Quản trị tri thức tại trường cao đẳng CNTT hữu nghị việt – hàn - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGUYỄN THỊ TUYẾT VÂN

QUẢN TRỊ TRI THỨC TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG
CNTT HỮU NGHỊ VIỆT – HÀN

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Đà Nẵng - Năm 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGUYỄN THỊ TUYẾT VÂN

QUẢN TRỊ TRI THỨC TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG
CNTT HỮU NGHỊ VIỆT – HÀN

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60.34.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN QUỐC TUẤN

Đà Nẵng - Năm 2014

1.3.1. Xác định nhu cầu tri thức.............................................................14
1.3.2. Nguồn lưu giữ tri thức .................................................................20
1.3.3. Xác định chiến lược quản trị tri thức...........................................20
1.3.4. Thiết lập mô hình sáng tạo tri thức..............................................21
1.3.5. Thiết kế và triển khai hoạt động trong quản trị tri thức...............23
1.4. VÀI NÉT VỀ QUẢN TRỊ TRI THỨC TẠI VIỆT NAM.........................24
1.4.1. Thực tế quản trị tri thức tại Việt Nam trong thời gian qua..........24


1.4.2. Các hình thức ứng dụng công nghệ vào quản trị tri thức trong các
doanh nghiệp tại Việt Nam ..............................................................................26
1.4.3. Gợi ý ứng dụng thực tiễn cho các tổ chức, doanh nghiệp

Việt

Nam ................................................................................................................28
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ TRI THỨC TẠI TRƯỜNG
CAO ĐẲNG CNTT HỮU NGHỊ VIỆT-HÀN.............................................30
2.1. TỔNG QUAN VỀ TRƯỜNG CAO ĐẲNG CNTT HỮU NGHỊ VIỆTHÀN ................................................................................................................30
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của trường cao đẳng CNTT
hữu nghị Việt-Hàn............................................................................................30
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của trường cao đẳng CNTT hữu nghị Việt-Hàn.31
2.1.3. Chức năng các phòng ban............................................................33
2.1.4. Ngành nghề đào tạo của trường...................................................36
2.1.5. Nguồn nhân lực của trường .........................................................37
2.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ TRI THỨC TẠI TRƯỜNG
CAO ĐẲNG CNTT HỮU NGHỊ VIỆT-HÀN ................................................37
2.2.1. Xác định nhu cầu tri thức.............................................................37
2.2.2. Xác định chiến lược quản trị tri thức...........................................38
2.2.3. Nhận thức của các cán bộ, giảng viên trong trường đối với công

1.1

Sự phân biệt giữa tri thức hiện và tri thức ẩn

9

2.1

Cơ cấu nhân lực của trường theo trình độ chuyên môn

37


DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Số hiệu

Tên bảng

bảng

Trang

1.1

Từ dữ liệu tới tri thức

7

2.1


44

2.3
2.4
2.5

Trang Cổng thông tin đào tạo của trường CĐ CNTT hữu
nghị Việt-Hàn
Trang thông tin nội bộ của trường CĐ CNTT hữu nghị
Việt-Hàn
Trang diễn đàn sinh viên của trường CĐ CNTT hữu nghị
Việt-Hàn

45
46
47

3.1

Hình minh hoạ cho phần mềm quản lý sách tại thư viện

62

3.2

Hình minh hoạ cho thư viện điện tử

63

3.3


Hình minh hoạ về Blog cá nhân

68

3.9

Hình minh hoạ cho chức năng quản lý khoá học

69

3.10

Hình minh hoạ cho chức năng quản lý học viên đăng ký

69

3.11

Hình minh hoạ chức năng quản lý ngân hàng câu hỏi

70

3.12

Hình minh hoạ chức năng quản lý bài giảng

71

3.13

một cách hiệu quả. Trên thế giới vấn đề quản trị tri thức đã được nghiên cứu từ
rất lâu (đầu những năm 80 của thế kỷ XX) và cũng đã được áp dụng một cách
rộng rãi trên thế giới. Tại Việt Nam, vấn đề quản trị tri thức được đề cập đến một
cách mạnh mẽ vào khoảng năm 2007 nhưng cũng chưa được áp dụng một cách
phổ biến trong các tổ chức mà chủ yếu chỉ ở một số tổ chức kinh doanh dù rằng
mọi người biết đó là cần thiết trong xu thế quản trị hiện nay.
Cùng với sự đi lên của ngành giáo dục Việt Nam, trường Cao đẳng CNTT
Hữu nghị Việt – Hàn, một trường công lập trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền
thông đã có nhiều đóng góp to lớn trong công cuộc xây dựng và phát triển
ngành. Với mục tiêu trở thành trường đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông
tin cho khu vực miền Trung, trong quá trình xây dựng và phát triển, Trường có
những thành công và cũng có những hạn chế nhất định. Vì vậy Trường luôn cần
có sự đổi mới và hoàn thiện công tác quản trị nguồn lực đặc biệt công tác quản
trị tri thức, là việc làm hết sức cần thiết để cung cấp các tri thức cần thiết và tạo
lập một môi trường để mọi người có thể chia sẻ thông tin, tri thức với nhau thông
qua đó góp phần gia tăng tốc độ phát triển chung của trường.
Xuất phát từ thực tế đó, tác giả quyết định đi sâu nghiên cứu đề tài


2
“Quản trị tri thức tại trường Cao Đẳng CNTT Hữu nghị Việt – Hàn”
không những với mục đích làm luận văn tốt nghiệp cao học cho mình mà còn
với mong muốn góp phần giúp trường có những giải pháp có thể áp dụng vào
thực tế trong việc quản trị tri thức tại trường.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về Quản trị tri thức.
- Căn cứ vào chiến lược phát triển, những điều kiện thực tế khác tại
trường cùng với những hạn chế phân tích được từ thực trạng hoạt động quản
trị tri thức tại trường mà đưa ra những giải pháp cho hoạt động quản trị tri
thức để góp phần làm tốt hơn hoạt động quản trị tri thức tại trường, thông qua

nghị Việt – Hàn những thông tin sau:
Hệ thống hóa được một số vấn đề liên quan đến quản trị tri thức.
Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ là tài liệu tham khảo giúp hoàn thiện công
tác quản trị tri thức tại Trường Việt - Hàn.
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
- Trong tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội, Kinh tế và kinh
doanh, số 27 (2011) tr172-178, TS. Nguyễn Ngọc Thắng có bài “Quản trị dựa
vào tri thức: Kinh nghiệm từ Nhật Bản”. Bài viết đã nêu rõ Quản trị dựa vào
tri thức là lý thuyết quản trị hiện đại thể hiện quá trình năng động của sáng tạo
tri thức. Trong bài viết này, tác giả đã giới thiệu khuôn khổ của quá trình sáng
tạo tri thức này thông qua xem xét mô hình sáng tạo SECI và Ba, trong đó
minh họa quá trình chuyển đổi liên tục giữa tri thức ẩn, tri thức hiện và bối
cảnh của sáng tạo tri thức, đồng thời kiểm chứng vai trò quan trọng của quản
trị dựa vào tri thức tại các công ty Nhật Bản như Honda, Toyota, Eisai và
Canon. Bài viết cũng đưa ra một số gợi ý cho các doanh nghiệp Việt Nam
trong quá trình thực hiện quản trị dựa vào tri thức và nhận định đây vẫn là chủ
đề mở ra nhiều cơ hội cho các nghiên cứu khác tại Việt Nam trong tương lai.


4
- Nghiên cứu của Huei-Tse Hou (2012) “Nghiên cứu mới về Mô hình
quản trị tri thức và các phương pháp” đã làm rõ các mô hình quản lý kiến thức
và phương pháp thảo luận sâu hơn về vấn đề này. Nghiên cứu này đã cung
cấp các thông tin liên quan về xu hướng nghiên cứu mới trong nghiên cứu
quản trị tri thức toàn diện và mới lạ. Thông tin này sẽ phục vụ như là một
nguồn lực quan trọng cho các nhà nghiên cứu, giáo viên và học sinh và sự
phát triển của thực tiễn trong lĩnh vực quản lý kiến thức.
- Kavindra Mathi (2004) với đề tài “Các yếu tố thành công chính trong
quản trị tri thức” để hiểu rõ sự thành công quan trọng của quản trị tri thức phụ
thuộc rất nhiều vào chất lượng, số lượng của các khoản đóng góp đến hệ

việc hỗ trợ các tổ chức, các công ty quản trị tri thức.
- “Đôi điều về quản lý tri thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam” trên
diễn dàn 123.doc
- “Bước đi của giáo dục đại học Việt Nam trước ngưỡng cửa kinh tế tri
thức” trên diễn đàn mạng giáo dục
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo và phụ lục thì nội dung chính của
luận văn được trình bày trong 3 chương, đó là:
Ø Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản trị tri thức trong các doanh
nghiệp
Ø Chương 2: Thực trạng quản trị tri thức tại trường Cao đẳng CNTT
hữu nghị Việt – Hàn
Ø Chương 3: Giải pháp quản trị tri thức tại trường Cao đẳng CNTT hữu
nghị Việt – Hàn.


6
CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUẢN TRỊ TRI THỨC
TRONG CÁC TỔ CHỨC
1.1. TRI THỨC
1.1.1. Khái niệm tri thức
Trước đây, trong thực tế tồn tại khá nhiều các khái niệm về tri thức. Có
thể kể ra một số khái niệm như sau:
- Nhiều người theo chủ nghĩa thực chứng tin rằng tri thức là những
“niềm tin được chứng minh là đúng”(justified beliefs).
- Nonaka và Takeuchi (1995) chỉ ra rằng “tri thức là quá trình năng động
của con người trong việc minh chứng các niềm tin cá nhân với những “sự thật”.
Tuy nhiên, theo thời gian thì sự phát triển của nhận thức luận khoa học

8
kinh nghiệm và việc phán quyết hay ra quyết định. Để truyền tải thì đòi hỏi sự
học tập của người tiếp nhận tri thức. Như vậy nếu một thông tin giúp chúng ta
nhận thức và đưa ra quyết định thì là tri thức. Thông tin trở thành “đầu vào”
được nạp vào trong não, qua quá trình xử lý sẽ tạo ra tri thức. Nhưng quá trình
xử lý này với mỗi một cá nhân khác nhau sẽ cho ra những “đầu ra” khác nhau.
Có nghĩa là cùng một thông tin như vậy nhưng với mỗi cá nhân thì tri thức mà
anh ta nhận thức được sẽ khác với tri thức mà người khác nhận thức. Thông
tin là những dữ liệu được cấu trúc hóa được thể hiện ra ngoài và ai cũng có
thể tiếp cận. Nhưng tri thức thiên về những thông tin được cấu trúc hóa và cá
nhân hóa nằm trong mỗi con người cụ thể, do đó khả năng tiếp cận khó hơn
và sự thể hiện ra ngoài không phải lúc nào cũng chính xác.
Tri thức là những dữ liệu, thông tin được cấu trúc hóa, kiểm nghiệm và
sử dụng được vào một mục đích cụ thể tạo ra giá trị.
1.1.2. Phân loại tri thức
Chúng ta có thể chia tri thức làm 2 loại là tri thức hiện (explicit
knowledge) và tri thức ẩn (tacit knowledge).
- Tri thức hiện (explicit knowledge): Đây là những tri thức được giải
thích và mã hóa dưới dạng văn bản, tài liệu, âm thanh, phim, ảnh thông qua
ngôn ngữ có lời hoặc không lời, nguyên tắc hệ thống, chương trình máy tính,
chuẩn mực hay các phương tiện khác. Những tri thức có cấu trúc thường được
thể hiện ra ngoài và dễ dàng chuyển giao. Ví dụ như các tri thức về chuyên
môn được trình bày trong giáo trình, sách, báo, tạp chí… Những tri thức đã
được cấu trúc hóa thường là tri thức hiện.
- Tri thức ẩn (Tacit knowledge): Tri thức mà một người có được một
cách tự giác vô thức. Tri thức ẩn có thể không lý giải hay lập luận được bởi vì
(1) tri thức ẩn không được hiểu cặn kẽ, (2) nó quen thuộc, tự động và vượt
qua ý thức người sở hữu nó. Ví dụ như là bí quyết, niềm tin, kinh nghiệm, sự



Có thể lưu trữ

·

Có thể chuyển giao, truyền đạt

·

Được diễn đạt và chỉa sẻ một

cách dễ dàng

Nguồn

·

Mang tính cá nhân

·

Mang tính bối cảnh cụ thể

·

Khó khăn trong việc chính thức

hóa
·

Rất khó tiếp nhận, truyền đạt

No. 113, pp. 10.


10
Những tri thức ẩn là dạng tri thức nằm trong đầu con người. Nhiều người
cho rằng đây là phần lớn tri thức bên trong một tổ chức. Những gì mà con
người biết thì thường giá trị hơn là những gì được viết ra. Vì vậy tạo ra mối
liên hệ giữa người không biết và người biết là một khía cạnh hết sức quan
trọng của một tổ chức. Mục tiêu của quản trị tri thức là giúp chia sẻ những tri
thức ẩn bên trong một tổ chức sao cho mọi người đều có thể sử dụng những
kiến thức chuyên môn trong một lĩnh vực nhất định để giải quyết vấn đề cho
khách hàng và tạo nên những sản phẩm hiệu quả hơn. Ta có thể ví tri thức
trong mỗi con người và tổ chức giống như tảng băng trôi, nếu tri thức bộc lộ
là phần nổi thì tri thức ẩn là phần chìm.
Bên cạnh đó, trong quá trình phân tích quá trình chuyển đổi các tri thức
ẩn thành các tri thức hiện được hệ thống hoá, Nonaka và Takeuchi (1995) đã
nhận dạng bốn quá trình có quan hệ qua lại lẫn nhau theo đó tri thức luân
chuyển trong tổ chức và chuyển hoá thành những dạng khác nhau:
(1). Xã hội hoá: Qúa trình chia sẻ những kinh nghiệm và tạo ra những tri
thức ẩn;
(2). Sự ngoại hoá: Qúa trình kết nối các tri thức ẩn thành các khái niệm
rõ ràng;
(3). Kết hợp: Qúa trình phân loại và hội nhập thành các tri thức hiện;
(4). Sự tiếp thu: Qúa trình biến các tri thức hiện thành các tri thức ẩn.
Ngoài ra, hiện nay có một số quan điểm cho rằng ngoài hai loại tri thức là
tri thức hiện (explicit knowledge) và tri thức ẩn (tacit knowledge) thì còn có tri
thức tiềm năng (implicit knowledge). Tri thức tiềm năng (implicit knowledge)
hay còn gọi là potential knowledge là tri thức được chứa dưới dạng ngôn ngữ
có lời hoặc không lời, hành động (cả khi ghi hình hay thể hiện dưới dạng một
phần của hệ thống truyền thông), mạng lưới những bộ óc đã được đào tạo, tri

sáng tạo, cạnh tranh, và hoàn thiện” (Trung tâm Năng suất và Chất lượng Hoa


12
Kỳ - Trích dẫn bởi Serban và Luan).
- Theo Scarborough & cộng sự (1999) cho rằng: “Quản trị tri thức là bất
kỳ quá trình hoặc hoạt động của việc tạo ra, tiếp thu nắm bắt, chia sẻ và sử
dụng tri thức ở bất cứ nơi nào nó có để nâng cao việc học tập và hoạt động
trong tổ chức”.
McAdam và McGreedy (1999) đã chỉ ra rằng các định nghĩa về quản lý
tri thức thể hiện một miền rộng lớn từ những quan điểm có tính cơ giới (coi tri
thức là tài sản) tới quan điểm thiên về định hướng xã hội (tri thức được tạo ra
trong tổ chức thông qua những quan hệ xã hội). Các định nghĩa về quản lý tri
thức thể hiện nổi bật các đặc tính sau:
§ Quản trị tri thức là một lĩnh vực có liên quan chặt chẽ với lý luận và
thực tiễn, và là một lĩnh vực mang tính đa ngành đa lĩnh vực;
§ Quản trị tri thức không phải là công nghệ thông tin, những tiến bộ trong
công nghệ thông tin hỗ trợ cho việc này tốt hơn mà thôi;
§ Những vấn đề của con người và học tập là điểm trung tâm của quản lý
tri thức.
Trên cơ sở tổng kết các định nghĩa khác nhau về quản trị tri thức, ta có
thể thấy rằng: Quản trị tri thức là “bất kỳ quá trình hoặc hoạt động tạo lập,
tiếp thu, lưu trữ, chia sẻ và sử dụng kiến thức ở bất kỳ nơi nào có thể, nhằm
tăng cường sự học tập và thành tích trong tổ chức” (Scarborough và các đồng
nghiệp, 1999).
1.2.2. Tầm quan trọng của quản trị tri thức
- Bằng cách thể hiện tri thức qua viết tài liệu, trao đổi… để hoàn thiện hệ
thống tài liệu và kho cơ sở tri thức chung của tổ chức;
- Bằng cách chuyển giao tri thức, các nhà quản trị nguồn nhân lực sẽ chia
sẻ, hướng dẫn cho cấp dưới thúc đẩy yếu tố tự học và tổ chức học tập suốt đời

ban và có thể từ nhiều cấp khác nhau. Các tổ chức thường cố gắng thiết lập


14
các mối quan hệ tốt đẹp giữa các thành viên trong từng đội, nhóm và cả giữa
các nhóm và khuyến khích sự chia sẻ giữa mọi người.
- Quy trình: Sự cứng nhắc hay linh hoạt về các thủ tục hành chính, phát
triển các quy trình thực hiện, các biểu mẫu trong việc chia sẻ thông tin, các
kho lưu trữ thông tin, sự khuyến khích về thu nhập, và thực hiện nhiều việc
khác có ảnh hưởng đến luồng thông tin trong tổ chức.
- Hệ thống công nghệ và thông tin: Hệ thống công nghệ và thông tin sẽ
hỗ trợ cho tổ chức trong việc thực hiện các hoạt động quản trị tri thức. Tuỳ
thuộc vào đặc điểm của tổ chức, chiến lược quản trị tri thức của tổ chức đang
theo đuổi mà các tổ chức sẽ có sự lựa chọn và thiết kế hệ thống công nghệ và
thông tin cho phù hợp.
Quản lý tri thức nhất thiết phải gắn liền với các quá trình kinh doanh cốt
lõi của doanh nghiệp. Tri thức cần tập trung vào cải tiến và đổi mới các quá
trình nghiên cứu triển khai sản phẩm mới, quá trình sản xuất, kinh doanh và
bán hàng. Công nghệ thông tin bao gồm cả phần cứng và phần mềm có vai trò
cũng rất quan trọng trong quản lý tri thức, nó là công cụ để lưu trữ, chuyên
chở, chia sẻ tri thức và quá đó tăng cường khả năng đóng góp của tri thức cho
phát triển. Tuy nhiên, từ thực tế cũng cho thấy doanh nghiệp cần cân nhắc kỹ
lưỡng về nhu cầu ứng dụng công nghệ thông tin để đầu tư cho phù hợp với
nhu cầu và trình độ sử dụng.
1.3. NỘI DUNG CỦA QUẢN TRỊ TRI THỨC
1.3.1. Xác định nhu cầu tri thức
v Xuất phát từ nhu cầu nhân sự
Từ khía cạnh nhân sự, những nhu cầu về việc tăng cường trao đổi, chia
sẻ và sáng tạo trong các nhóm hoạt động gồm nhiều lĩnh vực khác nhau là
một trong những lý do chính dẫn tới việc xây dựng quản trị tri thức. Bên cạnh

Ngoài ra, trong thời đại kinh tế cạnh tranh khốc liệt hiện nay, đòi hỏi về


16
kĩ năng và khả năng ra quyết định của nhân viên ngày càng cao hơn. Ngày
nay, thời gian chính là yếu tố cạnh tranh quyết định giữa mọi công ty. Bạn có
thể phải đối mặt với những thay đổi, những sáng tạo bất ngờ từ phía đối thủ,
sự chuyển dịch mạnh mẽ của thị trường không ổn định. Công ty của bạn rất
có thể sẽ không bắt kịp được những bước tiến của môi trường bên ngoài. Vì
vậy, việc phản ứng và ra quyết định trước một tình huống của nhân viên cần
phải không những chính xác mà còn phải càng nhanh càng tốt. Điều này đòi
hỏi trình độ tri thức của nhân viên phải cao hơn và thông tin phải được cung
cấp nhanh chóng, chính xác hơn. Nếu quản trị tri thức tốt, bạn hoàn toàn có
thể giải quyết được những vấn đề này.
v Xuất phát từ nhu cầu kinh tế
Tri thức càng sử dụng nhiều thì càng tăng giá trị. Tri thức là biến số duy
nhất lý giải nguyên nhân có một khoảng cách ngày càng lớn giữa giá trị thị
trường và cơ sở tài sản của một công ty thành đạt. Không như các tài nguyên
có giới hạn như đất, vốn, và nhân công, tài sản tri thức và trí tuệ là những
nguồn tài nguyên không giới hạn có thể sinh ra nhiều lợi nhuận qua hệ thống
sử dụng và ứng dụng chúng. Tri thức rộng giúp bạn có cái nhìn đa chiều về
cùng một hiện tượng, một biến đổi bất thường trên thị trường. Từ đó vừa có
khả năng chống đỡ, vừa có lợi thế cạnh tranh so với đối thủ. Muốn có được
điều này, các doanh nghiệp bắt buộc phải không ngừng sáng tạo, sáng tạo
không ngừng nghỉ để bắt kịp với xu thế chung của thời đại. Cứ như thế tri
thức ngày càng gia tăng.
Quản trị tri thức mang đến cơ hội duy nhất biến tri thức thành hệ thống
giúp công ty của bạn tạo ra lợi thế về thời gian giữ cho sự cạnh tranh được
liên tục, tạo ra giá trị kinh tế và giá trị thị trường không thể chối cãi được.
v Công nghệ và nhu cầu về một hệ thống quản trị tri thức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status