Thực trạng và xu hướng phát triển của loại hình kinh doanh siêu thị trung tâm thương mại tại việt nam hiện nay - Pdf 31

Môn: Quản trị bán lẻ

nhóm 8

Tiểu luận
Thực trạng và xu hướng phát triển của
loại hình kinh doanh siêu thị - trung
tâm thương mại tại Việt Nam hiện nay

1


Môn: Quản trị bán lẻ

nhóm 8

Lời mở đầu

Trong điều kiện xã hội của Việt Nam hiện nay, khi mà nền kinh tế ngày càng được
phát triển; đời sống của người dân thì ngày càng được cải thiện tốt hơn.Cùng với đó là sự
phát triển nhu cầu tiêu dùng của người dân cả về mặt số lượng và chất lượng. Khi quan
niệm tiêu dùng hàng hóa của người dân có sự thay đổi thì kéo theo đó là sự thay đổi của
các loại hình kinh doanh trên thị trường bán lẻ.
Như chúng ta đã biết, các loại hình kinh doanh bán lẻ truyền thống luôn có tỷ trọng
rất lớn trên thị trường bán lẻ tại Việt Nam. Tuy nhiên cùng với sự thay đổi của quan
niệm tiêu dùng hàng hóa của người dân mà một loại hình kinh doanh bán lẻ khác đang rất
được phổ biến và phát triển đó chính là loại hình kinh doanh siêu thị - trung tâm thương
mại.
Trong những năm gần đây, loại hình kinh doanh siêu thị - trung tâm thương mại dần
chiếm lĩnh tỷ trọng lớn và có xu hướng tăng cao trong thị trường bán lẻ tại Việt Nam. Để
làm rõ điều này, nhóm chúng em xin được tìm hiểu và trình bày đề tài “ thực trạng và xu

yếu là hàng thực phẩm và vận dụng gia đình…”.
Tóm lại, với nhiều định nghĩa khác nhau nhưng vẫn có thể nhìn ra siêu thị với
những dấu hiệu như: dạng cửa hàng bán lẻ; áp dụng phương thức tự phục vụ; hàng hóa
tiêu dùng phổ biến. Và ở Việt Nam, siêu thị đã được định nghĩa một cách cụ thể hóa trong
“quy chế siêu thị, trung tâm thương mại” được ban hành ngày 24/09/2004 như sau:
“Siêu thị là loại hình cửa hàng hiện đại; kinh doanh tồng hợp hoặc chuyên doanh; có
cơ cấu chủng loại hàng hoá phong phú, đa dạng, bảo đảm chất lượng; đáp ứng các tiêu
chẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có
các phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện nhằm thoả mãn nhu cầu mua sắm hàng
hóa của khách hàng”.
Trong hệ thống phân phối hàng tiêu dùng hiện đại, siêu thị là một dạng cửa hàng
bán lẻ thuộc mắt xích trung gian gần người tiêu dùng nhất. Tuy nhiên, khi nói về siêu thị,
người ta thường hiểu theo góc độcách thức tổ chức của hệ thống cửa hàng theo phương
thức hiện đại để phân biệt với các cửa hàng truyền thống. Theo đó thì hệ thống siêu thị

1


Môn: Quản trị bán lẻ

nhóm 8

bao hàm tất cả các dạng cửa hàng bán lẻ hiện đại, từ cửa hàng tự chọn nhỏ, cửa hàng tiện
lợi, siêu thị, cửa hàng bách hóa, cửa hàng đại hạ giá, trung tâm thương mại…
Ngoài ra ta còn có một số thuật ngữ khác như:
- Chuỗi siêu thị: là một tập hợp các siêu thị của một nhà phân phối được đặt ở các
địa điểm khác nhau nhưng áp dụng phương thức kinh doanh thống nhất.
- Hệ thống siêu thị: hệ thống siêu thị ngày nay để chỉ mạng lưới cửa hàng bán lẻ hợp
nhất( integrated) áp dụng phương pháp bán hàng tự phục vụ( Self- services) các hàng hóa
tiêu dùng phổ biến của người dân.


-

nhóm 8

Diện tích từ 1.000m2 trở lên;
Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 2.000 tên hàng trở lên
+ Siêu thị hạng II
Siêu thị kinh doanh tổng hợp phải đảm bảo các tiêu chuẩn cơ bản sau:
Có diện tích kinh doanh từ 2.000m2 trở lên;
Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 10.000 tên hàng trở lên;
Đối với siêu thị chuyên doanh, tiêu chuẩn cơ bản là:
Diện tích từ 500m2 trở lên;
Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 1.000 tên hàng trở lên
+ Siêu thị hạng III
Siêu thị kinh doanh tổng hợp phải đảm bảo các tiêu chuẩn cơ bản sau:
Có diện tích kinh doanh từ 500m2 trở lên;
Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 4.000 tên hàng trở lên;
Đối với siêu thị chuyên doanh, tiêu chuẩn cơ bản là:
Diện tích từ 250m2 trở lên (như siêu thị tổng hợp);
Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 500 tên hàng trở lên
1.2.2
Trung tâm thương mại
+ Trung tâm thương mại hạng I
-Ngoài các tiêu chuẩn về kiến trúc hiện đại, kho hàng, kỹ thuật bảo quản, khu vệ
sinh, khu giải trí, các Trung tâm thương mại hạng I phải đảm bảo các tiêu chuẩn cơ bản
sau:
-Có diện tích kinh doanh từ 50.000m2 trở lên;
- Hoạt động đa chức năng cả về kinh doanh hàng hoá và kinh doanh các loại hình
dịch vụ bao gồm: khu vực để bố trí các cửa hàng bán buôn, bán lẻ hàng hoá; nhà hàng

1.3.1.1. Có tên thương mại riêng hoặc tên thương mại của Siêu thị hoặc Trung tâm
thương mại (nếu hàng hoá, dịch vụ không có tên thương mại riêng phải có tên hàng hoá,
dịch vụ) và phải ghi rõ xuất xứ của hàng hoá theo quy quy định của pháp luật.
1.3.1.2. Có mã số, mã vạch đối với những loại hàng hoá có thể đăng ký má số, mã
vạch để thuận tiện cho công tác quản lý của Siêu thị, Trung tâm thương mại và giám sát
của khách hàng.
1.3.1.3. Đối với hàng hoá và thực phẩm phải được đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh,
an toàn thực phẩm và ghi rõ thời hạn sử dụng ghi rõ trên bao bì đóng gói. Nếu là nông
sản, thực phẩm ở dưới dạng sơ chế không có bao bì đóng gói sẵn thì phải qua chọn lọc,
phân loại, ghi rõ xuất xứ, chất lượng và thời hạn sử dụng tại giá hàng, quầy hàng.
1.3.1.4. Tất cả các loại hàng hoá, dịch vụ kinh doanh tại Siêu thị, Trung tâm thương
mại phải có giá bán được niêm yết tại giá hàng, giá hàng, điểm kinh doanh dịch vụ.
1.3.1.5. Hàng hoá có bảo hành phải gi rõ địa điểm và thời hạn bảo hành.
1.3.1.6. Nguồn hàng được tổ chức cung ứng ổn định và thường xuyên thông qua đơn
hàng được hợp đồng với các nhà sản xuất kinh doanh.
1.3.2 Không được kinh doanh tại Siêu thị, Trung tâm thương mại các loại hàng hoá,
dịch vụ sau đây:
1.3.2.1. Hàng hoá, dịch vụ thuộc Danh mục cấm kinh doanh theo quy định của pháp
luật, hàng lậu, hàng giá, hàng không xuất xứ, hàng qua hạn sử dụng và hàng không đảm

1


Môn: Quản trị bán lẻ

nhóm 8

bảo chất lượng thưo quy định của pháp luật (như hàng mất phẩm chất, hàng kém chất
lượng, hàng nhiễm độc và động thực vật bị dịch hại…)
1.3.2.2. Hàng hoá không đúng quy cách về nhãn hàng hoá, về tem thuế hàng hoá


nhóm 8

nhưng quyết định chọn thương hiệu tại cửa hiệu, có 31% bị ảnh hưởng bởi việc trưng bày
trong cửa hàng, chỉ 28% bị ảnh hưởng bởi khuyến mãi và giảm giá và 27% bởi những
hình thức khuyến mãi khác.Đối với một nhà phân phối bán lẻ, gian trưng bày hàng hoá
chính là bộ mặt và là ấn tượng ban đầu của doanh nghiệp trong mắt người tiêu dùng. Đây
cũng là cách thức cạnh tranh đơn giản và dễ ứng dụng nhất mà bạn có thể thực hiện ngay.
Ở các nước phát triển, hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại được trưng bày hết sức
nghệ thuật, it chi tiết trang trí nhưng hoàn toàn có thể có nhiều tác dụng hơn khi tạo được
ấn tượng đối với khách hàng.
-Tập trung vào sản phẩm: Cũng giống như quảng cáo truyền hình, trưng bày tại cửa
hàng cũng dễ khiến khách hàng nhớ đến hình ảnh trưng bày nhiều hơn những ấn tượng về
sản phẩm, sản phẩm được làm nổi bật nhất để thu hút được sự chú ý của khách hàng.
-Làm nổi sản phẩm nhờ ánh sáng: ngay cả khi gian trưng bày chỉ ở trong một góc
nhỏ của cửa hàng, sản phẩm có khi được rọi nhiều ánh sáng nhất. Gian trưng bày chú
trọng vào hình ảnh/ nhãn hiệu hơn sản phẩm có ánh sáng được bố trí hài hoà.
-Xếp các sản phẩm thành các dãy hoặc khối: Gây sự chú ý của người mua hàng
bằng cách sắp xếp hài hoà các sản phẩm trong gian trưng bày theo độ cao hoặc chiều sâu
khác nhau để tạo được một tổng thể bắt mắt.
-Mô hình chung cho chuỗi hệ thống các cửa hàng: Điều quan trọng của sự khác biệt
đó là khi bạn ở một cửa hàng của hệ thống cũng giống như bạn đang đứng ở một trong số
các cửa hàng còn lại. Một tập đoàn bán lẻ cần tìm kiếm một mô hình riêng biệt để nguời
mua tự cảm nhận sự riêng biệt đó, mà không thể đánh đồng vào bất cứ một hệ thống nào
đang có mặt trên thị trường. Siêu thị đã và đang là thói quen tiêu dùng văn minh của
người Việt, và đang dần biến thói quen trở thành một nét văn hoá mới, ví dụ như Big C,
Co.op Mart...

1


của khách hàng trong một lần đi mua sắm. Vì vây, hàng hóa trong siêu thị thường là
những mặt hàng phổ thông và thiết yếu từ lương thực, thực phẩm, quần áo, giày dép tới
1


Môn: Quản trị bán lẻ

nhóm 8

hàng điện tử gia dụng… Đặc điểm của các mặt hàng này đều là hàng tiêu chuẩn hóa, giá
cả phải chăng, chất lượng trung bình, ghi rõ nguồn gốc xuất xứ,thời hạn sử dung….
Ngoài ra, tập hợp hàng hóa tối thiểu trong một siêu thị cần đạt số lượng khoảng 4000,
giúp cho việc phân loại và quản lý hệ thống phân phối bán lẻ trở nên dễ dàng hơn.
1.4.2 Trung tâm thương mại.
+ Công nghệ bán lẻ: đi theo hình thức kinh doanh tổng hợp, trung tâm thương mại
phục vụ khách hàng bằng nhiều kiểu công nghệ bán lẻ khác nhau như tự phục vụ, tự chọn
hay theo mẫu.
+ Nghệ thuật trưng bày: ngoài việc trưng bày hàng hóa bày bán như ở siêu thị, trung
tâm thương mại còn phải quan tâm tới việc sắp xếp sao cho phù hợp nhiều khu vực khác
như nhà hàng, khách sạn, khu vực vui chơi giải trí, khu vực cho các hoạt động tài chính,
ngân hàng và nhiều khu vực cung cấp dịch vụ khác.
+ Diện tích mặt bằng: trong khi diện tích tối thiểu của một siêu thị tổng hợp hạng III
là 500m2 thì diện tích tối thiểu mà một trung tâm thương mại hạng III cần có là
10.000m2. Điều đó cho thấy quy mô của trug tâm thương mại lớn hơn rất nhiều so với
cửa hàng tạp phẩm, chợ hay cả siêu thị.
+ Hàng hóa, dịch vụ: trong khi siêu thị chỉ bao gồm các cửa hàng hiện đại; kinh
doanh tồng hợp hoặc chuyên doanh,nhưngmột trung tâm thương mại không chỉ có thể
bao gồm một siêu thị mà còn bao gồm các cơ sở hoạt động dịch vụ; hội trường, phòng
họp, văn phòng cho thuê, nhà hàng khách sạn, hội chợ triển lãm...Vì vậy, hàng hóa ở các
trung tâm thương mại, cũng như các siêu thị, rất đa dạng và được chọn lọc kĩ hơn so với

trương Minimart vào tháng 3/1993.



Thời kỳ 1995 - 1997: Trong thời kỳ này bắt đầu có sự xuất hiện của các siêu thị ở
Hà Nội( siêu thị thuộc trung tâm thương mại số 7-9 Đinh Tiên Hoàng vào tháng 01/1995
và Minimart Hà Nội tầng 2- chợ Hôm vào 03/1995) và mở rộng ra các thành phố lớn trên
cả nước. Tính đến 1995, cả nước có tất cả 10 siêu thị nằm rải rác trên 6 tỉnh thành.



Đến 2005, số lượng siêu thị đạt chuẩn trên cả nước đã đạt tới con số là 178, gấp 17.8 lần



so với cách đây 10 năm, trải dài trên 32 tỉnh thành.
Năm 2011, theo số liệu thống kê của Bộ Thương Mại, cả nước có 638 siêu thị, gần bằng
3.6 lần năm 2005, hơn nữa còn trải dài trên khoảng 59 tỉnh thành.
+ trung tâm thương mại:
Từ lúc chỉ có một vài trung tâm thương mại (TTTM) sang trọng và đẳng cấp trên cả
nước, đến nay người dân đã có vô số địa chỉ để lựa chọn.Sự gia tăng về số lượng và đa
dạng về chủng loại đã khiến loại hình kinh doanh TTTM thực sự bước vào một cuộc chạy
đua đầy kịch tính. Chưa bao giờ chúng ta thấy sự phát triển chóng mặt của các trung tâm
thương mại như thờ gian vừa qua. Chỉ trong vòng vài năm đã có gần 100 trung tâm
thương mại được mọc lên với quy mô về mặt bằng lớn,vị trí thuận tiện, sự đẳng cấp về
không gian- kiến trúc, hàng hóa dồi dào, dịch vụ đa dạng, giá cả hợp lý, ưu đãi hấp dẫn,
phục vụ tận tình, hậu mãi chu đáo, tao phong cách mua sắm sang trọng, thanh lịch và
đẳng cấp. Không chỉ là nơi hội tụ của những nhãn hàng cao cấp trong nước và quốc tế,

1

CẢ NƯỚC
Hà Nội
Quảng Ninh
Nghệ An
Quảng Bình
Đà Nẵng
Khánh Hoà
Bình Dương
TP.Hồ Chí Minh

2008
386
59
8
10
2
21
13
12
82

2009
451
78
8
10
3
24
13
17

2
..
5
18

2009
85
13
2
4
3
2
..
5
21

2010
101
18
3
4
2
4
..
5
24

2011
116
20


2008
386
81
92
213

2009
451
84
90
277

2010
571
110
148
313

2011
638
117
168
353

Bảng: Phân loại siêu thị tới 31/12/2012 theo tiêu chuẩn phân hạng của Quy chế siêu
thị , TTTM (theo số liệu của Tổng cục Thống kê)


Hiện nay, các hệ thống siêu thị trong nước đều nhắm đến điểm chung: liên tục mở

Minh chỉ còn chiếm khoảng 38% với số lượng lần lượt là 88 và 152.
2.1.3 cơ cấu.

Siêu thị
TTTM

Tổng số

Nhà nước

Tập thể

Có vốn đầu tư
trực tiếp NN

Loại hình
khác

571
83

35
12

68
8

26
15


Kim vừa mở liền 5 siêu thị tại Bình Dương, Đà Nẵng... Thời gian tới nhà bán lẻ này dự
kiến sẽ mở thêm 50 siêu thị điện máy nữa trên toàn quốc.
Nhận định ban đầu khi VN gia nhập WTO về mở cửa thị trường bán lẻ, các tập đoàn
bán lẻ nước ngoài ồ ạt tràn vào sẽ “bóp chết” DN bán lẻ trong nước đã không xảy ra.Tuy
nhiên, trong khi các tập đoàn bán lẻ lớn trên thế giới có hàng nghìn cửa hàng, thì các DN
bán lẻ được gọi là lớn ở VN mới chỉ có số cửa hàng tới vài chục, như Saigon Co.op có 49
siêu thị CoopMart và 30 cửa hàng Co.opFood; Vinatex có 62 cơ sở (gồm siêu thị tổng
hợp, cửa hàng chuyên doanh hàng thời trang VinatexMart); thậm chí có DN mới hình
thành được chuỗi 15 - 16 siêu thị, như: Công ty Cổ phần XNK Intimex, Công ty Cổ phần
Nhất Nam…
Các nhà bán lẻ nội địa nhiều năm loay hoay ngay trên sân nhà, hệ thống phân phối
truyền thống chật vật dịch chuyển sang kênh hiện đại. Theo các nhà phân tích, tuỳ điều
kiện thị trường, thời gian chuyển đổi có thể mất 10 – 30 năm, nhưng kênh thương mại
hiện đại Việt Nam cũng đã hơn 20 năm thay đổi kể từ khi các tập đoàn đa quốc gia đầu
tiên về hàng tiêu dùng nhanh nhập cuộc, các siêu thị hiện đại đầu tiên ra đời từ năm 1994.
Báo cáo của Research and Markets khẳng định Việt Nam là một trong năm thị trường bán
lẻ sinh lời nhất thế giới, với tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 – 2015 đạt 23 –
25%/năm. Còn nhiều thương hiệu bán lẻ khổng lồ chưa vào Việt Nam như Walmart,
Tesco, Carrefour, Auchan, Cosco, Watsons… Như vậy, kênh thương mại hiện đại Việt
Nam sẽ tiếp tục là cuộc chơi hấp dẫn, dự báo cuộc chuyển dịch ngoạn mục sẽ diễn ra
trong giai đoạn mười năm tới.
2.2

Mô hình hoạt động

2.2.1 Siêu thị
1


Môn: Quản trị bán lẻ

tốc độ tăng trưởng của ngành bán lẻ chậm lại do kinh tế khó khăn, một số nhà đầu tư

1


Môn: Quản trị bán lẻ

nhóm 8

chậm gia nhập thị trường, nhưng cuộc đua mở chuỗi vẫn tăng nhanh. Ước tính từ 2010 –
2012, số lượng siêu thị mở mới xấp xỉ con số của cả giai đoạn mười năm trước cộng
lại.Nếu tính về số, các chuỗi lớn thuộc về trong nước như Vinatextmart với 80 siêu thị,
Co.opmart với 60, Citimart 18, Fivimart 14, Hapro 11, Maximark là tám… Nhưng các
chuỗi này khó có thể so sánh về tính chuyên nghiệp và nhận diện thương hiệu của BigC,
Metro, Lotte...
Với siêu thị theo mô hình chuỗi, người tiêu dùng không phải đến một siêu thị duy
nhất mà chỉ cần đến một siêu thị bất kỳ nào đó trong chuỗi đều có thể mua được mặt hàng
mình muốn và hoàn toàn yên tâm với giá cả và chất lượng hàng hóa mình đã lựa
chọn.Hiện tại ở Hà Nội các doanh nghiệp đang có xu hướng chuyển đổi mô hình kinh
doanh siêu thị từ dạng độc lập sang dạng chuỗi, đang thực hiện hợp tác liên kết cùng khai
thác cơ hội thị trường đang mở rộng đồng thời cũng cùng chia sẻ nhưng khó khăn thách
thức trong cơ chế hội nhập.
2.1.1.3 Mô hình đại siêu thị và cửa hàng kho hàng của các tập đoàn bán lẻ nước
ngoài
Sự góp mặt của một số tập đoàn phân phối lớn trên thế giớ như Metro cash &
Carry(Đức), Bourbon(Pháp)….tại Hà Nội đã làm thay đổi cục diện thị trương bán lẻ ở
đây. Các đại siêu thị lần lượt xuất hiện theo hình thức liên doanh hoặc 100% vốn nước
ngoài.
Hệ thống siêu thị Big C hoạt động kinh doanh theo mô hình “Trung tâm thương
mại” hay “Đại siêu thị”, là hình thức kinh doanh bán lẻ hiện đại đang được Tập đoàn

đã quen với việc mua bán tiện lợi ở những cửa hàng gần và mặt tiền đường. Cùng với
việc quỹ đất cho các TTTM đầu tiên còn dồi dào, những cái tên tiên phong như Tràng
Tiền Plaza, Vincom Center Hà Nội, Diamond Plaza, Zen Plaza (Sài Gòn) đều sở hữu các
vị trí cực kỳ đắc địa. Tuy nhiên, khi quỹ đất ít ỏi của các thành phố ngày càng khan hiếm
thì các TTTM đi sau gần như phải “dạt” ra các quận, huyện xa trung tâm hơn. Không có
“đất vàng”, The Garden, Savico Mega Mall hay sắp tới là Uskill City, Vincom Mega
Mall, Keangnam Hanoi Landmark Tower... đang có “ý đồ” chiếm lĩnh thị trường một
cách thuyết phục bằng việc tự hoàn hảo các tính năng của một TTTM hiện đại.
Xu hướng vài năm trở lại đây khi xây dựng TTTM là phải có những tiện ích theo
kiểu “tất cả trong một”: từ siêu thị đến các cửa hàng thời trang, chỗ vui chơi cho trẻ con,
dịch vụ chăm sóc sức khỏe, làm đẹp cho mọi người... Savico Mega Mall ngoài đại siêu
thị, siêu thị chuyên ngành nội thất, điện máy còn có khu tổ chức sự kiện, khu ẩm thực,
1


Môn: Quản trị bán lẻ

nhóm 8

trung tâm vui chơi giải trí, sân chơi trẻ em... Nhưng có lẽ “khủng” và đa năng nhất phải
kể đến Vincom Mega Mall – Royal City.So với Savico Mega Mall (63.400 m2); The
Garden (57.000 m2), hay cả với “người anh em” Vincom Center (75.000 m2) thì Vincom
Mega Mall – Roya City gần như “nuốt chửng”. Với diện tích hơn 200.000 m2 gồm 2 tầng
hầm và 2 tầng nổi, TTTM này sẽ trở thành khu mua sắm sầm uất và còn được trợ lực bởi
những tiện ích đẳng cấp như khu Gym & Spa, khu vui chơi giải trí trong nhà, bể bơi bốn
mùa, quần thể rạp chiếu phim 3D, 4D, làng ẩm thực... Đặc biệt, khu công viên nước trong
nhà và khu sân băng – hai mô hình lần đầu tiên xuất hiện tại VN cũng sẽ giúp “kéo”
khách đến cho TTTM này.

2.3Hàng hóa và trưng bày hàng hóa

Giá cả các mặt hàng trong siêu thị đối với nước ngoài hầu hết đều thấp hơn so với
hàng hóa được bày bán ở chợ hay các hệ thống bán lẻ truyền thống nhưng tuy nhiên ở
Việt Nam thì điều này là ngược lại giá bán thường có xu hướng cao hơn. Ví dụ như đa
số mặt hàng như bánh kẹo, sữa, nước giải khát, thực phẩm tươi sống, rau xanh, trái cây,
quần áo, trang phục lót… thì giá bán ra tại siêu thị cao hơn giá bên ngoài khoảng từ 0,520%. Hầu hết là do khi hàng hóa được trưng bày trong siêu thị thì phải chịu phí trưng
bày cao hơn so với việc bán lẻ truyền thống, chi phí thuê mặt bằng, thuê nhân viên …. Vì
vậy giá cả thường cao hơn so với bên ngoài
-về trưng bày hàng hóa
Ở Việt Nam, các siêu thị, trung tâm thương mại ra đời ban đầu chủ yếu là do tự
phát, đội ngũ nhân viên chưa được đào tạo bài bản nên tính nghệ thuật trong trưng bày
hàng hóa còn chưa cao. Một số siêu thị như Big.C có danh mục hàng hóa phong phú
nhưng do số lượng quá nhiều khiến cho các gian hàng san sát nhau thường xuyên xuất
hiện rơi hàng hóa, đường vận chuyển hàng hóa từ kho chứa ra gian trưng bày đi cả vào
khu vực đi lại của khách hàng khiến giao thông bị tắc nghẽn. Nhiều siêu thị sắp xếp hàng
hóa còn thiếu phù hợp với quy trình công nghệ chung khiến việc di chuyển hàng hóa vừa
mất thời gian vừa dễ gây mất vệ sinh cho thực phẩm.
Hiện nay, sự thâm nhập của các doanh nghiệp, tập đoàn nước ngoài đã đem đến sự
trưng bày, sắp xếp hàng hóa có tính chuẩn mực quốc tế cao. Hàng hóa được sắp xếp hợp
lý,ngày càng có tính thẩm mỹ cao, giao thông đi lại thuận tiện hơn, sơ đồ gian hàng và
biển chỉ dẫn khu vực hàng hóa rõ rang… Sự tiến bộ trong nghệ thuật trưng bày hàng hóa
đã thu hút thêm nhiều sự quan tâm của khách hàng, nhất là những ngày lễ lớn.

1


Môn: Quản trị bán lẻ

nhóm 8

2.4Dịch vụ khách hàng và xúc tiến thương mại

quần áo ….

1


Môn: Quản trị bán lẻ
-

nhóm 8

Tại Big C : Xe đưa đón miễn phí, mua hàng trả góp, thẻ cáo điện thoại, thanh toán bằng
thẻ …
-Trung tâm thương mại
Hiện nay, rất nhiều trung tâm thương mại đã thành công trong việc áp dụng dịch vụ
khách hàng bằng các hạng mục giải trí.Trong những năm gần đây, CBRE ghi nhận sự gia
tăng của hạng mục giải trí, nhất là giải trí gia đình (bao gồm rạp chiếu phim, các trò chơi
trong nhà) tại các trung tâm thương mại về cả số lượng lẫn diện tích. Tuy nhiên, đa số các
trung tâm giải trí được đặt tại các trung tâm thương mại, đặc biệt là các trung tâm thương
mại lớn.Điều này nhằm tận dụng sự bổ trợ giữa các hạng mục mua sắm/bán lẻ và hạng
mục giải trí. Trong nhiều trường hợp, hạng mục giải trí đóng vai trò là khách thuê chủ
chốt, thu hút khách hàng đến với cửa hàng mua sắm của trung tâm thương mại.
Các trung tâm giải trí ngày càng được đầu tư chuyên nghiệp hơn. Sau mô hình kinh
doanh rạp chiếu phim Megastar và khu trò chơi điện tử tại trung tâm thương mại Vincom
thành công trong những năm 2004 - 2005, đã có nhiều công ty nước ngoài hoạt động
trong lĩnh vực giải trí quan tâm đến thị trường Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng.
Trong vòng một vài năm trở lại đây, đã có thêm nhiều khu giải trí, rạp chiếu phim được
khai trương tại các trung tâm thương mại tại Hà Nội với diện tích lên đến hàng nghìn m2.
Khách hàng tại các thành phố lớn cũng ngày càng quan tâm hơn đến các dịch vụ giải trí
tại các trung tâm thương mại, bởi họ có thể kết hợp việc đi mua sắm với xem phim, hay
cho con cái tham gia các trò chơi giải trí.

-

may rủi
Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên
Khuyến mại hàng hóa, dịch vụ thông qua internet và các phương tiện điện tửkhác
QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI :

-

Dán các tấm áp phíc trên xe đẩy của siêu thị, khu mua sắm…

-

Phát các báo, catolo sản phẩm của siêu thị

-

Quảng cáo trên tivi, internet …

2.5

Lực lượng lao động.

Đa số các siêu thị có quy mô nhỏ hoặc quy mô gia đình đều sử dụng số lượng nhân
viên tối thiểu. Với số lượng danh mục hàng hóa bày bán ít và lực lượng khách đến mua
hàng thì cón hạn chế không đông chính vì vậy mà trong siêu thị có quy mô nhỏ thì họ
thường chỉ có khoảng từ 29 – 30 nhận viên. Có nhiều siêu thị có quy mô gia đình thì sô
nhân viên chỉ có từ 10 – 15 người, phần lớn thì họ tham gia với vai trò là người bán hàng
và thu ngân.
Đối với các siêu thị, trung tâm thương mại có quy mô lớn, số lượng cán bộ quản lý

có thể phục vụ được nhu cầu của càng nhiều khách hàng hơn nữa.
- Về mặt bằng: hiện nay phần lớn các siêu thị, trung tâm thương mại đều tọa lạc ở
các khu dân cư, các khu đô thị có mật độ dân số cao, vì vậy mà nhu cầu của một lượng đa
số sẽ được đáp ứng.
- Về quy mô: theo quy hoạch của nhà nước, siêu thị, trung tâm thương mại loại vừa
và lớn ngày càng được ưu tiên cấp phép xây dựng hơn vì trong mô hình như vậy, với uy
-

tín của doanh nghiệp, số lượng, chất lượng các mặt hàng, dịch vu sẽ ngày càng tăng cao.
Về hàng hóa: Sản phẩm, hàng hóa đa dạng, sẵn có, nhiều mẫu mã, cho khách hàng có
nhiều sự lựa chọn. Thực phẩm trong siêu thị được đảm bảo, kiểm tra, tạo niềm tin cho

-

khách hàng mua và tiêu dùng.
Trưng bày hàng hóa: theo các doanh nghiệp nước ngoài vào đầu tư, nghệ thuật trưng bày
hàng hóa cũng đã bắt đầu được áp dụng trong các siêu thị, trung tâm thương mại. Điều đó

-

giúp cho khách hàng cảm thấy thuận tiện và thoải mái hơn khi đi mua sắm ở đây.
Về giá sản phẩm: hiện nay, do chủ yếu là sử dụng hàng Việt Nam để bày bán, trừ một số
mặt hàng thuộc các nhãn hiệu nổi tiếng trên thế giới trong các trung tâm thương mại, hầu
hết sản phẩm các loại hình bán lẻ này đều không còn đắt như những ngày đầu nữa mà đã
rẻ hơn rất nhiều, ngang hoặc còn thấp hơn bên ngoài.

1




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status