gen kháng thuốc
1
viêm âm hộ, âm đạo.
2. Xác định các chủng Candida spp gây viêm âm hộ, âm đạo
2
3. Đánh giá độ nhaỵ cảm chủng Candida spp với một số kháng sinh
kháng nấm. Tại bệnh viện Da liễu TW. Thời gian từ 3-9/2012
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Bệnh do Candida sp được viết trong y văn từ thời Hypocrate và Galen
dưới những tên gọi khác nhau như: Monilia, Candida…Năm 1792, Frank mô
tả lâm sàng căn bệnh này. Năm 1894, Wilkinson xác định các triệu chứng lâm
sàng của bệnh liên quan với căn nguyên do nấm. Đến 1923 Berkhout mô tả rất
chi tiết nấm này dưới tên thống nhất Candida [28]
1.1. Đặc điểm nấm Candida (Yeast - Levure) [25, 27, 50]
Candida là một nấm men tồn tại khá phổ biến trong thiên nhiên, ký sinh trên
người và súc vật. Ngày nay, nấm Candida là một trong những căn nguyên gây
bệnh thường gặp nhất.
- Candida thuộc chi nấm men, họ Cryptococcaceae.
- Tồn tại trạng thái đơn bào, có nhân chuẩn.
- Hình dạng: Là nấm không màu, vách ngăn rộng, hình tròn hoặc hình bầu
dục, đôi khi gặp dạng sợi hoặc vô định hình.
- Kích thước dao động từ 3 – 10 µm, thông thường lớn hơn gấp 10 lần so
với vi khuẩn.
- Sinh sản vô tính theo phương thức nảy chồi. Khi bào tử chồi được sinh
ra theo dạng tuyến tính không phân cắt thì hình thành nên cấu trúc gọi là giả
sợi nấm.
- Khả năng thích nghi môi trường đường cao
- Tồn tại trong thiên nhiên, trong các môi trường chứa đường như hoa
quả, rau dưa, mật mía…
3
- Có hơn 300 loài Candida sp gây bệnh, trong đó loài C.albicans hay gặp
nhiễm Candida âm đạo chủ yếu do loài C.albicans gây ra (8)(28).
- Khi vi nấm xâm nhập → thích nghi → nhân lên → phá hủy → gây bệnh.
Khả năng đề kháng của cơ thể đóng vai trò quan trọng trong việc chống lại sự
xâm nhập trước các tác nhân gây bệnh của nấm. Có hai cơ chế bảo vệ: [1, 58]
+ Miễn dịch không đặc hiệu: Sự tham gia lớp da, niêm mạc, hệ vi sinh vật
hội sinh, các tế bào thực bào…. Ngoài ra, có sự tham gia các globulin miễn
dịch và bổ thể. Những cơ chế này vai trò quan trọng trong việc bảo vệ cơ thể
chống lại những bệnh do nhiễm nấm cơ hội và những chủng nấm độc lực yếu.
+ Miễn dịch đặc hiệu: Sư tham gia đáp ứng miễn dịch trung gian tế bào và
dịch thể. Trong đó, miễn dịch trung gian tế bào vai trò quan trọng hơn. Các tế
bào lympho T mẫn cảm sản sinh các lymphokine hoạt hóa đại thực bào. Các
đại thực bào được hoạt hóa đóng vai trò quyết định trong việc chống lại nấm
gây bệnh. Nhiều nghiên cứu miễn dịch học về nấm cho thấy những người có
hệ miễm dịch hoạt động tốt bệnh khỏi nhanh, còn người thiếu hụt miễn dịch tế
bào thường dai dẳng, dễ tái phát [16].
1.3 Các bệnh do nấm Candida
1.3.1 Nhiễm Candida ở da, móng
- Bệnh thường gặp ở các nếp kẽ, vùng da ẩm ướt: Kẽ bẹn, kẽ cổ, nách,
nếp lằn mông thường ở những người béo phì, bệnh nhân đái tháo đường.
Thương tổn đỏ tươi, bề mặt có nhiều vẩy nhỏ, mụn nước rìa thương tổn và xuất
hiện những thương tổn vệ tinh.
- Viêm quanh móng do Candida, theo Lâm Văn Cấp (2001) chiếm tỷ lệ
3,7% tổng số bệnh nhân xét nghiệm nấm. Trong đó, có 70,1% do nhiễm nấm
5
C. albicans. Bệnh biểu hiện viêm móng và quanh móng: Sưng, đau mưng mủ
rãnh móng hoặc móng dày sừng đôi khi teo nhỏ [8]
1.3.2 Nhiễm nấm Candida niêm mạc miệng
- Người ta thấy khoảng 30-50% người khoẻ mạnh nhiễm nấm Candida
miệng, lưỡi. Hay gặp trẻ sơ sinh do lây nhiễm từ quá trình chuyển dạ do người
mẹ nhiễm nấm AĐ không điều trị kịp thời. Hoặc trẻ bú mẹ cũng hay bị nhiễm
- Viêm niệu đạo: viêm niệu đạo cấp do nấm Candida ít gặp. Trên lâm sàng
triệu chứng gần giống viêm niệu đạo do lậu. Niệu đạo viêm xuất tiết nhiều dịch
mủ, đôi khi có máu kèm đái buốt, đái rắt [6]
1.3.5. Nhiễm nấm Candida âm đạo
1.3.5.1. Tác nhân gây bệnh
Bình thường trong âm đạo phụ nữ, nấm Candida sống cộng sinh và hầu
như không biểu hiện lâm sàng. Sự phát triển và gây bệnh của nấm chịu sự kìm
chế của các vi khuẩn sống trong vi hệ, sự cân bằng môi trường âm đạo và hệ
thống miễm dịch cơ thể. Khi một trong các yếu tố đó phá vỡ, nấm sẽ thoát kìm
chế, phát triển nhanh chóng và gây bệnh.
1.3.5.2. Tình hình nhiễm nấm Candida âm đạo
* Trên thế giới
Nhiễm nấm Candida có thể gặp mọi lứa tuổi, mọi chủng tộc và khắp nơi
trên thế giới. Nấm Candida có thể gây bệnh nhiều cơ quan, tổ chức; Ở nông
trên da, niêm mạc miệng lưỡi, niêm mạc sinh dục nam nữ Hoặc có thể xâm
nhập sâu gây bệnh: Phổi, tim, máu, não, gan có thể gây tử vong [9], [40], [66]
7
Trong đó, nhiễm Candida AĐ chiếm tỷ lệ khá cao trong cộng đồng, đặc
biệt phụ nữ đang độ tuổi sinh đẻ. Nhiều nghiên cứu khác nhau về tình hình
nhiễm Candida AĐ. Người ta thấy có tới 75% phụ nữ ít nhất một lần trong đời
nhiễm Candida AH-AĐ và khoảng 40–45% trong số đó bị từ 2 lần trở lên [59].
- Oterol Placio thấy tỷ lệ nhiễm nấm AĐ trên tổng số BNSTI 18,5% [3]
- Nghiên cứu ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai, tỷ lệ nhiễm Candida AĐ
khoảng 25%.[8]
- Một nghiên cứu khác thấy rằng 30% phụ nữ điều trị bằng kháng sinh
kéo dài bị viêm âm đạo do Candida 61]
- Vùng Kwazuzu Natal thuộc Nam Phi, nghiên cứu 145 cô gái mại dâm,
thấy tỷ lệ nhiễm nấm AĐ khá cao. Trong đó, C. albicans chiếm 40,6% [62]
Iavazzo C., Vogiatzi C., Falagas M.E (2008): cho thấy tỷ lệ nhiễm Candida AĐ
khá cao, khoảng 42,5% trong căn nguyên viêm AĐ.[53]
nhân hay điều kiện thuận lợi cho tình trạng viêm nhiễm âm đạo.
- Tiền sử dùng thuốc
+ Sử dụng kháng sinh: sử dụng kháng sinh hoạt phổ rộng, dài ngày là yếu
tố thuận lợi phát sinh viêm âm đạo do Candida. Thuốc kháng sinh có tác dụng
phụ là tiêu diệt vi khuẩn bảo vệ âm đạo ( Lacto bacilli).
+ Dùng Corticoid kéo dài có thể làm suy giảm hệ miễm dịch
+ Sự thay đổi nội tiết tố khi sử dụng thuốc tránh thai một thành phần
Oestrogen có nồng độ cao sẽ tạo điều kiện cho nấm Candida phát triển.
Yếu tố nôi tiết, miễn dịch
+ Một số bệnh chuyển hóa
9
Có sự liên quan giữa các bệnh chuyển hóa đến tình trạng gia tăng sự phát
triển nấm men trong âm đạo, đặc biệt bệnh tiểu đường. Khi mắc tiểu đường
sự chế tiết glycogen của tế bào biểu mô âm đạo suy giảm. Đồng thời,
lượng đường tăng cao làm thay đổi pH âm đạo.
10
+ Chu kỳ kinh nguyệt:
Sự biến đổi hoocmon buồng trứng đã kích thích sự tăng sinh nấm men.
Trên thực tế lâm sàng thường gặp các triệu chứng viêm âm hộ- âm đạo do nấm
vào tuần thứ 3 và thứ 4 của chu kỳ kinh nguyệt.
+ Đang có thai
Trong thai kỳ, nồng độ hoocmon tăng cao nhất là vào khoảng tháng thứ
7 và thứ 9. Lượng hoocmon tăng đã làm cho môi trường axit của âm đạo bị
thay đổi, tế bào biểu mô tăng chế tiết glycogen.
+ Thời kỳ mạn kinh sẽ gây tình trạng chung là thiếu kích thích niêm mạc
âm đạo chế tiết Oestrogen, dẫn đến teo biểu mô lát và làm gia tăng pH âm đạo.
+ Nhiễm HIV/AIDS
Tình trạng suy giảm hệ thống miễn dịch mắc phải ( HIV/AIDS) dẫn đến
việc thiếu hoặc mất kiểm soát của hệ miễn dịch tạo điều kiện cho những vi
sinh vật sống trong vi hệ bùng phát gây bệnh cơ hội. Đặc biệt, nhiễm nấm cơ
chủng vi trùng này còn tạo H202 - tác nhân diệt trùng tự nhiên và làm tăng
nồng độ acid AĐ. Các chủng vi khuẩn trong AĐ sống chung hòa bình và
không gây hại cho AĐ. Khi cân bằng giữa các nhóm vi khuẩn phá vỡ, viêm
nhiễm AĐ dễ xảy ra. Biến động chủng vi trùng thường trú, đặc biệt là nhóm
lactobacili ảnh hưởng đáng kể pH âm đạo và tình trạng viêm AĐ.
Một thí nghiệm khảo sát biến động của vi trùng thường trú âm đạo được
tiến hành sau khi dùng Povidine thụt rửa âm đạo đã cho kết quả như sau [66]
Chủng vi trùng Sau 10 phút Tiếp sau đó
Lactobacili Giảm 100 lần Không trở lại bình thường sau 24h
G.vaginalis Giảm 100 lần Gia tăng sau 4 giờ
E.coli Tăng 1000 lần sau 24h
Hay nói cách khác, Lacobacilli sụt giảm là điều kiện rất thuận lợi cho sự
phát triển các vi sinh vật có hại, đặc biệt đối với nhiễm nấm Candida âm đạo.
12
1.4. Biểu hiện lâm sàng nhiễm nấm Candida âm đạo [1, 44]
1.4.1 Triệu chứng cơ năng: thường không điển hình
Ngứa. Đau rát. Khí hư màu trắng váng sữa, mùi hôi, bột dính.Tiểu tiện
buốt. Đau khi giao hợp. pH âm đạo thay đổi
1.4.2 Triệu chứng thực thể
Khám từ ngoài vào trong thấy có những triệu chứng như:
Âm hộ :
- Đỏ phù toàn bộ hoặc từng đám, bờ giới hạn rõ,
- Môi lớn đỏ, rãnh giữa môi lớn, môi bé phủ dịch tiết trắng đục. Làm kỹ
thuật lau sạch dịch tiết thấy niêm mạc màu đỏ sẫm, bóng và bờ không đều
nham nhở kèm một lớp viền vảy đỏ bên ngoài .
Âm đạo:
- Thành niêm mạc âm đạo: phù nề, xung huyết và có màu đỏ tươi
- Có dịch màu kem dính như phủ bột ở thành âm đạo, có khi không thấy
rõ do xuất tiết nhiều dịch, đôi khi lẫn mủ. Nhưng triệu chứng thường gặp hơn
khi có viêm âm đạo thì thường sẽ có thay đổi lactobacilli bất kể nguyên nhân
nào gây viêm âm đạo. Khuynh hướng điều trị viêm âm đạo thường cố gắng tạo
môi trường thuận lợi cho lactobacilli phát triển. (58)
1.7. Vấn đề nấm Candida âm đạo tái phát
Tình trạng viêm âm đạo lập lại hơn 4 lần trong một năm. Cần xem rõ
đây là bệnh cũ tái phát hay là tái nhiễm; có nghĩa là sẽ tìm và điều trị các yếu
tố thuận lợi sinh bệnh hay là đặt vấn đề điều trị người bạn tình, sử dụng các
biện pháp hàng rào nhằm chống các bệnh lây qua đường tình dục. Ngoài ra, có
giả thuyết cho rằng có thể liên quan đến sự thiếu hụt rõ rệt kháng thể IgG kéo
14
dài gây nhiễm nấm tái phát và nặng nề. [34], [Error: Reference source not
found], [67]
Theo Nguyễn Bích Ngọc: Trong các bệnh viêm nhiễm ĐSD, Candida có
tỷ lệ tái phát cao nhất [29]
Nhiều nghiên cứu dich tễ học: Candida là nguyên nhân chính HCTDĐSD và
ngày càng gia tăng, nhiều bệnh nhân tái nhiễm (4-5 đợt/ năm) [34]
Các nhà khoa học thuộc trường đại học Leeds ở Mỹ nghiên cứu rằng:
Khi BN nhiễm nấm âm đạo đã điều trị đúng và đủ liều bằng thuốc kháng nấm
nhưng do vẫn còn độc tố và bào tử nấm chưa bị tiêu diệt hết. Chúng vẫn có khả
năng kích thích âm đạo đồng thời kết hợp với một trong các yếu tố thuận lợi
làm cho bệnh tái diễn [12].
Một thăm dò chéo, khảo sát yếu tố tâm lý liên quan những phụ nữ nhiễm
nấm Candida âm đạo tái phát mạn tính. Các tác giả nhận thấy những người phụ
nữ này liên quan đến trạng thái tinh thần dễ bị trầm cảm [6].
Ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống, đặc biệt trong trường hợp viêm
nhiễm do chủng nấm kháng thuốc, bệnh dai dẳng hay tái phát.
Một nghiên cứu khác ở 80 phụ nữ đến khám thai, phát hiện 14 người có
triệu chứng nhiễm nấm Candida âm đạo tái phát. Sau khi khảo sát tác giả thấy:
Đã tồn tại dai dẳng một kiểu gen của nấm Candida. Kiểu gen này đã thay đổi
về hình thái và tính chất ngay trong môi trường có thuốc chống nấm [36]
Vi nấm gọi là đa đề kháng sau khi đã có tích lũy đầy đủ điều kiện tự
nhiên và mắc phải. Chúng chỉ nhạy cảm với rất ít kháng sinh và đề kháng với
rất nhiều kháng sinh hoặc nhóm kháng sinh [27]
Hiện tượng đề kháng tự nhiên:
16
Một số vi nấm không chịu tác động của một số kháng sinh nhất định. C.
krusei đề kháng tự nhiên với Fluconazolazon [27]
Nguyễn Thị Xiêm và Cộng sự ( 1975-1978) tình hình nhiễm nấm ở VN trong
thập niên 70, 80 không thay đổi đáng kể, mặc dù có một số thuốc mới [22]
Theo Sobel J.D(2002) trường đại học y khoa Mỹ: Viêm âm đạo do
C.albicans đáp ứng tốt với các thuốc kháng nấm thông thường. Còn
C.glabrata tỷ lệ thất bại tương đối cao [33]
Thất bại điều trị do nhiều nguyên nhân liên quan đến các yếu tố: vật chủ,
sử dụng thuốc và vi nấm gây bệnh. Vậy khi nào cần phát hiện hiện tượng đề
kháng của chủng nấm. Hay nói cách khác là khi nào cần thiết làm thử nghiệm
xác định độ nhạy cảm của các chủng nấm Candida với thuốc kháng nấm.
Phương pháp kháng sinh đồ nấm
* Nên làm thử nghiệm xác định mức độ nhạy cảm nấm men với kháng
sinh chống nấm trong một số trường hợp khuyến cáo sau:
- Nhiễm Candida bề mặt
+ Chỉ những trường hợp thất bại về lâm sàng, không nên sử dụng cho bắt
đầu điều trị.
- Nhiễm Candida spp và Trichosporon spp xâm nhập
+ Nên làm kháng sinh đồ khi bắt đầu điều trị và khi xuất hiện dấu hiệu
của thất bại điều trị
- Nhiễm Cryptococcus
+ Chỉ khi thấy thất bại điều trị
- Với Amphotericin-B chỉ nên làm khi có vấn đề về điều trị
+ Các trường hợp khác nên thảo luận với các bác sỹ phòng xét nghiệm [26]
Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu nhằm đánh giá sự nhạy cảm
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn BN
- Bệnh nhân biểu hiện viêm âm đạo và xét nghiệm trực tiếp tìm nấm
dương tính.
- Phụ nữ tuổi 15-49
- Không dùng thuốc kháng nấm trước đó 05 ngày
2.1.3 Tiêu chẩn loại trừ
- Bệnh nhân biểu hiện viêm niêm mạc âm đạo nhưng xét nghiệm nấm
âm tính.
- Bệnh nhân đang trong thời kỳ kinh nguyệt hoặc ra máu
- Bệnh nhân không hợp tác
2.2. Phương pháp nghiên cứu
19
2.2.1. Thiết kế nghiên cứư: Nghiên cứu mô tả, tiến cứu.
2.2.2. Mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu cho nghiên cứu tỷ lệ và các yếu tố liên quan nhiễm nấm
Candida âm đạo
n = Z
2
1-α/2
( )
2
)(
1
ε
p
pp
−
n: cỡ mẫu cho nghiên cứu tỷ lệ nhiễm nấm Candida .
Z
20
- Khảo sát yếu tố liên quan: tuổi, giới, nghề nghiệp, trình độ và các yếu tố
khác tạo thuận lợi cho nấm Canđida gây bệnh
2.2.3.2 Xác định loài nấm Candida và độ nhạy cảm với một số kháng sinh
- Lựa chọn bệnh nhân theo tiêu chuẩn: khoảng 100 bệnh nhân
+ Bệnh nhân bị tái phát ( trên 4 lần một năm)
+ Điều trị dai dẳng, kéo dài có biểu hiện kháng thuốc
2.2.4. Biến số nghiên cứu
Tuổi, giới, nghề nghiệp, địa dư, trình độ, các yếu tố liên quan của BN
nhiễm nấm Candida sp. Tỷ lệ chủng Candida sp phân bố AĐ. Xác định các
chủng Candida sp thường gặp và tình trạng kháng thuốc các chủng nấm đó.
2.2.5. Kỹ thuật thu thập số liệu
Thu thập số liệu theo mẫu bệnh án thống nhất (phụ lục)
2.2.6. Quy trình thu thập số liệu
- Nghiên cứu tỷ lệ và khảo sát các yếu tố liên quan nấm Candida sp
niêm mạc âm đạo: Khám theo mẫu bệnh án nghiên cứu (Phụ lục)
- Tỷ lệ nhạy cảm: Xét nghiệm trực tiếp, nuôi cấy định loại và làm KSĐ
Sơ đồ 3: Quy trình thu thập số liệu
Bệnh nhân viêm da, niêm mạc
Khám lâm sàng
Xét nghiệm
(-) (+)
Nuôi cấy và phân loại
Kết quả KSĐ
Tỷ lệ nhiễm Candida sp
21
Khuyếch tán trên thạch
2.2.7. Quy trình định loại nấm Candida sp có cải tiến
Thông thường các triệu chứng cơ năng và thực thể không đặc hiệu. Nên
C. albicans
Auxacolor
Auxacolor
Auxacolor
CHROM agar Candida
2.2.8. Kỹ thuật xét nghiệm tìm nấm Candida
2.2.9 . Dụng cụ, hoá chất
2.2.10. Nội dung xét nghiệm
2.2.10.1 Xét nghiệm trực tiếp
* Lấy bệnh phẩm
Mở mỏ vịt và lấy bệnh phẩm ở cùng đồ sau âm đạo.
* Làm tiêu bản
- Dịch cùng đồ sau tiến hành nhuộm Gram hoặc soi trong Nacl 9‰
* Nhận định kết quả
- Trên tiêu bản soi tươi: Sử dụng kính hiển vi quang học vật kính 10, 40:
+ Bào tử nấm men hình tròn hoặc bầu dục, kích thước 3-6-10µm. Có rất
nhiều tế bào men nẩy chồi, đôi khi thấy hiện tượng giả sợi nấm.
- Trên tiêu bản nhuộm Gram: Sử dụng kính hiển vi quang học vật kính dầu 100
+ Tế bào nấm men có chồi hoặc không, hình tròn hoặc bầu dục, đôi khi
thấy sợi nấm hoặc giả sợi. Bắt màu Gram dương.
2.2.10.2 Nuôi cấy, định loại
- Môi trường: Sabouraud, Chloramphenicol (gentamycine), Actidion
- Bệnh phẩm sau khi lấy vô khuẩn, tiến hành cấy vào môi trường trên theo
phương pháp ria cấy hoặc cấy điểm. Bệnh phẩm sau khi lấy phải cấy ngay.
- Ria cấy từ 2-3 ống, t°=25- 30°C hoặc 37°C, thời gian sau 24- 48h.
* Đại thể
- Khuẩn lạc tròn, màu trắng kem, sền sệt, bề mặt trơn nhẵn, có một số
chủng thô ráp, sần sùi. Khi để già tạo tua sợi đâm sâu xuống môi trường thạch
* Vi thể
- Thay đổi tuỳ theo loài. Nói chung, nấm men hình cầu, hình tròn
24
* Xác định độ nhạy cảm của chủng nấm với các kháng sinh chống
nấm bằng kỹ thuật khoanh giấy kháng sinh khuếch tán.
• Nguyên lý: Kháng sinh ở trong khoanh giấy sẽ khuếch tán vào thạch
Meuler-hinton có chứa các chủng vi nấm thử nghiệm và mức độ nhạy cảm của
vi nấm với kháng sinh được biểu hiện bằng đường kính các vòng vô khuẩn
xung quanh khoanh giấy kháng sinh.
• Loại mẫu: Các chủng vi nấm gây bệnh phân lập từ bệnh phẩm lâm sàng.
• Các khoanh giấy kháng nấm hiện hành và khoanh giấy mới
Nystatin50, AmphotericinB 50, Miconazole, Ketoconazole, Intraconazole,
Fluconazole, Caspofungin, Voriconazole.
Sơ đồ 5: Qui trình thử nghiệm tính nhạy cảm kháng sinh bằng
kỹ thuật khoanh giấy kháng sinh
25