Sáng kiến kinh nghiệm một số giải pháp nâng cao tính tích cực học tập của học sinh môn sinh học 9 - Pdf 51

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP
MÔN SINH HỌC 9 Ở TRƯỜNG PTCS MINH CHÂU
I. PHẦN MỞ ĐẦU
Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật trên thế giới đang phát triển mạnh mẽ,
dẫn tới sự bùng nổ thông tin. Do đó khối lượng tri thức chung của toàn nhân loại
tăng lên theo cấp số nhân, người giáo viên không thể cung cấp hết thông tin cho
người học trong khi khả năng tiếp nhận và lĩnh hội nguồn tri thức mới của người
học bị hạn chế bởi thời gian hạn hẹp của tiết học.
Mặt khác nhu cầu xã hội đòi hỏi tri thức của người học ngày càng cao,
hiểu biết ngày càng rộng và sâu sắc, bên cạnh đó còn phải có những kĩ năng nhất
định về tư duy, về giao tiếp xã hội, kĩ năng giữ gìn sức khỏe phòng chống bệnh
tật, sự hợp tác trong cộng đồng. Học sinh của trường PTCS Minh Châu hầu hết
kĩ năng học tập cũng như kĩ năng sống của các em còn thiếu và yếu trong đó có
các kĩ năng tư duy.
Việc vận dụng những phương pháp tích cực vào quá trình dạy học sẽ đáp
ứng phần nào đòi hỏi, yêu cầu ở trên.
1. Lý do chọn đề tài:
Sự hứng thú, tích cực tự giác, năng động, sáng tạo, khả năng làm chủ bản
thân, làm chủ tri thức là những yên cầu cần phải có ở người học: Tích cực, tự
giác trong xây dựng bài, năng động sáng tạo trong suy nghĩ, trong học tập, thực
hành, trong lao động, trong công việc và trong cuộc sống sau này. Quá trình học
tập phải là một quá trình lĩnh hội tri thức mới, rèn luyện kĩ năng, hình thành thái
độ nhằm thỏa mãn nhu cầu của người học. Như vậy người học phải có nhu cầu
học tập, xuất phát từ động cơ, mục đích ham muốn hiểu biết, từ lòng say mê học
tập và khát khao vươn lên.
- Tính tích cực học tập giữ một vai trò quan trọng trong việc nâng cao
hiệu quả giảng dạy và học tập, thu hút học sinh, giảm căng thẳng mệt mỏi, tăng
cường sự chú ý, thúc đẩy tính tự giác, tìm tòi sáng tạo của học sinh trong bộ
môn Sinh học và qua đó góp phần xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích
cực trong Nhà trường.

- Ảnh hưởng đến tính chất, cường độ, diễn biến, kết quả của dạy và học
giúp cho hiệu quả của hoạt động này được nâng cao.
- Tạo ra và duy trì tính tích cực nhận thức, tích cực hoạt động tiếp thu,
tìm hiểu kiến thức.
- Giúp điều khiển hoạt động định hướng vì chính cảm xúc hứng
thú tích cực tham gia điều khiển tri giác và tư duy.
- Đóng vai trò trung tâm, tạo cơ sở, động cơ trong các hoạt động nghiên
cứu và sáng tạo về sau.
- Góp phần quan trọng trong sự phát triển kĩ năng, kĩ xảo và trí tuệ của
học sinh, làm cho hiệu quả của hoạt động học tập được nâng cao.
Vì những lí do trên tôi tự nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm của bản thân,
học hỏi kinh nghiệm của nhiều thầy cô khác để viết đề tài “Một số giải pháp
nâng cao tính tích cực học tập sinh học 9 ở trường phổ thông cơ sở Minh Châu”.
2. Mục đích nghiên cứu:
- Nhằm giúp bản thân hiểu rõ thêm về tính tích cực học tập bộ môn Sinh
học của đối tượng học sinh lớp 9 mà mình đang giảng dạy, qua đó nhận ra
những mặt mạnh, mặt yếu trong phương pháp, biện pháp giảng dạy, từ đó tiếp
tục tìm hiểu, rèn luyện chuyên môn nghiệp vụ, tăng lòng yêu nghề, trách nhiệm
trong công việc để nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn.
- Giúp học sinh nâng cao tính tích cực học tập bộ môn sinh học, giúp các
em khơi dậy lòng đam mê học tập, tính tích cực, tự giác, tập trung chú ý, rèn kĩ
năng giao tiếp, đạt kết quả cao trong học tập. Các em sẽ được củng cố và nâng
cao động cơ, thái độ và mục đích học tập, xây dựng cho bản thân các em động
cơ, thái độ học tập đúng đắn về lâu dài.
3. Thời gian và địa điểm:
- Thời gian nghiên cứu trong năm học 2017 – 2018
- Địa điểm: Trường PTCS Minh Châu, đối tượng học sinh lớp 9
2



* Một số đặc điểm tâm lí của học sinh:
Về tâm lý: Đây là thời kì chuyển từ thời thơ ấu sang tuổi trưởng thành. Ở
lứa tuổi này tuyến nội tiết đang hoạt động mạnh, hệ thần kinh còn chưa có khả
năng chịu đựng những kích thích mạnh, đơn điệu, kéo dài. Điều đó rất dễ gây
cho các em tình trạng bị ức chế hoặc ngược lại bị kích động mạnh. Những khó
khăn chính của lứa tuổi này là các em chưa biết tự đánh giá, chưa biết kìm hãm
và hướng dẫn bản năng, ham muốn, hành vi …
Về hoạt động học tập: thái độ và động cơ học tập của học sinh rất khác
nhau, từ rất tích cực đến lười biếng, thiếu trách nhiệm. Trong cách học thì có em
có kĩ năng tự học rất tốt, những em khác chỉ biết học thuộc lòng từng câu từng
chữ. Trong tính tích cực học tập thì từ chỗ biểu hiện rõ rệt đối với một lĩnh vực
tri thức nào đó cho đến chỗ hoàn toàn chưa có tính tích cực học tập nhận thức,
việc học hoàn toàn do gò ép, bắt buộc
Về hoạt động giao tiếp: có sự thay đổi lớn về bản chất ở các em hình
thành và phát triển kiểu quan hệ giao tiếp mới với người lớn và với bạn bè. Các
em nảy sinh cảm giác về sự trưởng thành và có nhu cầu được người lớn thừa
nhận.
Hiểu biết này giúp thầy cô giáo tìm biện pháp giúp đỡ, hướng dẫn các em
một cách tế nhị, khéo léo, khơi dậy hứng thú, lòng say mê học tập của các em.
Quá trình chú ý của học sinh chưa cao. Có thể xuất hiện sự “chú ý giả
tạo”, chú ý hình thức, học sinh tuân theo kỉ luật, nhưng thực chất không tập
trung tư tưởng, cũng không biểu hiện chán nản hoặc hưng phấn. Một số em ngại
suy nghĩ, động não, không biết lật đi, lật lại vấn đề, phát hiện vấn đề và thắc
mắc. Học sinh thường thoả mãn những cái có sẵn, khả năng tư duy và óc phê
phán còn còn nhiều hạn chế.
4


1.2 Cơ sở thực tiễn:
Tính tích cực học tập là động lực giúp giáo viên tiến hành hoạt động nhận

CHƯƠNG 2. NỘI DUNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Thực trạng.
- Khảo sát thống kê:
Hiên nay, người giáo viên chủ yếu giảng dạy trên cở sở sách giáo khoa,
với những lệnh, câu hỏi có sẵn, mà việc giải bài tập và trả lời câu hỏi ở sách giáo
khoa thì cũng chỉ phần nào giúp cho học sinh nắm được lí thuyết một cách đơn
thuần, máy móc, chưa linh hoạt. Vấn đề liên hệ thực tế, phát triển tư duy,
phương pháp học tập, rèn kĩ năng sống cho học sinh trong môn học còn rất
nhiều hạn chế. Thực tế qua khảo sát 15 Học sinh của khối 9 thì có tới 70% HS
thiếu tích cực trong học tập, 20% HS có năng lực nhận thức, 10% có năng lực
hành động tích cực chủ động tìm tòi nhận thức.
- Đánh giá phân tích:
* Về phía giáo viên:
Chương trình sinh học hiện nay còn nhiều nội dung khó tuy được giảm tải
so với trình độ, lứa tuổi của học sinh, nhất là học sinh lớp 9 nhưng việc vận
dụng đổi mới phương pháp còn có những khó khăn nhất định. Bản thân tôi qua
những năm trước sự tìm tòi, đổi mới phương pháp giảng dạy còn nhiều hạn chế.
Qua việc dự giờ, tôi cũng nhận thấy nhiều giáo viên chưa tiếp cận được các
phương pháp dạy học tích cực và do vậy hiệu quả giảng dạy chưa được nâng cao
so với yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát
triển năng lực học sinh.
*Về phía học sinh:
Về phía học sinh, tôi nhận thấy ở các em còn thiếu rất nhiều kĩ năng,
phương pháp học tập, tính tích cực học tập còn nhiều hạn chế, nhiều em còn thụ
động trong việc tìm hiểu, tiếp thu kiến thức, kĩ năng học tập bộ môn.
- Đó chính là lí do thúc đẩy tôi tìm ra một số biện pháp khắc phục vấn đề
này.
2.2. Các giải pháp nâng cao tính tích cực học tập môn sinh học 9 ở trường
phổ thông cơ sở Minh Châu
Từ việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn về tính tích cực học tập đã trình

còn ồn, mất trật tự … Khi học sinh có sai sót thì cần nhắc nhở khéo léo chứ
đừng bao giờ quát mắng, la ó om sòm làm mất tình cảm thầy trò, mất tính tích
cực học tập của học sinh.
- Luyện kỹ năng thực hành:
Trong quá trình dạy học giáo viên cần quan tâm trước hết đến việc phát triển
rèn kĩ năng thực hành cho học sinh,
* Kĩ năng quan sát: Từ các mẫu vật tự nhiên đến các vật tượng hình, các vật
tượng trưng (sơ đồ, biểu đồ, đồ thị), các hiện tượng, kèm theo là sự phát triển
các kĩ năng mô tả kĩ năng sử dụng ngôn ngữ sinh học.
* Kĩ năng làm thí nghiệm: Trong chương trình có thể lắp đặt một số thí
nghiệm đơn giản, tập dượt các kĩ năng đề xuất giải thuyết, bố trí thí nghiệm,
thay đổi đối tượng và điều kiện thí nghiệm, phân tích kết quả thí nghiệm so sánh
với thực nghiệm rút ra kết luận
Ví dụ: bài thực hành : Tìm hiểu thành tựu chọn giống vật nuôi và cây trồng.
Yêu cầu: Học sinh biết cách sưu tầm tư liệu (tranh, ảnh, tài liệu khác) →
Quan sát các nguồn tư liệu khác nhau để lựa chọn tư liệu phù hợp → So sánh
đối chiếu các tư liệu → Sắp xếp tư liệu theo chủ đề → Báo cáo những điều rút ra
từ tư liệu. Qua bài này học sinh vừa rèn kĩ năng tìm kiếm thông tin theo chủ đề,
vừa rèn kĩ năng quan sát, kĩ năng sắp xếp thông tin theo hệ thống và rèn kĩ năng
báo cáo một vấn đề tìm hiểu được. Báo cáo của học sinh có thể chưa hoàn chỉnh,
do vậy giáo viên có thể hướng dẫn các em hoàn thiện dần, giúp các em rèn kĩ
năng tự học, tự tìm tòi, sắp xếp tư liệu hợp lí. Giáo viên cần thiết phải hướng
dẫn các em tìm kiếm tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau, ví dụ như từ Internet.
Những tư liệu, hình ảnh mà học sinh tìm kiếm từ Internet hoặc từ máy tính khác
thì giáo viên hướng dẫn học sinh cách chọn lọc, sắp xếp, lưu giữ thông tin cho
phù hợp.
- Tăng cường cơ sở vật chất:
Trong quá trình dạy học sinh học 9, sử dụng các phương tiện trực
7


ghi vào bảng 53.1 sau đó mới quan sát cụ thể trong các ô sinh thái.
 Ví dụ 2.
Học sinh tự lên kế hoạch quan sát → Tự đánh giá mức độ ô nhiễm → Tìm
hiểu nguyên nhân và đưa ra những đề xuất, kiến nghị để cải thiện đối tượng
quan sát khi dạy Sinh học 9 bài Thực hành: “Tìm hiểu về tình hình ô nhiễm môi
trường ở địa phương”:
Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát tình hình chung sau đó tìm hiểu mức
độ ô nhiễm ở từng môi trường cụ thể, tìm nguyên nhân gây ô nhiễm, đưa ra biện
pháp khắc phục.
- Kiểm tra đánh giá: Bằng cách sử dụng kĩ thuật động não nhằm huy động tư
tưởng mới (ý tưởng) về một vấn đề nào đó trong thảo luận.
Quy tắc : Mỗi học sinh đưa ra (phát biểu bằng lời) ý kiến của mình về vấn đề
đang quan tâm, không hạn chế số ý tưởng; cho phép tưởng tượng và liên tưởng;
ý tưởng là của chung; không đánh giá và phê phán các ý tưởng trong quá trình
8


thu thập ý kiến.
Sau khi không còn học sinh nào phát biểu nữa thì bắt đầu thảo luận chung cả
lớp để đánh giá, thống nhất các ý kiến lựa chọn. Trong quá trình này giáo viên
có thể cho phép học sinh phát biểu để bảo vệ, biện hộ hoặc phản biện các ý
kiến.
Có thể vận dụng kĩ thuật này bằng động não viết:
+ Viết ra giấy: mỗi học sinh lần lượt viết ý tưởng ra giấy, sau đó thảo luận
nhóm, đánh giá, lựa chọn.
+ Hoặc viết lên bảng phụ: các ý tưởng của học sinh lần lượt được viết lên bảng
phụ, sau đó treo tường, treo bảng lớp để thảo luận chung.
+ Hoặc viết bảng đen: Cá nhân (hoặc đại diện nhóm học sinh) lên bảng lớp viết
ý tưởng của cá nhân (hoặc của nhóm), sau đó đánh giá, thống nhất lựa chọn.
Ví dụ:

9


tác dụng, đặc điểm vận dụng riêng. Chính vì vậy, người giáo viên cần rút
ki nh nghiệm để lựa chọn, kết hợp nhiều biện pháp với nhau để việc nâng
cao tính tích cực học tập cho học sinh đạt hiệu quả cao.
- Biểu dương, tuyên truyền: Kiến thức sinh học vô cùng phong phú. Nếu
người giáo viên biết khai thác các câu chuyện các tình huống có ý nghĩa giáo
dục thực tế một cách hiệu quả thì sẽ giúp cho học sinh thêm yêu thích môn
học. Từ đó, các em hứng thú, say mê tìm hiểu thêm những kiến thức mà
giáo viên không có điều kiện cung cấp.
Để nâng cao tính tích cực học tập cho học sinh, giáo viên có thể biểu
dương, tuyên truyền qua một số biện pháp sau:
- Chọn lọc nguồn kiến thức cần liên hệ có liên quan với kiến thức mới mà
học sinh đang hoặc chuẩn bị học;
- Kiến thức thực tế phải dựa trên nền tảng kiến thức sẵn có của học sinh;
- Những thành tựu sinh học hiện đại trong nước và thế giới liên
quan đến nội dung kiến thức đang đề cập;
- Ý nghĩa thực tế của nội dung kiến thức đang đề cập;
- Nhận định của học sinh về khả năng vận dụng kiến thức vừa học ở gia
đình, địa phương;
- Hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu thêm để bổ sung tri thức mới cho bản
thân các em;
- Tạo điều kiện để học sinh có dịp chia sẻ kiến thức của mình với thầy
cô, bè bạn.
Ví dụ : Sinh 9 – Tiết 43: Ảnh hưởng của ánh sáng lên đời sống sinh vật.
Trong tiết này liên hệ với việc sử dụng ánh sáng nhân tạo (ánh sáng đèn) để điều
khiển thời gian ra hoa ở các cây bông cúc, cây thanh long, đồng thời giáo dục về
tiết kiệm năng lượng.
Hoặc tiết 44 Sinh học 9, giáo viên cho học sinh liên hệ về cách sử dụng nhiệt

+ Học sinh: gồm 2 mạch đơn, là chuỗi xoắn kép, xoắn đều quanh một trục
theo chiều từ trái qua phải
+ Giáo viên: cho học sinh khác bổ sung, xác nhận và ghi tóm tắt các ý mà
học sinh vừa trả lời vào sơ đồ.
+ Giáo viên: mỗi vòng xoắn hay chu kì xoắn có đặc điểm gì về kích
thước, về số cặp nuclêôtit?
+ Học sinh: mỗi vòng xoắn có đường kính 20 ăngstơrông, cao 34
ăngstơrông gồm 10 cặp nuclêotit.
+ Giáo viên: ghi lên sơ đồ và cho học sinh quan sát lại mô hình, yêu cầu
chú ý đến các nuclêôtit giữa 2 mạch đơn, chú ý giữa A và T có nối bằng 2 “que”
và giữa G – X là 3 “que”.
+ Giáo viên: có nhận xét gì về các nuclêôtit giữa 2 mạch đơn? (Giáo viên
hướng dẫn: Các “que nối” tượng trưng cho điều gì, nuclêôtit mạch này ứng với
loại nuclêôtit nào ở mạch kia?)
+ Học sinh: các nuclêôtit giữa 2 mạch liên kết nhau bằng các liên kết
hiđrô và theo từng cặp A – T, G – X gọi là nguyên tắc bổ sung.
+ Giáo viên: xác nhận và tiếp tục hoàn thiện sơ đồ và yêu cầu học sinh
dựa vào sơ đồ nêu tóm tắt lại cấu trúc không gian của ADN, rồi sau đó tìm hiểu
11


tiếp về nguyên tắc bổ sung và hệ quả của nó.
Sơ đồ tư duy về cấu trúc không gian của ADN:

- Nâng cao kĩ thuật đặt câu hỏi:
Kĩ thuật đặt câu hỏi nhằm khuyến khích toàn bộ học sinh trong lớp tham gia
vào bài học qua việc suy nghĩ để trả lời câu hỏi. Trong dạy học ngày nay thì
phương pháp đặt câu hỏi là phương pháp chủ yếu ở hầu hết các môn học ở
trường phổ thông. Có thể từ bối cảnh thực tiễn hay hiện tượng thực tế để đặt
câu hỏi hay vấn đề cần tìm hiểu nhận thức. Một số phương pháp liên quan như:

yêu cầu “Mọi em đều sẽ được lần lượt gọi trả lời câu hỏi” để tất cả học sinh đều
suy nghĩ.
- Yêu cầu giải thích : Khi học sinh đưa ra câu trả lời chưa đầy đủ, chưa hoàn
chỉnh hoặc chệnh hướng thì giáo viên có thể yêu cầu học sinh bổ sung thêm
thông tin, ví dụ minh hoạ hoặc yêu cầu giải thích rõ hơn. Thao tác này giúp
nâng cao chất lượng câu trả lời, rèn kĩ năng diễn đạt cho học sinh. Tuy nhiên
giáo viên đừng áp đặt, đừng dồn học sinh vào chân tường.
- Tránh nhắc lại câu hỏi của mình: điều này giúp tăng cường sự chú ý của
học sinh, có nhiều thời gian để học sinh trả lời. Giáo viên có thể yêu cầu một
học sinh nhắc lại câu hỏi cho cả lớp thay vì giáo viên nói lại.
- Tránh tự trả lời câu hỏi của mình: với những câu hỏi liên quan nội dung
mới và khó mà học sinh không thể trả lời được thì giáo viên không vội trả lời
mà chỉ định một vài học sinh trả lời. Tốt nhất là chia câu hỏi khó thành một vài
câu hỏi nhỏ, dễ hơn.
Do vậy, khi đặt câu hỏi cần chú ý đến đối tượng học sinh, chú ý đến kiến
thức mà học sinh đã học hay các em có thể có từ cuộc sống. Trong trường hợp
học sinh quá chậm, có thể cho học sinh thảo luận nhóm nhỏ theo bàn, cặp đôi
trong thời gian ngắn. Hoặc giáo viên chuyển câu hỏi tự luận thành câu hỏi trắc
nghiệm (đúng - sai, nhiều lựa chọn), sau đó có thể yêu cầu học sinh giải thích
sự lựa chọn đáp án của mình để tiếp tục lôi cuốn học sinh vào bài học
- Tránh nhắc lại câu trả lời của học sinh: giáo viên nên để cho học sinh nhận
xét bổ sung câu trả lời của bạn trước khi đưa ra kết luận.
Ví dụ: Bài 54, tiết 57. Ô nhiễm môi trường, tôi thiết kế hệ thống câu hỏi để
dạy Mục I- Ô nhiễm môi trường là gì ?
Giáo viên đặt câu hỏi cho học sinh liên hệ thực tế, hiểu biết cá nhân để đi đến
khái niệm Ô nhiễm môi trường, cụ thể :
+ Giáo viên: Em nào đã từng tận mắt thấy, nghe thấy, hoặc xem trên tivi,
sách báo về nơi nào đó bị ô nhiễm môi trường ?
+ Học sinh: Em thấy ở ngã ba xã Minh Châu có nhiều rác thải. Hoặc hồ nước
ở gần trường học bị nhiễm nước thải ….

biểu.
Giáo viên chọn lọc ý kiến ban đầu để viết lên góc phải bảng: Chọn một hoặc vài
ý kiến đúng, một hoặc vài ý kiến sai so với mục tiêu (ý đồ dạy học), tuyệt đối
không đánh giá ý nào là đúng hay sai.
Bước 3. Đề xuất câu hỏi và phương án thí nghiệm.
Giáo viên đề nghị và hướng dẫn học sinh đặt câu hỏi cho các ý kiến ban đầu ở
trên và để học sinh tự nêu các phương án thí nghiệm để trả lời các câu hỏi đó: ví
dụ phải nghiên cứu tài liệu nào, ở đâu, quan sát cái gì, làm thí nghiệm gì và tiến
hành ra sao…
Giáo viên cần định hướng cho học sinh lựa chọn phương án phù hợp với điều
kiện hiện tại để nghiên cứu.
Phương án thí nghiệm trong phương pháp Bàn tay năn bột được hiểu là bao
gồm việc quan sát, thí nghiệm, nghiên cứu tài liệu, thử nghiệm, chế tạo một mô
hình… để giải quyết vấn đề đặt ra.
Bước 4. Tiến hành thí nghiệm tìm tòi – nghiên cứu
Học sinh thực hiện các phương án như đã chọn ở bước 3. Trong dạy học Sinh
học ở trường trung học cơ sở thường là các hoạt động quan sát mô hình, quan
sát tranh vẽ do giáo viên treo, nghiên cứu sách giáo khoa (gồm quan sát hình,
đọc thông tin kênh chữ) là những hoạt động chủ yếu.
Bước 5. Kết luận, hợp thức hoá kiến thức.
14


Học sinh rút ra kết luận đã nghiên cứu được thông qua báo cáo kết quả, tự đối
chiếu với ý kiến ban đầu ở trên.
Giáo viên rút ra kết luận.
Ví dụ: Tiết 12, bài 12, Sinh học 9- Cơ chế xác định giới tính. Ở bài này, học sinh
đã có một số kiến thức cơ bản về viết sơ đồ lai, tính tỉ lệ giao tử, kiến thức về
nhiễm sắc thể trong chương I và các bài 8, 9, 10 chương II, nên có thể vận dụng
phương pháp Bàn tay nặn bột để dạy một phần nội dung của bài. Ở đây tôi vận

hưởng lên sự phân hoá giới tính
? Việc tìm hiểu các yếu tố ảnh
hưởng đó có ý nghĩa gì trong
thực tiễn ?
Bước 2
Bộc lộ biểu tượng ban đầu
- Giáo viên đề nghị học sinh
- Học sinh thực hiện theo yêu
đóng sách giáo khoa.
cầu.
- Giáo viên đề nghị cá nhân học - Học sinh làm việc cá nhân,
sinh, có thể trao đổi với bạn
có thể trao đổi với bạn cùng
cùng bàn, nêu biểu tượng ban
bàn.
đầu bằng lời về:
- Học sinh có thể nêu được:
15


+ Những yếu tố của môi trường
trong (không kể nhiễm sắc thể
giới tính) và môi trường ngoài
ảnh hưởng đến sự phân hoá giới
tính.
+ Ý nghĩa thực tiễn của hiểu
biết này ?

Bước 3


- Giáo viên đánh dấu câu hỏi
phải do đột biến hay không ?
(?) lên sau các ý trên bảng.
+ Sự phân hoá giới tính có
phải do hoocmôn hay không ?
+ Sự phân hoá giới tính có
phải do thuốc trừ sâu hay
không ?
+ Sự phân hoá giới tính có
phải do nhiệt độ, ánh sáng hay
không ?
+ Có phải ý nghĩa thực tiễn là
tạo ra giống đực cái theo ý
muốn không?
- Học sinh có thể đế xuất:
- Sau đó đề nghị học sinh đề
+ Tìm hiểu sách giáo khoa.
xuất phương án thí nghiệm tìm
+ Liên hệ thực tiễn
tòi để trả lời các câu hỏi đó.
+ Thí nghiệm để nghiên cứu
Giáo viên gợi ý:
như nuôi vật ở ánh sáng và
+ Theo các em, làm thế nào để
nhiệt độ khác nhau.
chúng ta tìm câu trả lời cho các
- Học sinh thống nhất phương
câu hỏi nói trên?
án nghiên cứu.
- Giáo viên hướng học sinh đến

hiện tốt.

- Môi trường
trong:
+ Hoocmôn:
- Môi trường
ngoài:
+ Nhiệt độ:

+ Ánh sáng:
+ Yếu tố khác:

Bước 5

+ Mêtyl
testostêrôn làm
cá vàng cái ->
cá đực.
+ Trứng rùa nở
ở nhiệt độ
<280C -> con
cái; >320C ->
con đực.
+ Ánh sáng yếu
-> số hoa đực
giảm.
+ Thức ăn, chất
kích thích, thời
điểm giao
phối…

ruộng dưa, hoặc người ta tưới
dung dịch nước có ngâm đất
đèn (khí đá) lên ngọn dứa để
quả ra đều, thu hoạch tập
trung…

+ Ý nghĩa: chủ động điều
chỉnh tỉ lệ đực cái ở vật nuôi
cho phù hợp với mục đích sản
xuất.

*. Một số thủ thuật dạy học kích thích tính tự giác tham gia xây dựng bài :
Khi lớp học quá trầm, giáo viên có thể sử dụng một số thủ thuật sau để nâng
cao tính tích cực học tập và có thể đạt hiệu quả nhất định tuỳ theo nội dung bài
học.
- Sau khi đặt câu hỏi cho cả lớp, giáo viên có thể nêu câu hỏi kích thích:
+ Ai là người thông minh nhất?;
+ Hoặc nhóm nào là nhóm nhanh nhất?;
+ Hoặc ai là người phát hiện ra vấn đề nhanh nhất?
- Hoặc sau khi đặt câu hỏi, dừng lại chờ vài giây, nếu học sinh thụ động thì
bắt đầu hướng về học sinh và đếm chậm rãi “một, hai, ba, bốn …”. Khi đếm có
thể đưa mắt quan sát các nhóm với hàm ý các số “ một, hai ..” là ám chỉ các
nhóm tương ứng (theo quy ước từ trước). Lúc đầu học sinh chưa quen, có thể
nói thêm “Thầy đang chờ ý kiến của các em!”. Nếu số học sinh tham gia chưa
nhiều, có thể nói “Hình như vẫn còn ít thì phải …”
- Nếu tất cả rơi vào im lặng, giáo viên hướng dẫn “Để trả lời cho câu hỏi đó,
các em có thể tìm nội dung ở mục … trang … Em nào tìm ra nhanh nhất?”.
- Tất nhiên sau khi học sinh trả lời, giáo viên cần động viên, khen ngợi kịp
thời.
2.3. Kết quả:

15

02

13.35

03

20

08

Tổng 15 02
- Cuối học kỳ I:

13.35

03

20

08

Lớp

TS

Giỏi

Khá

0

0

Trung bình

Yếu

Kém

SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL %
9
15 04 26.7 07 46.7 04 26.7
0
0
0
0
Tổng 15 04 26.7 07 46.7 04 26.7
0
0
0
0

2016-2017
2017-2018

TS
HS
14
15

Giỏi

Khá

TS %
01 7.1
04 26.6

TS %
07 50
07 46.6

Trung
bình
TS
%
06 42.8
04 26.6

Yếu
TS
0

học bộ môn phát triển năng lực cho học sinh.
- Bài học riêng: Việc áp dụng thành công các giải pháp nâng cao tính tích
cực cho học sinh trong môn sinh học 9 giúp tôi sử dụng các phương pháp
và kĩ thuật dạy học linh hoạt hơn.
- Học sinh được hình thành kiến thức môn học qua thực tế đời sống
- Bài học thành công :
Qua việc áp dụng các giải pháp vào giảng dạy môn sinh học 9 việc tổ
chức lớp học không còn đơn điệu. Giáo viên thực sự trở thành người chỉ huy, tổ
chức hướng dẫn học sinh khám khá bài học không còn nói nhiều, nói thay, làm
thay học sinh như những bài học trước đây giáo viên thường làm.
Học sinh nhận thức tốt hơn trong học tập, ham tìm hiểu các vấn đề nhận
thức của đời sống gắn liền với môn học. Cũng từ đó hành động của học sinh
được điều chỉnh thể hiện khả năng tự học, tự tu dưỡng, chủ động, độc lập trong
học tập, phát hiện kịp thời giải quyết tốt các vấn đề nảy sinh trong thực tế
- Bài học chưa thành công:
Còn một số học sinh nhận thức còn chậm năng lực giải quyết các vấn đề
còn hạn chế. Trong học tập, các em chưa biết tận dụng thời gian tự học, tự tìm
tòi, sáng tạo. Thụ động trong việc tiếp thu kiến thức chính vì thế các em mau
quên. Giải quyết một số các vấn đề chậm, chưa phát huy được tính tích cực.
III- PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.
1. Kết luận:
20


Việc đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực là cần thiết,
nhằm hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học thụ động, cụ
thể là: phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh. Đáp
ứng được yêu cầu về con người, về tri thức trong công cuộc công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước, bắt kịp xu thế đổi mới phương pháp hiện đại; hình
thành và phát triển những giá trị nhân cách tích cực; năng lực giải quyết vấn đề;

4. Giảng dạy Sinh học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”. Tiến sĩ Ngô Văn
Hưng - Bộ Giáo dục và Đào tạo.
4. Sách giáo khoa và sách giáo viên môn Sinh học lớp 9. Nguyễn Quang
Vinh (Tổng chủ biên). NXB Giáo dục 2007.

Thủ trưởng đơn vị quản lý trực tiếp xác nhận
(ký, đóng dấu)

Người viết
(ký, ghi rõ họ và tên)

Lài Xuân Thành

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
Nhận xét:
22


………………………………………………………………………..…….
………………………………………………………………………………..……….
……………………………………………………………………………..………….
…………………………………………………………………………..…………….
………………………………………………………………………..……………….
………………………………..……………………………………………………...
……………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………..…………………….
………………………………………………………………..……………………….
…………………………………………………………………………………………
………..…….
………………………………………………………………………………..……….

………………………………………………………………..……………………….
……………………………………………………………..………………………….
…………………………………………………………..…………………………….
………………………………………………………..……………………………….
……………………………………………………..………………………………….
…………………………………………………..…………………………………….
………………………………………………..……………………………………….
……………………………………………..………………………………………….
…………………………………………..…………………………………………….
………………………………………..……………………………………………….
……………………………………..………………………………………………….
…………………………………..…………………………………………………….
………………………………..……………………………………………………….
…….......................................................................... Vân Đồn, ngày tháng năm
201..

Chủ tịch hội đồng

24


MỤC LỤC

STT
1
2
3
4
5
6

I. Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài.
2. Mục đích nghiên cứu.
3. Thời gian địa điểm.
4. Đóng góp mới về mặt thực tiễn.
II. Phần nội dung:
1. Chương 1: Tổng quan.
1.1. Cơ sở lý luận.
1.2. Cơ sở thực tiễn.
2. Chương 2: Nội dung vấn đề nghiên cứu.
2.1. Thực trạng.
2.2. Các giải pháp
- Bồi dưỡng nâng cao nhận thức.
- Luyện kỹ năng thực hành.
- Tăng cường cơ sở vật chất.
- Kiểm tra đánh giá.
- Phê phán, rút kinh nghiệm.
- Biểu dương, tuyên truyền
- Khuyến khích sử dụng sơ đồ tư duy
- Nâng cao kĩ thuật đặt câu hỏi
- Tăng cường sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột
2.3. Kết quả
- Tiêu chí đánh giá.
- Kết quả sau khi đánh giá.
- So sánh với cùng kỳ năm trước.
2.4. Bài học kinh nghiệm
- Bài học chung.
- Bài học riêng.
- Bài học thành công.
- Bài học chưa thành công.

18
19
19
20
20
20
20
20
21
21
21
22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status