MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài: 1
2. Ý nghĩa của đề tài: 4
3. Mục đích nghiên cứu: 4
4. Giới hạn nghiên cứu của đề tài: 4
5. Câu hỏi nghiên cứu/ giả thuyết nghiên cứu 5
6. Khách thể nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu: 5
6.1. Đối tượng nghiên cứu: Đo lường mức độ đáp ứng những đòi hỏi của
thị trường lao động của chương trình đào bậc cao đẳng ngành Tài chính
ngân hàng. 5
6.2 . Khách thể nghiên cứu: Nhà truyển dụng nơi sinh viên tốt nghiệp
ngành Tài chính ngân hàng của Trường Cao đẳng Kinh tế - Tài chính
Vĩnh Long đang làm việc, cán bộ giáo viên và sinh viên tốt nghiệp
trường Cao đẳng Kinh tế - Tài chính Vĩnh Long. 5
7. Phương pháp nghiên cứu: 5
8. Phạm vi khảo sát 6
Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 7
1.1. T ổ ng quan các nghiên cứu trong nước và ngoài nước liên quan đến
đề tài 7
1.1.1 . Các nghiên cứu trong nước: 7
1.1.2 . Các nghiên cứu ngoài nước: 12
1.2. Các vấn đề lý thuyết của đề tài nghiên cứu 22
1.2.1. Những khái niệm về chương trình đào tạo và phát triển chương
trình đào tạo 22
1.2.2 Khái niệm đáp ứng: 26
1.3. Mô hình nghiên cứu đề xuất 27
giá của sinh viên tốt nghiêp và đánh giá của nhà tuyển dụng 61 3.6.1. Kiến thức : 61
3.6.2. Kỹ năng: 63
3.6.3. Thái độ 65
KẾT LUẬN 69
TÀI LIỆU THAM KẢO 72
Tài liệu việt nam 72
Tài liệu nước ngoài 73
PHỤ LỤC 75 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
SVTN Sinh viên tốt nghiệp
SVHS Sinh viên học sinh
NTD Nhà tuyển dụng
ĐH Đại học
CĐ Cao đẳng
DN Doanh nghiệp
NHNN Ngân hàng nhà nước
CĐKTTC Cao đẳng kinh tế- tài chính
CTĐT Chương trình đào tạo
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.2. Những khái niệm chương trình đào tạo và phát triển chương trình
dụng và tự đánh giá của sinh viên tốt nghiệp về mức độ đáp ứng của kiến
thức chuyên ngành đối với đòi hỏi của thị trường lao động 54
Bảng 3.13 Bảng thống kê phân tích khác biệt giữa đánh giá của nhà tuyển
dụng và tự đánh giá của sinh viên tốt nghiệp về mức độ đáp ứng của kỹ
năng chuyên môn đối với đòi hỏi của thị trường lao động 56
Bảng 3.14 Bảng thống kê phân tích khác biệt giữa đánh giá của nhà tuyển
dụng và tự đánh giá của sinh viên tốt nghiệp về mức độ đáp ứng của kỹ
năng chuyên biệt đối với đòi hỏi của thị trường lao động 57
Bảng 3.15 Bảng thống kê phân tích khác biệt giữa đánh giá của nhà tuyển
dụng và tự đánh giá của sinh viên tốt nghiệp về mức độ đáp ứng của kỹ
năng chuyên biệt đối với đòi hỏi của thị trường lao động 59
DANH MỤC HÌNH Trang
Hình 1.1 Mô hình chất lượng dùng trong giảng dạy và học tập 20
Hình 1.2 Mô hình nghiên cứu 28
Hình 2.1 Qui trình nghiên cứu 31 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Một trong những tác động chủ yếu của toàn cầu hóa là xu hướng phát
triển nguồn nhân lực. Xuất phát điểm không chỉ từ những thay đổi về kỹ
thuật và sự gia giảm liên tục các chi phí truyền thông và vận chuyển, mà
phải đổi mới tư duy giáo dục đại học, phải hiện đại hoá hệ thống, đổi mới
cơ chế chính sách nhằm thực sự tạo ra một môi trường giáo dục đại học
mới, có không gian thoáng đạt cho hoạt động sáng tạo trong giảng dạy và
nghiên cứu các trường có tính độc lập và tự chủ, nguồn tài chính ổn định và
bền vững, các trường phải chịu trách nhiệm xã hội trước các nhà tài trợ và
những người có quyền lợi liên quan. Các công việc cụ thể được coi là then
chốt trong việc thay đổi mặt bằng chất lượng là nội dung, chương trình,
phương pháp dạy và học, đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý, nguồn tài
chính và cơ sở vật chất, công tác nghiên cứu khoa học, công tác hợp tác
quốc tế. Trong thực tế sản phẩm đào tạo vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu
của thị trường lao động.
Theo kết quả điều tra khảo sát của Trung tâm Giới thiệu việc làm
thành phố Hồ Chí Minh năm 2006, sau khi tiến hành lấy ý kiến 1.000
doanh nghiệp (DN) tuyển dụng, đánh giá ưu điểm, khuyết điểm của sinh
viên, học sinh tốt nghiệp trường nghề tìm việc làm (gọi chung là ứng viên).
cho thấy có đến 40% DN nhận định: Ưu điểm của ứng viên là nắm vững
kiến thức cơ bản về ngành nghề học, nhưng chỉ có 12% nhận xét ứng viên
có kỹ năng làm việc chuyên môn và cùng 12% có khả năng thích nghi công
việc thực tế. Ngược lại, đánh giá về hạn chế của ứng viên, có đến 38% DN
nhận xét là các ứng viên thiếu kinh nghiệm và bí quyết chuyên môn, 20%
thiếu hiểu biết về các vấn đề kinh tế, sản xuất kinh doanh, 20% hạn chế
kiến thức ngoại ngữ, tin học
Theo thống kê của Ngân hàng nhà nước (NHNN), đến năm 2012,
tổng số nguồn nhân lực trong ngành ngân hàng 180.000 người, trong đó
3
làm việc trong hệ thống NHNN hơn 6.000 người, số còn lại làm việc trong
các ngân hàng thương mại và quỹ tín dụng nhân dân. Theo số liệu của Viện
Nhân lực Ngân hàng tài chính (BTCI), lượng sinh viên trong ngành ra
trường trong năm học 2012- 2013 có khoảng 29.000 người đến 32.000
đòi hỏi thị trường lao động của chương trình đào tạo bậc Cao đẳng
ngành Tài chính ngân hàng” (Nghiên cứu trường hợp trường Cao đẳng
Kinh tế- Tài chính Vĩnh Long).
2. Ý nghĩa của đề tài:
Việc nghiên cứu mức độ đáp ứng đòi hỏi thị trường lao động của
chương trình đào tạo bậc cao đẳng ngành Tài chính ngân hàng có ý nghĩa
quan trọng trong việc đánh giá chất lượng đào tạo của một cơ sở giáo dục.
Trường Cao đẳng Kinh tế- Tài chính Vĩnh Long, được nâng cấp lên trường
cao đẳng từ năm 2004, và tính đến năm 2012 đã đào tạo được 5 khoá cử
nhân cao đẳng. Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu càng có ý nghĩa giúp trường
bổ sung tài liệu phục vụ cho công tác tự đánh gía của trường, đánh giá
những hoạt động đã đạt được, những điểm còn khiếm khuyết để cải tiến và
nâng cao chất lượng đào tạo của Trường.
3. Mục đích nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu của luận văn hướng tới mục tiêu cụ thể là đánh giá
mức độ đáp ứng đòi hỏi thị trường lao động của chương trình đào tạo bậc
cao đẳng ngành Tài chính ngân hàng thông qua việc đánh giá mức độ đáp
ứng về kiến thức, kỹ năng, thái độ của sinh viên tốt nghiệp với đòi hỏi của
thị trường lao động, để từ đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất giải pháp cải
tiến nội dung chương trình và cách thức tổ chức thực hiện chương trình.
4. Giới hạn nghiên cứu của đề tài:
Đề tài thực hiện nghiên cứu, đánh giá mức độ đáp ứng đòi hỏi thị
trường lao động của chương trình đào tạo bậc cao đẳng ngành Tài chính
ngân hàng của Trường CĐKTTC Vĩnh Long.
5
5. Câu hỏi nghiên cứu/ giả thuyết nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sẽ làm rõ hai câu hỏi nghiên cứu sau:
Bên cạnh đó, đề tài sử dụng các phương pháp khác như: khảo cứu
tài liệu, phương pháp chuyên gia.
8. Phạm vi khảo sát
Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn trong việc khảo sát 79 nhà
truyển dụng nơi sinh viên tốt nghiệp ngành tài chính của Trường Cao đẳng
Kinh tế- Tài chính Vĩnh Long đang làm việc, khảo sát 153 SV tốt nghiệp
Khóa 4, 5 ngành Tài chính ngân hàng, phỏng vấn 15 cán bộ giáo viên
Trường Cao đẳng Kinh tế- Tài chính Vĩnh Long và phỏng vấn 10 nhà
tuyển dụng nơi sinh viên tốt nghiệp đang làm việc.
7
Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Tổng quan các nghiên cứu trong nước và ngoài nước liên
quan đến đề tài
1.1.1 . Các nghiên cứu trong nước:
Trong nhiều năm qua, việc đánh giá chương trình đào tạo được Nhà
nước, Bộ GD&ĐT và các cơ sở giáo dục đặc biệt quan tâm. Hội thảo khoa
học “Đánh giá chương trình đào tạo chuyên ngành kinh tế ngoại thương”
(2003) được tổ chức tại Trường Đại học Ngoại thương, tập trung thảo luận
các khối kiến thức và sự hợp lí/ không hợp lí của các môn học trong
chương trình đào tạo hoặc những vấn đề liên quan tới việc quản lí và tổ
chức thực hiện chương trình đào tạo.
Ngày 19/1/2007 Tổng hội Y học Việt Nam và Bệnh viện quốc tế trẻ
em hoàng gia Úc đã tổ chức bảo vệ đề tài nghiên cứu “Đánh giá chương
trình đào tạo cấp cứu nhi khoa nâng cao (APLS) dành cho y, bác sĩ tại Việt
Nam 2004-2005”, nghiên cứu tập trung vào việc xác định những điều chỉnh
nào cần được thực hiện khi áp dụng chương trình đào tạo APLS quốc tế
vào thực tế Việt Nam, hiệu quả thực tế các khóa đào tạo APLS trong thời
gian 2004- 2005 và xác định mô hình vận hành APLS ở Việt Nam đảm bảo
tính bền vững.
ý, trẻ khó khăn về học và phương pháp trị liệu cho trẻ khuyết tật; Kiến
tập thực tập: Tăng thêm thời gian cho công tác kiến tập và thực tập;
Công tác kiến tập cần được thực hiện tại cả trường mầm non và trường tiểu
học; Công tác hỗ trợ sinh viên: Tăng cường thêm nhiều sách, báo và
tài liệu tham khảo, đặc biệt là giáo trình phục vụ công tác học tập; thắt chặt
quản lý công tác học tập của sinh viên và công tác thi cử; bộ phận quản lý
sinh viên cần phải hoạt động hiệu quả hơn nữa, đáp ứng và giải quyết các
nhu cầu của sinh viên kịp thời và nhanh chóng; là tăng cường thực hiện
công tác lấy ý kiến của sinh viên tốt nghiệp và cơ quan tuyển dụng lao
động.
9
Nghiên cứu của Thái Bá Cần (năm 2004) về “trình độ công nghệ
trong sản xuất công nghiệp và tính thích ứng của chương trình đào tạo” đã
kết luận: Về phía sinh viên: kiến thức lý thuyết tạm được nhưng tay nghề
thực tế yếu, kiến thức rời rạc, thiếu khả năng tổng hợp, không biết vận
dụng kiến thức vào thực tế; Về chương trình đào tạo cần bổ sung khối kiến
thức chuyên ngành kiến thức để giải quyết các vấn đề có tính hệ thống,
không biết cách làm việc tập thể, theo đội nhóm với tư cách một thành
viên. Thiếu khả năng quản lý, tổ chức công việc (điều độ sản xuất). Thiếu
kiến thức về kinh tế, lúng túng khi phải tính giá thành sản phẩm,v.v Trình
độ ngoại ngữ yếu, đặc biệt là khả năng đọc dịch tài liệu kỹ thuật chuyên
ngành. Ý kiến của cựu sinh viên về sự thích ứng của chương trình đào tạo:
chưa tốt là 34%, đạt yêu cầu là 56%, rất tốt là 7%, không có ý kiến là 3%.
Năm 2010 Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính- Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam đã phối hợp tổ chức Hội thảo quốc gia về vấn đề “Đào tạo
nhân lực lĩnh vực tài chính - ngân hàng theo nhu cầu xã hội” .Tại Hội thảo,
Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân đã phát biểu ý kiến chỉ đạo:
“Nền kinh tế Việt Nam những năm gần đây phát triển mạnh mẽ. Năm nay
đầu tư trực tiếp nước ngoài, xuất khẩu đạt mức lớn nhất từ trước tới nay.
cầu của nhà tuyển dụng chia kỹ năng thành 3 nhóm: kỹ năng chuyên môn,
kỹ năng mềm và kỹ năng về quản lý. Đánh giá mức độ quan trọng của các
kỹ năng này, theo các nhà tuyển dụng đánh giá: Khả năng chuyên môn, khả
năng tự đào tạo và kỹ năng mềm. Bên cạnh đó, các nhà tuyển dụng cũng
đánh giá những điểm yếu của lao động là sinh viên tốt nghiệp đại học là
trình độ ngoại ngữ (59.2%), kỹ năng mềm: có đến 35.8% nhà tuyển dụng
đánh giá là điểm yếu của sinh viên. Khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ theo
đúng chuyên ngành đào tạo chỉ dừng lại mức độ vừa phải.
Đỗ Thị Thúy, (năm 2012), thực hiện "đánh giá mức độ đáp ứng công
việc trên biển của sinh viên chính quy tốt nghiệp ngành Điều khiển tàu biển
và máy tàu biển của trường Đại học hàng hải". Nghiên cứu thực hiện thông
qua khảo sát ý kiến của các cựu sinh viên và nhà tuyển dụng, đã kết luận về
11
mức độ đáp ứng công việc của sinh viên tốt nghiệp cụ thể như sau: về kiến
thức chuyên môn sinh viên tốt nghiệp đã nắm vững ở mức độ trung bình so
với yêu cầu công việc trên, mức độ thành thạo đáp ứng ở mức độ khá, mức
độ hữu ích đáp ứng ở mức độ tốt, mức độ tần suất vận dụng kiến thức
chuyên môn đáp ứng mức độ tốt so với yêu cầu công việc trên biển; về kỹ
năng chuyên môn: mức độ nắm vững đáp ứng ở mức độ trung bình khá so
với yêu cầu công việc, mức độ thành thạo về kỹ năng chuyên môn đáp ứng
ở mức độ khá, mức độ hữu ích kỹ năng chuyên môn đáp ứng mức độ tốt,
mức độ tần suất sử dụng kỹ năng chuyên môn đáp ứng ở mức độ tốt so với
yêu cầu công việc; về thái độ nghề nghiệp đáp ứng mức độ tố so với yêu
cầu công việc.
Nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Quốc Nghi, Lê Thị Diệu Hiền,
Nguyễn Thị Hồng Lộc, Quách Hồng Ngân (năm 2011) về đánh giá khả
năng thích ứng công việc của sinh viên tốt nghiệp ngành du lịch ở đồng
bằng sông Cửu Long. Đã thực hiện khảo sát 158 sinh viên tốt nghiệp ngành
du lịch tại đồng bằng sông Cửu Long và có thời gian làm việc trên 6 tháng.
nghiệp so với yêu cầu thị trường lao động là không cao. Các ý kiến chủ yếu
đánh giá về kỹ năng mềm của sinh viên tốt nghiệp cũng như kiến thức
chuyên môn phục vụ cho công việc. Có nhiều ý kiến đóng góp về chương
trình đào tạo, cần cho sinh viên tiếp cận nhiều hơn với công việc trong quá
trình học, bổ sung các kiến thức thực tế, kỹ năng “mềm” cho sinh viên.
1.1.2 . Các nghiên cứu ngoài nước:
Việc khảo sát sinh viên tốt nghiệp về kỹ năng, kiến thức, việc làm,
tiền lương được các trường đại học trên thế giới ở Hoa Kỳ, Anh, Úc,
Canada… thực hiện định kỳ. Hầu hết các khảo sát tập trung đánh giá tình
trạng việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp, dự định của họ trong tương
lai, thu nhập, đáp ứng kiến thức, kỹ năng đối với yêu cầu công việc, ý kiến
về phương pháp dạy, học…
Một nghiên cứu tiêu biểu là nghiên cứu của Dr Inna Pomorina, Đại
học Bristol (2012) khảo sát về kỹ năng và việc làm của sinh viên tốt nghiệp
13
ngành kinh tế. Khảo sát thực hiện dưới sự hỗ trợ của mạng lưới kinh tế và
hiệp hội các dịch vụ tư vấn nghề nghiệp cho sinh viên tốt nghiệp. Thời gian
thực hiện từ 26/3/2012 đến 16/7/2012, phương pháp nghiên cứu được tác
giả thực hiện là dùng phiếu khảo sát trực tuyến và phỏng vấn các nhà tuyển
dụng về kỹ năng và việc làm của sinh viên tốt nghiệp. Khảo sát đã đạt được
các mục tiêu là:
1. Cung cấp thông tin cho các trường đại học dạy chuyên ngành
kinh tế tại Vương quốc Anh về những yêu cầu của các nhà tuyển dụng đối
với sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành kinh tế.
2. Đánh giá khả năng của sinh viên tốt nghiệp ngành kinh tế trên
khía cạnh: Sinh viên có những kỹ năng và kiến thức cần thiết hay chưa?
Nếu chưa có, những điểm nào mà họ còn thiếu sót?
3. Có thể thay đổi chương trình giảng dạy và đẩy mạnh việc kiểm
soát việc dạy tại các trường đại học.
được cho là kém quan trọng hơn là “Sự hiểu biết và giải thích các vấn đề
tài chính” và “Tư duy chiến lược” cũng được đánh giá là “rất quan trọng”
do có lần lượt 12,0% và 44,0% số người được hỏi chọn. Sự phản hồi của
GES về các kỹ năng rất giống nhau: họ cho rằng tất cả các kỹ năng trên là
“rất quan trọng”, ngoại trừ 2 kỹ năng “ Hiểu / diễn giải các vấn đề tài chính
”và “Tư duy chiến lược” được xem là “khá quan trọng”. Về kiến thức và
hiểu biết: Hơn 60,0% số người được hỏi cho biết kiến thức và sự hiểu biết
về “Chi phí cơ hội”, “Chi phí và lợi ích xã hội”, “Sự khích lệ và làm việc
hiệu quả”, “Khả năng ra quyết định đối với kinh tế vi mô và hạn chế sự lựa
chọn” là “rất quan trọng”, trong khi hơn 25,0% số người được hỏi cho biết
“Sự ổn định và bất ổn của nền kinh tế và thị trường” và “Trạng thái cân
bằng và mất cân bằng” là “ít hoặc không quan trọng”. Cùng lúc đó, hơn
50% số người được hỏi nhận thấy “sự ổn định và sự bất ổn của nền kinh tế
và thị trường”, “ảnh hưởng, kỳ vọng và bất ngờ”, “sự phụ thuộc lẫn nhau
giữa các thị trường ”và “phát triển chính sách kinh tế và mối liên hệ với các
công ty cụ thể ” là “khá quan trọng”. Trong khi đó, GES cho biết kiến thức
15
và sự hiểu biết về các lĩnh vực đều được họ xác định là “rất quan trọng”,
ngoại trừ “trạng thái cân bằng và mất cân bằng”, “sự ổn định và bất ổn của
nền kinh tế và thị trường”, “ ảnh hưởng, kỳ vọng và bất ngờ”, “sự phụ
thuộc lẫn nhau của các thị trường” và “ thích ứng với sự thay đổi cũng như
hiểu được các mối quan hệ của kinh tế vĩ mô và tác động từ những thay đổi
của kinh tế vĩ mô ở mức độ nhỏ đối với các thị trường và công ty ” được
xem là “ khá quan trọng”.
Kỹ năng chung: kỹ năng hợp tác, sử dụng công nghệ thông tin, kỹ
năng phân tích và giải thích các dữ liệu được 30% câu trả lời đánh giá rất
cao, 40% câu trả lời đánh giá không quá cao kỹ năng tự nhận thức; các kỹ
năng khác được đánh giá không quá cao, chiếm khoảng 30% là: nhận thức
các vấn đề văn hóa, sáng tạo và trí tưởng tượng, khả năng giao tiếp và viết,
đam mê về một vấn đề cụ thể, và kỹ năng chính của họ nằm ở việc có thể
suy nghĩ một cách logic và mạch lạc đối với một chủ đề.
- Sinh viên tốt nghiệp ngành kinh tế có xu hướng giỏi về một hoặc
hai lĩnh vực cụ thể của nền kinh tế mà họ biết hoặc đã nghiên cứu chi tiết.
Điều này ở mỗi sinh viên là khác nhau.
- Nhìn chung, kiến thức cơ bản về kinh tế của họ là tốt và đây không
phải là lý do họ thất bại trong các cuộc phỏng vấn. Tuy nhiên trong một số
trường hợp những kiến thức mà các ứng cử viên thể hiện dường như khá
thiển cận và không được hiểu đúng.
- Khi chuẩn bị, tài liệu chuyên môn của các ứng cử viên nhìn chung
là khá tốt.
Các kỹ năng nào sinh viên tốt nghiệp ngành kinh tế cần phải trau dồi
thêm: Các chuyên gia tư vấn nhấn mạnh sự cần thiết của việc trau dồi hơn
nữa khả năng của sinh viên tốt nghiệp trong việc ứng dụng từ lý thuyết đến
thực hành, kỹ năng nói và viết, sự tự nhận thức có chiều sâu và trau dồi
kiến thức về lịch sử kinh tế.
Các ý kiến đóng góp đối với sinh viên tốt nghiệp:
17
Có sự khác biệt đáng kể giữa các ứng cử viên, thường thì bao gồm:
Áp dụng kinh tế đối với các vấn đề, đặc biệt là áp dụng các khái niệm kinh
tế đối với vấn đề họ không quen thuộc. Giải thích các khái niệm kinh tế
theo cách đơn giản và ngắn gọn.
Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ viết, diễn giải số liệu, áp dụng các khái
niệm kinh tế đối với các vấn đề xa lạ.
Lý do chủ yếu mà các thí sinh gặp thất bại là họ có thể giỏi về những
gì đã được học, giỏi về lý thuyết, nhưng khả năng áp dụng lý thuyết vào
các trường hợp không quen thuộc hầu như là không có.
Khả năng áp dụng kiến thức và khái niệm kinh tế: Nhiều sinh viên
tốt nghiệp ngành kinh tế có kiến thức về lĩnh vực kinh tế nhưng không thể
hoặc giỏi về kinh tế lượng) dường như đã mất khả năng trình bày rành
mạch các vấn đề kinh tế đơn giản cũng như họ không có cách tiếp cận một
vấn đề bằng cách sử dụng các công cụ kinh tế cơ bản của họ.
- Dường như có một xu hướng chung là các sinh viên chú trọng khả
năng định lượng và sự hiểu biết về tài chính trong khi có một kỹ năng
không thể thiếu là một kiến thức vững vàng về lịch sử kinh tế. Những chính
sách và sự hình thành lý thuyết kinh tế qua từng giai đoạn, những quyết
định được đưa ra trong bối cảnh cụ thể là điều mà sinh viên cần phải biết.
- Các ứng cử viên không thể giải thích lý do về sự can thiệp của
chính phủ vào thị trường hoặc lạm phát đã gây ra những vấn đề gì cho xã
hội. Tôi tự hỏi họ đã học những gì ở trường đại học.
- Một số ứng viên đã cố gắng truyền đạt về cách họ đã áp dụng các
nguyên tắc và khái niệm mà họ đã học được.
Những ý kiến đóng góp cho các trường đại học để nâng cao chất
lượng cho các sinh viên tốt nghiệp ngành kinh tế:
- Sinh viên không nên học vẹt, thay vào đó họ nên chú trọng vào
việc kiểm tra và hình thành sự hiểu biết trong suốt khóa học. Ví dụ: yêu cầu
sinh viên áp dụng một khái niệm vào một lĩnh vực mà họ chưa được học,
thảo luận theo nhóm thì nên giúp họ tập trung vào ứng dụng thực tế.