m
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
BHQGttỉi
BÁO CÁO TỒNG HỢP
ĐÈ TÀI KH&CN
CẤP ĐẠI HỌC QUÓC GIA
Đề tài
XÃ HỘI HÓA NGHỀ NGHIỆP VÀ x u HƯỚNG
VIỆC LÀM CỦA SINH VIEN TỐT NGHIỆP
CÁC NGÀNH KHOA HỌC XÃ HỘI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Mã số để tài: QG.l^t.36
Chủ nhiệm đề tài: PGS TS Phạm Văn Quyết
Hà Nội, 2017
m
m
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐÊ TÀI KH&CN
CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA
Đề tài
Cựu SINH VIÊN KHOA HỌC XÃ H Ộ I....................... 12
QIA CÁC NGHIÊN c ứ u ...................................................................................... 12
1.1 Các xu hướng nghiên cứu về xã hội hóa nghề nghiệp.................................... 12
1.2 Nghiên cứu về đào tạo nghề nghiệp và nhu cầu xã hội của lao động nghề
nghệp.......................................................................................................................... 18
1.3 Nghiên cứu về vấn đề xu hướng việc làm và việc làm của sinh viên tốt
nghệp các ngành khoa học xã hội............................................................................ 23
1.4 Luận cứ về sự cần thiết, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của vấn đề................... 30
1
Chương 2. XÃ HỘI HÓA NGHỀ NGHIÊP - c ơ SỞ LÝ THUYẾT CHO
NGHIÊN CỨU XU HƯỚNG VIỆC LÀM CỦA c ự u SINH VIÊN KHOA
HỌC XÃ HỘI............................................................................................................32
2.1. Các khái niệm cơ sở........................................................................................... 32
2.1.1. Xã hội h ó a ...................................................................................................... 32
2.1.2. Nghề nghiệp.................................................................................................... 36
2.1.3. Việc làm...........................................................................................................39
2.1.4. Xã hội hóa nghề nghiệp................................................................................. 42
2.1.5. Khoa học xã hội và đào tạo các ngành khoa học xã h ộ i............................43
2.2. Các quan điểm lý thuyết về xã hội hóa.............................................................47
2.2.1. Xã hội hóa với sự hình thành và phát triển của con người và xã hội...... 49
2.2.2. Các chiều cạnh cơ bản trong các nghiên cứu xã hội hoả........................... 51
2.2.3. Điều kiện tất yếu của xã hội hoá...................................................................54
2.3. Một số quan điểm lý thuyết về xã hội hóa nghề nghiệp................................59
2.3.1. Các hướng tiếp cận trong nghiên cứu về xã hội hóa nghề nghiệp............ 59
2.3.2. Phân đoạn trong quá trình xã hội hóa nghề nghiệp....................................65
Chương 3: x u HƯỚNG VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN TỐT NGHIỆP CÁC
4.2. Mức độ đáp ứng yêu cầu của việc làm.............................................................113
4.2.1. Đáp ímg với yêu cầu của việc làm từ ý kiến đánh giá của cựu sinh viênỉ 13
4.2.2. Các yếu tổ tác động đến mức độ đáp ứng về kiến thức, kỹ năng với công
việc hiện tại................................................................................................................ 117
4.3. Thích ứng với việc làm của cựu sinh viên khoa học xã h ộ i......................... 122
4.3.1. Thích ứng với việc làm từ ý kiến đánh giá của cựu sinh viên.................122
4.3.2. Tác động của một sổ yếu tổ đến thích ứng với môi trường làm việc của
cựu sinh viên khoa học xã hội.................................................................................. 127
KẾT LUẬN................................................................................................................135
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM K H Ả O ............................................................... 139
3
MỎ ĐẦU
1. Đăt vấn đề
Vào nhũng thập niên cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, thế giới đã có
những biến đổi to lớn và sâu sắc, ảnh hưởng toàn diện và mạnh mẽ đến mọi mặt
đời sống xã hội của mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Cuộc cách mạng khoa
học công nghệ 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, làm
chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế và biến đổi sâu sắc các lĩnh vực của đời sống
xã hội. Tri thức và sở hữu trí tuệ có vai trò ngày càng quan trọng. Kinh tế tri
thức phát triển mạnh, do đó con người và tri thức càng trở thành nhân tố quyết
định sự phát triển của mỗi quốc gia.
Quá trình quốc tế hoá sản xuất và phân công lao động diễn ra ngày càng
sâu rộng; toàn cầu hóa kinh tế tiếp tục phát triển về quy mô, mức độ và hình
thức biểu hiện với nhữmg tác động tích cực và tiêu cực, cơ hội và thách thức đan
xen. Bên cạnh đó cũng hình thành và mạnh lên một xu hướng khác-xu hướng
của chủ nghĩa dân tộc làm cho các quan hệ giữa các quốc gia, các dân tộc ngày
nhấ là từ phương diện đào tạo nghề nghiệp và việc làm của người học đang là
một thực tế đáng lo ngại.
Ở góc độ đào tạo nghề nghiệp, lần mở các trang báo hàng ngày chúng ta dễ
dàn' bắt gặp những cụm từ liên quan như đào tạo các ngành khoa học xã hội
đanr bị “lép vế”, đang “bị ế”, “báo động đỏ về đào tạo các ngành khoa học xã
hội /à nhân văn và cần “cấp cứu ngành khoa học xã hội và nhân văn”, phải “cơ
cấu ại”, định dạng lại vị trí của ngành; khoa học xã hội đang rất “thiếu thày giỏi
có tim huyết”, không thu hút được sinh viên giỏi vào học v.v.
Số liệu thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cũng như các số liệu về
tuyèi sinh của các Trường Đại học có đào tạo các ngành khoa học xã hội đều
cho thấy sổ thí sinh đăng ký dự thi vào các ngành khoa học xã hội đang giảm
dần [heo từng năm, số học sinh theo học ban khoa học xã hội trên cả nước giảm
dần.năm học 2006-2007 có 6,41% thì 2 năm sau chỉ còn 2% và mức này dường
như được duy trì cho đến những năm gần đây. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn
đến tình trạng trên, song nguyên nhân quan trọng nhất là sinh viên khoa học xã
hội ìhi đào tạo ở trường đại học thì vất vả nhưng ra trường rất khó xin được việc
làm hoặc xin được việc làm nhưng lại không phù họp với chuyên môn đào tạo
5
và thường có thu nhập thấp, mức lương không đủ đáp ứng cuộc sống nơi đô thị
(http://www. xaluan. com/).
Ở góc độ việc làm và thực hiện nghề nghiệp, khá nhiều số liệu thống kê về
tình trạng việc làm của sinh viên tốt nghiệp các ngành khoa học xã hội được
công bố và nhiều trong số đó chỉ ra thực tế sinh viên tốt nghiệp ra trường đều có
thể kiếm được việc làm, nhưng số kiếm được việc làm phù hợp với lĩnh vực
được đào tạo không cao, thậm chí nhiều người làm việc ở những ngành nghề trái
ngược với lĩnh vực được đào tạo. Trong kết quả khảo sát cựu sinh viên khóa
QH-2007-X của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc
gia Hà Nội) tháng 10/2011 cũng cho thấy trong số 1559 người được hỏi chỉ có
với số sinh viên tốt nghiệp các ngành khoa học xã hội nhân văn ở Hà Nội và
Thènh phố Hồ Chí Minh trong 4 năm gần đây.
2.3. Phạm vi nội dung
Xã hội hóa nghề nghiệp là một phần, một giai đoạn đặc biệt của quá trình
xã hội hóa cá nhân, gắn với gần như suốt giai đoạn trưởng thành, giai đoạn lao
độr.g nghề nghiệp của con người để sản xuất ra các giá trị vật chất và tinh thần
của xã hội. Với đa số mọi người, quá trình xã hội hóa nghề nghiệp cũng có thể
tạrr tách ra làm hai phân đoạn: Phân đoạn chuẩn bị nghề nghiệp và phân đoạn
thự; hiện nghề nghiệp. Điều này được thế hiện rõ nét qua quá trình xã hội hóa
ngtề nghiệp của các cựu sinh viên các trường đại học.
Trong nghiên cứu này, bên cạnh việc khái quát các quan điểm lý thuyết về
xã lội hóa nghề nghiệp, việc phân tích kểt quả nghiên cứu thực nghiệm sẽ đặt
trọig tâm xem xét những vấn đề xã hội hóa nghề nghiệp của các cựu sinh viên
ngmh khoa học xã hội trong quá trình thực hiện nghề nghiệp. Tất nhiên quá
trìrh này không thể tách rời khỏi quá trình chuẩn bị nghề nghiệp, vì vậy, ở một
số lội dung phân tích việc thực hiện nghề nghiệp có thể được xem như kết quả
tất yếu của quá trình chuẩn bị nghề nghiệp và ở góc độ nào đó sẽ có những tác
độrg nhất định đến quá trình chuẩn bị nghề nghiệp.
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở khái quát, đánh giá các quan điểm lý thuyết về xã hội hóa cá
nhìn, về nội dung, đặc trưng của quá trình xã hội hóa nghề nghiệp, nghiên cứu
hưmg đến phân tích thực trạng xu hướng việc làm cũng như các yếu tố ảnh
7
huỏng đến xu hướng việc làm của cựu sinh viên; từ đó gợi ý các chính sách cho
vắn đề đào tạo và sự thích ứng với việc làm của đội ngũ trí thức trẻ thuộc lĩnh
vục khoa học xã hội.
ngliệp các ngành khoa học xã hội. Khi xem xét xu hướng việc làm của sinh viên
tốt nghiệp các ngành khoa học xã hội và các yếu tố ảnh hưởng, đề tài cũng rất
quai tâm phân tích vấn đề ở góc độ tâm lý học, tâm lý xã hội và giáo dục học.
4.2. Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng
8
Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong trong đề tài:
- Các phương pháp định tính như phân tích tài liệu, quan sát tự do, phỏng
vàn sâu, trao đổi, thảo luận với các chuyên gia nhằm tìm kiếm các thông tin để
giải quyết các nội dung nghiên cứu lý thuyết và một số nội dung cần thông tin
định tính của đề tài liên quan đến những vấn đề về xã hội hóa, xã hội hóa nghề
nghiệp, đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội và khung lý thuyết về các quan hệ giữa
các vấn đề nghiên cứu, đặc biệt quan hệ giữa quá trình xã hội hóa nghề nghiệp
của cựu sinh viên các ngành khoa học xã hội xã hội tại với vấn đề việc làm, xu
hướng việc làm của họ. Các phương pháp định tính còn giúp khám phá, phát
hiện những chiều cạnh, những yếu tố trong quá trình chuẩn bị nghề nghiệp của
cựu sinh viên khoa học xã hội với xu hướng việc làm của họ, cũng như việc tìm
kiếm, sự thích ứng với công việc và mức thu nhập của họ... Các phương pháp
này cũng giúp để nhóm nghiên cứu hiểu sâu, hiểu kỹ hon vấn đề khi tiến hành
các công việc thiết kế nghiên cứu, hoặc lý giải bản chất vấn đề khi giải quyết
chúng.
- Các phương pháp định lượng như thống kế, tập họp các số liệu từ các
điều tra trước đó về vấn đề liên quan đến đề tài. Đặc biệt đề tài sẽ tiến hành điều
tra chọn mẫu bằng bảng hỏi định lượng với các sinh viên đã tốt nghiệp các
ngành khoa học xã hội thuộc một số trường đại học đào tạo khoa học xã hội ở
Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh hiện đang công tác tại 2 thành phố trên và
các vùng lân cận. Các phương pháp định lượng giúp giải quyết phần lớn các nội
dung liên quan đến xu hướng việc làm và mối quan hệ của việc làm với vấn đề
đào tạo, sự thích ứng với công việc, sự hài lòng với công việc, thu nhập, việc
Sô lượng
Tỷ lệ %
2014
324
54,0
2013
102
17,0
2012
86
14,3
2011
88
14,7
KHXH&NV-HN
23
3,8
Khá
407
67,9
Giỏi
162
27,0
8
1,3
Có việc làm
531
88,5
Chưa có việc làm
69
11
Chưong 1. XÃ HỘI HÓA NGHÊ NGHIỆP VÀ x u HƯỚNG
NGHÊ NGHIỆP
CỦA c ự• u SINH VIÊN KHOA HỌC
XÃ HỘI
•
•
•
QUA CÁC NGHIÊN c ử u
1.1.
Các xu hướng nghiên cứu về xã hội hóa nghề nghiệp
Nghiên cứu xã hội hóa nghề nghiệp như một tiến trình trong xã hội cá
nhàn
Như đã biết xã hội hóa không phải là quá trình một chiều với sự tác động
của cá nhân vào xã hội hoặc sự tác động của xã hội vào cá nhân, mà nó là quá
trình có tính hai chiều, là sự tương tác qua lại giữa cá nhân và xã hội. Trong quá
trình đó, mỗi cá nhân đều là những người tham gia tích cực vào quá trình xã hội
hóa bản thân. Với việc học hỏi không ngừng để nâng cao hiểu biết về các quy
tắc Kã hội, tích lũy những kinh nghiệm, cá nhân dần tiến tới hình thành các niềm
tin và giá trị văn hóa cho bản thân.
Theo Nguyễn Quý Thanh (1999), tác giả G. Andreeva đã chia quá trình xã
hội hóa cá nhân thành 3 giai đoạn chính: Giai đoạn trước lao động, tính từ khi
cá riiân sinh ra đến khi họ bắt đầu có hoạt động lao động chính thức, nó bao
gồrr. cả tiểu giai đoạn, trong đó cá nhân tham gia các lớp đào tạo nghề nghiệp tại
các trường dạy nghề, trường cao đẳng hay đại học; giai đoạn lao động, tính từ
tế và những mong đợi của mình đối với môi trường làm việc tương lai dựa trên
những kinh nghiệm của bản thân và những giá trị cá nhân.
Giai đoạn 2: Giai đoạn làm quen, tương thích: Cá nhân bước vào các cơ
qum, tổ chức nghề nghiệp, chuyển từ vị trí “người ngoài” sang vị trí “người mới
vào”. Trong giai đoạn này cá nhân trải nghiệm và phải vượt qua sự chênh lệch
giũa mong đợi của cá nhân với thực tế của công việc và tổ chức. Cá nhân phải
giả quyết hàng loạt công việc để làm quen, để hội nhập vào môi trường lao
độrg mới. Đầu tiên là học hỏi để làm chủ nhiệm vụ được giao, tiếp đến là hoàn
thién kỹ năng theo mô hình hành vi phù hợp với vị trí nghề nghiệp của cá nhân,
đồrg thời cũng xây dựng và duy trì mối quan hệ hài hòa với đồng nghiệp, thích
ứng với các giá trị của tổ chức lao động nghề nghiệp. Trong quá trình làm quen
với môi trường mới, cá nhân sẽ được tổ chức trợ giúp bằng những chiến lược
địrii hướng nghề, đào tạo nghề cụ thể.
Giai đoạn 3: Giai đoạn thực hiện vai trò hay giai đoạn chấp nhận lẫn nhau
hoic là giai đoạn thích ứng (cách gọi của các tác giả khác nhau). Giai đoạn này
chc thấy sự hòa nhập nghề nghiệp của cá nhân. Lúc này, cá nhân phải giải quyết
nhíng mâu thuẫn và do dự bằng việc chứng tỏ một sự đồng nhất về mặt nghề
ngaiệp phù hợp với chuẩn mực, yêu cầu của tổ chức.
Trên cơ sở sự phân đoạn tiến trình xã hội hóa tổ chức của Feldman (1976),
Bù Thị Hồng Thái và Trần Thị Minh Đức (2014) đã phân tích 3 giai đoạn của
13
quá trình năm băt hành vi nghê nghiệp của nhóm nữ trí thức trẻ ở Việt Nam. Đó
là giai đoạn tiền xã hội hóa, giai đoạn điều tiết và giai đoạn làm chủ vai trò.
Cách nhìn trên phần nào cho thấy sự phù họp với quan điểm của Andreeva
troing phân đoạn tiến trình xã hội hóa cá nhân dựa trên quá trình tham gia hoạt
động lao động của con người, khi nói đến tiểu giai đoạn giáo dục nghề nghiệp
trong giai đoạn trước lao động và việc thực hành nghề nghiệp trong giai đoạn
lao động. Với việc phân chia 3 giai đoạn của quá trình xã hội hóa nghề nghiệp
gồm trong định nghĩa của chúng ta về xã hội hoá nghề nghiệp, bởi vì nó sự
chuẩn bị trực tiếp của mỗi các nhân cho công việc. Các hoạt động chuẩn bị gián
tiếp trong trường học và gia đình không nên có trong định nghĩa xã hội hoá nghề
nghiệp.
Bên cạnh đó, từ định nghĩa xã hội hóa nghề nghiệp, Frese (1982) đã chỉ ra
việc phản ứng đối với nơi làm việc phụ thuộc phần nào vào tính cách. Mặt khác,
tính cách không phải là cái gì đó tĩnh nhưng lại chịu ảnh hưởng của tình hình
công việc. Thuật ngữ "nhân cách" trong cuộc thảo luận này về xã hội hóa nghề
nghiệp được sử dụng theo nghĩa rộng, bao gồm các giá trị tương đối bền vững,
khuynh hướng hành vi tổng quát, các giản đồ và phản ímg xúc cảm. Do đó,
Frese đã đề cập đến sự ảnh hưởng của công việc đến một số các lĩnh vực như
ảnh hưởng đối với các hoạt động của cá nhân, đối với nhận thức và với cảm xúc
của cá nhân.
Nghiên cứu xã hội hóa nghề nghiệp từ góc độ xã hội hóa tổ chức
Đào tạo, nắm bắt và phát triển nghề nghiệp của mỗi cá nhân được thực hiện
bởi các thiết chế và các tổ chức lao động xã hội nghề nghiệp. Ở góc độ khác, các
cá nhân được xã hội tổ chức đào tạo cách thức làm việc để hoàn thành vai trò lao
động của mình. Theo hướng này một số tác giả xem xã hội hóa nghề nghiệp
dưci góc độ xã hội hóa tổ chức (Perrot, 2005; Van Maanen, 1976 và Van
Maanen & Schein, 1979; Zeichner, 1979; Lee & Curtner-Smith, 2011; Graber,
1991; Schempp & Graber, 1992; Bùi Thị Hồng Thái và Trần Thị Minh Đức,
20114...)
Perrot (2005) cho rằng: “Xã hội hóa tổ chức là quá trình cá nhân học tập
nhũng cách thức làm việc, được chỉ bảo về những gì được cho ỉà quan trọng
trong tổ chức nói chung và trong nhóm làm việc mà mình thuộc về nói
rỉêrg”Ợ\\QO Bùi Thị Hồng Thái và Trần Thị Minh Đức, 2014). Như vậy, xã hội
16
hóa tổ chức là quá trình tổ chức đào tạo, huấn luyện cho cá nhân về vai trò nghề
J
J
7 ^ Ọ c q u ọ c g ia h a n ọ ì 1
j g U N 6 J ÂM IHÒNG TIN ĨHƯVỊẸN
. . vwC:
(ũnnnnMỈ
17
(Schempp & Graber, 1992). Ngoài ra, vì các cá nhân thường không có quyền lực
để thách thức các cơ cấu tổ chức, chẳng hạn như các quy tắc chi phối các
chirơng trình giáo dục công lập hoặc trường công. Vào lúc đó, họ buộc phải sử
dụng các chiến thuật bí mật để đòi lại quyền lợi và chống lại xã hội hóa (Lee &
Curtner-Smith, 1997, Graber, 1991).
Ở Việt Nam, trên cơ sở tiếp cận xã hội hóa nghề nghiệp từ góc độ xã hội
hóa tổ chức và sự phân đoạn tiến trình xã hội hóa tổ chức của Feldman (1976),
Bùi Thị Hồng Thái và Trần Thị Minh Đức (2014) đã tiến hành phân tích xu
hướng hành vi nghề nghiệp, sự thích ứng vai trò trong tổ chức lao động nghề
nghiệp của nhóm trí thức trẻ và đã chỉ ra rằng nhóm nữ trí thức làm việc trong
cơ quan Nhà nước có thời gian thích ứng với công việc kéo dài, có xu hướng
làm một lúc nhiều công việc cho nhiều nơi khác nhau và mất nhiều thời gian để
làm chủ công việc của mình. Còn đối với nhóm nữ trí thức làm việc cho các đơn
vị tu nhân hoặc liên doanh, có xu hướng tự xin việc dựa vào khả năng của bản
thân và có thời gian thích ứng với công việc ngắn. Họ là những người đã từng
trải Ighiệm về những thay đổi về công việc trong quá khứ và có xu hướng thay
đổi (ông việc trong tương lai, Họ được xã hội hóa trong môi trường lao động đòi
hỏi ạr phấn đấu cao về bền bỉ nên họ thường sớm phát triển về nghề nghiệp.
Peter Goodhevv (2010), Zha Jianzhong (2008) và nhiều nhà tác giả khác đã giới
thiệu về tiếp cận CDIO, lợi ích của tiếp cận này khi áp dụng nó cho các trường
đại học.
Thực chất CDIO (Conceive - hình thành ý tưởng; Design - thiết kế ý
tưởng; Implement - thực hiện; Operate - vận hành) là một giải pháp nâng cao
chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu xã hội trên cơ sở xác định chuẩn đầu ra
(CĐR) để thiết kế chương trình và phương pháp đào tạo theo một quy trình khoa
học. CDIO là một sáng kiến mới cho giáo dục, là một hệ thống các phương pháp
và hình thức tích lũy tri thức, kỹ năng trong việc đào tạo sinh viển để đáp ứng
yêu cầu của doanh nghiệp và xã hội. Quy trình này được xây dựng một cách
khca học, hợp lý, logic và về phương pháp tổng thể, có thể áp dụng để xây dựng
qu) trình chuẩn cho nhiều lĩnh vực đào tạo khác nhau ngoài ngành kỹ sư (với
nhũng sự điều chỉnh, bổ sung cần thiết), trong đó có khối ngành khoa học xã
hội, kinh tế....
Việc tiếp cận theo phương pháp CDIO sẽ đem lại các lợi ích sau:
Đào tạo theo cách tiếp cận CDIO gắn với nhu cầu của người tuyến dụng, từ
đó giúp thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo của nhà trường và yêu cầu của nhà sử
dụrg nguồn nhân lực;
19
Đào tạo theo cách tiếp cận CDIO sẽ giúp người học phát triển toàn diện với
cá; “kỹ năng cứng” và “kỹ năng mềm” để nhanh chóng thích ứng với môi
truòng làm việc luôn thay đổi;
Đào tạo theo cách tiếp cận CDIO sẽ giúp các chương trình đào tạo được
xâỵ dựng và thiết kế theo một quy trình chuẩn. Các công đoạn của quá trình đào
tạc sẽ có tính liên thông và gắn kết chặt chẽ;
Cách tiếp cận CDIO là cách tiếp cận phát triển, gắn phát triển chương trình
vớ’ ;huyển tải và đánh giá hiệu quả giáo dục đại học, góp phần nâng cao chất
lượr.g giáo dục đại học lên một tầm cao mới.
trọng trong việc nâng cao chất lượng, thực hiện đổi mới giáo dục đại học. Tác
già Mguyễn Công Khanh (2010) đã có một số phát hiện từ kết quả khảo sát sinh
viên đại học sư phạm Hà Nội tốt nghiệp năm 2009 cho thấy mức độ đáp ứng nhu
cầu xã hội chưa cao. Quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại
học của tác giả Đào Trọng Thi (2011), tác giả Nguyễn Thị Tuyết Chinh (2011)
cho rằng “Đào tạo theo nhu cầu xã hội” là bước đột phá để nâng cao chất lượng
giác dục. Sự hợp tác giữa cơ sở giáo dục và nhà tuyển dụng rất cần thiết trong
việc đào tạo theo nhu cầu xã hội, sự họp tác này sẽ giúp các cơ sở đào tạo nắm
bắt lược yêu cầu của người sử dụng lao động cần gì? Nên đào tạo như thế nào
để cáp ứng nhu cầu xã hội thì một số trường đại học cần phải thay đổi chương
trìní đào tạo.
Mục tiêu đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục là nâng cao chất lượng đào
tạo
hoặc đánh giá phần nào mức độ đáp ứng của sinh viên tốt nghiệp so với yêu cầu
của thị trường lao động. Những vấn đề liên quan đến sự thích ứng của cựu người
học và tác động của quá trình thực hiện nghề nghiệp đến quá trình đào tạo nghề
nghiệp chưa được quan tâm và khai thác nhiều từ các nhà nghiên cứu.
1.3.
Nghiên cứu về vấn đề xu hướng việc làm và việc làm của sinh viên
tốt nghiệp các ngành khoa học xã hội
Nghiên cứu về yêu cầu của thị trường lao động và khả năng làm việc của
sinh viên tốt nghiệp
ở thế kỷ XX, các công trình nghiên cứu về vấn đề việc làm đối với sinh
viên tốt nghiệp đa số liên quan đến các kỹ năng sống và làm việc. Katz (1974)
đã đưa ra 3 yêu cầu cần thiết đối với sinh viên tốt nghiệp là: Kỹ năng sử dụng
phương tiện kỹ thuật, kỹ năng quan hệ giao tiếp trong công việc và kiến thức cơ
bản đạt được ở sinh viên tốt nghiệp. Tác giả Analoui (1993) đã bổ sung thêm 3
kỹ r.ăng mà thị trường lao động quan tâm ở sinh viên tốt nghiệp là: kỹ năng quan
hệ hợp tác trong công việc, kỹ năng thu thập thông tin và kỹ năng phân tích giải
quyết công việc. Cùng quan điểm trên, 2 tác giả Carmichael và Routledge
(19°3) cho rằng môi trường làm việc mang tính cạnh tranh khá cao nên ngoài
khả năng giao tiếp thì bản thân sinh viên tốt nghiệp phải cần có kỹ năng cạnh
tranh và kiểm soát, động cơ làm việc và đặc biệt phải có kỹ năng đổi mới suy
ngK hợp lý để phù hợp với những thay đổi của thực tế. Năm 2012, tác giả
Kunpikaitẻ và Ribeiro đã kế thừa và tổng hợp các nghiên cứu kỹ năng cần thiết
cho sinh viên tốt nghiệp từ các tác giả trên.
Năm 2011, tác giả Nguyễn Thế Dũng và Trần Thanh Tòng đã tiến hành
ngiiên cứu các yêu cầu của thị trường lao động đối với sinh viên tốt nghiệp ở
V iệ Nam ngành Quản lý kinh tế. Kết quả của nghiên cứu cho thấy người sử
dụm* lao động kì vọng sinh viên tốt nghiệp ngành quản lý/kinh tế có tổng cộng
17 tỹ năng cần thiết được chia thành 3 nhóm chính: Nhóm kỹ năng cơ bản;
chuản bị nghề nghiệp, việc thúc đẩy khả năng làm việc của sinh viên tốt nghiệp
còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác liên quan đến môi trường làm việc. Fugate
và các cộng sự (2008) đã đưa mô hình lý thuyết về khả năng làm việc (CPS)
đượ; xác định bởi các yếu tố (hình 1.1) sau: Bản sắc nghề nghiệp (Career
idertity) - Thích ứng cá nhân (Personal adaptability) - v ố n hiểu biết về xã hội
và con người (Social and human Capital).
24