BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN VĂN ĐỒNG
CẶP THOẠI CHỨA HÀNH ĐỘNG
CẦU KHIẾN - TỪ CHỐI
TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI NAM BỘ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN VĂN ĐỒNG
CẶP THOẠI CHỨA HÀNH ĐỘNG
CẦU KHIẾN - TỪ CHỐI
TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI NAM BỘ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 92.22.01.02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
GS. TS. ĐỖ THỊ KIM LIÊN
TS. NGUYỄN HOÀI NGUYÊN
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU................................................................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài......................................................................................................................... 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu....................................................................................... 2
3. Đối tượng nghiên cứu và nguồn ngữ liệu.......................................................................... 3
4. Phương pháp, thủ pháp nghiên cứu...................................................................................... 4
5. Đóng góp của luận án................................................................................................................ 5
6. Cấu trúc của luận án................................................................................................................... 5
Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ
LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI.......................................................................................................... 6
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu phát ngôn cầu khiến và phát ngôn từ chối....6
1.1.1. Tình hình nghiên cứu phát ngôn cầu khiến.......................................................... 6
1.1.2. Tình hình nghiên cứu phát ngôn từ chối............................................................. 12
1.2. Cơ sở lý thuyết....................................................................................................................... 14
1.2.1. Khái quát về vấn đề giao tiếp.................................................................................. 14
1.2.2. Lý thuyết hành động ngôn ngữ............................................................................... 15
1.2.3. Khái quát về vấn đề hội thoại.................................................................................. 18
1.2.3.4. Các đơn vị hội thoại................................................................................................ 22
1.2.4. Lý thuyết về hành động cầu khiến - từ chối....................................................... 25
1.2.5. Khái quát về phương ngữ và phương ngữ Nam Bộ........................................ 28
1.3. Tiểu kết chương 1................................................................................................................. 31
Chương 2. CẤU TẠO CẶP THOẠI CHỨA HÀNH ĐỘNG CẦU KHIẾN
- TỪ CHỐI TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI NAM BỘ........................................ 33
2.1. Khái niệm cấu tạo................................................................................................................. 33
2.2. Cấu tạo của cặp thoại chứa hành động cầu khiến - từ chối trong giao tiếp
của người Nam Bộ........................................................................................................................ 33
2.2.1. Mô hình cấu tạo cặp thoại chứa hành động cầu khiến - từ chối
trong giao tiếp của người Nam Bộ........................................................................ 33
2.2.2. Miêu tả các thành tố cấu tạo cặp thoại chứa hành động cầu khiến từ chối trong giao tiếp của người Nam Bộ......................................................... 43
4.1.1. Ở nước ngoài............................................................................................................... 118
4.1.2. Ở Việt Nam.................................................................................................................. 120
4.2. Lịch sự trong hội thoại..................................................................................................... 121
4.3. Vấn đề chiến lược lịch sự trong giao tiếp................................................................. 123
4.3.1. Khái niệm chiến lược............................................................................................... 123
4.3.2. Chiến lược lịch sự..................................................................................................... 124
4.3.3. Chiến lược lịch sự trong quan hệ với giảm lịch sự....................................... 125
4.3.4. Những nhân tố chi phối chiến lược lịch sự...................................................... 125
4.3.5. Vai giao tiếp và cách sử dụng phương tiện lịch sự....................................... 129
4.4. Biểu hiện chiến lược lịch sự trong giao tiếp của người Nam Bộ qua
cặp thoại cầu khiến - từ chối................................................................................................... 130
4.4.1. Biểu hiện chiến lược lịch sự qua hành động cầu khiến của người
Nam Bộ
130
4.4.2. Biểu hiện chiến lược lịch sự qua hành động từ chối của người
Nam Bộ
138
4.5. Những hành động cầu khiến - từ chối giảm lịch sự trong giao tiếp
của người Nam Bộ...................................................................................................................... 140
4.5.1. Một số hành động cầu khiến được xem là làm giảm lịch sự.....................140
4.5.2. Một số hành động từ chối được xem là giảm lịch sự................................... 143
4.6. Tiểu kết chương 4............................................................................................................... 145
KẾT LUẬN....................................................................................................................................... 147
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ...................151
Hành động cầu khiến
5
KC
Kết cấu chủ - vị nêu lí do
KC
Kết cấu chủ - vị cầu khiến ngược lại
KC
Kết cấu chủ - vị nhằm hướng đến lùi thời gian thực hiện
KC
Kết cấu chủ - vị đẩy vai thực hiện sang người khác
CV1
6
CV2
7
CV3
Thứ tự
14
TTTT
15
V
10
Pđ
Tiểu từ tình thái cuối phát ngôn
Vị ngữ
DANH MỤC BẢNG BIỂU THỐNG KÊ
Trang
Bảng 2.1. Các nhóm cấu tạo tham thoại trao chứa hành động cầu khiến...................36
Bảng 2.2. Các dạng tham thoại có cấu tạo tỉnh lược.......................................................... 38
Bảng 2.3. Các mô hình cấu tạo tham thoại chứa hành động từ chối............................39
Bảng 2.4. Các tham thoại từ chối cấu tạo 1 thành tố.......................................................... 39
Bảng 2.5. Các mô hình cấu tạo tham thoại từ chối là một kết cấu C - V...................40
Bảng 2.6. Các nhóm từ xưng hô................................................................................................ 45
Bảng 2.7. Các tiểu nhóm danh từ xưng hô chỉ Sp1 và Sp2............................................. 45
Bảng 2.8. Danh từ thân tộc thuộc phương ngữ Nam Bộ................................................... 47
Bảng 2.9. Các tiểu nhóm đại từ được dùng để xưng hô trong giao tiếp của người
Nam Bộ........................................................................................................................... 51
Bảng 4.3. Từ ngữ xưng hô thuộc phương ngữ Nam Bộ được dùng cho chiến lược
lịch sự khi cầu khiến
134
Bảng 4.4. Một số hành động cầu khiến giảm tính lịch sự............................................. 141
Bảng 4.5. Một số hành động từ chối giảm lịch sự............................................................ 143
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Hội thoại là đối tượng nghiên cứu của một số ngành khoa học, trong đó
có ngữ dụng học. Trong hội thoại, sự tương tác giữa cặp thoại luôn diễn ra một cách
chặt chẽ. Mục đích của mỗi cặp thoại, xét cho cùng là hướng tới hiệu quả giao tiếp
cao nhất mà người nói muốn đạt được. Điều này đúng với các cặp thoại chứa bất cứ
hành động ngôn ngữ nào.
Dùng ngôn ngữ tác động đến đối thể và muốn được đáp ứng một cách tối đa
là nhu cầu của mọi cá nhân thể hiện trong hoạt động giao tiếp. Do vậy, trong số các
hành động ngôn ngữ mà con người sử dụng, hành động cầu khiến xuất hiện khá
thường xuyên, giữ vai trò quan trọng. Trước một hành động cầu khiến được người
đối thoại đưa ra, sẽ có nhiều khả năng đáp lại, trong đó có hành động từ chối. Nghĩa
là, không phải lời cầu khiến nào cũng được người tham gia cuộc thoại đáp ứng một
cách đầy đủ. Mặt khác, từ chối cũng có nhiều cách thức khác nhau, với những biểu
hiện hết sức phong phú, tùy vào nhân vật, hoàn cảnh, văn hóa ứng xử, nội dung,
mục đích giao tiếp. Như vậy, tương tác giữa hành động cầu khiến và hành động từ
chối trong hai cặp thoại đối ứng là một vấn đề rất đáng được tìm hiểu thấu đáo.
1.2. Trong Việt ngữ học từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu
về câu cầu khiến, hành động cầu khiến, hành động từ chối cũng như nhiều hành
sự hiển thị của những biểu hiện văn hóa.
1.4. Trong bức tranh Việt ngữ, phương ngữ Nam Bộ có một vị trí riêng, màu
sắc riêng không thể lẫn lộn. Màu sắc riêng đó thể hiện qua các yếu tố ngữ âm, hệ
thống từ vựng, cú pháp, cách thức nói năng, văn hóa ứng xử trong giao tiếp. Có thể
nói, khảo sát bất cứ khía cạnh nào, ta cũng có thể nhận ra những nét đặc thù đó. Đã
từng có nhiều công trình nghiên cứu các bình diện của phương ngữ Nam Bộ rất có
giá trị, và nhờ vậy, bản sắc văn hóa của con người ở đây ngày càng được nhận thức
rõ nét hơn. Trong tình hình ấy, đặt vấn đề nghiên cứu cặp thoại chứa hành động cầu
khiến - từ chối trong giao tiếp của người Nam Bộ, chúng tôi không chỉ nhằm làm
sáng tỏ những khía cạnh của đối tượng ở bình diện ngôn ngữ học, mà còn muốn từ
đó, nhận diện thêm một số nét văn hóa, nhất là cách thức thể hiện lịch sự trong giao
tiếp của con người ở vùng đất này.
Đó là những lý do thúc đẩy chúng tôi chọn đề tài: Cặp thoại chứa hành
động cầu khiến - từ chối trong giao tiếp của người Nam Bộ để nghiên cứu.
0 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài Cặp thoại chứa hành động cầu khiến - từ chối trong giao tiếp của
người Nam Bộ có mục đích: làm sáng tỏ về cách ứng xử trong giao tiếp của người
Nam Bộ khi thực hiện hành động cầu khiến - từ chối. Đồng thời qua đề tài này góp
phần làm rõ lí thuyết hành động ngôn ngữ - cụ thể là hành động cầu khiến - từ chối
phù hợp với phương châm hội thoại và nét riêng của người Nam Bộ khi thực hiện
hành động này.
3
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi đặt ra các nhiệm vụ cơ bản như sau:
0 Giới thuyết một số vấn đề lý thuyết ngôn ngữ học thuộc phạm vi nghiên
cứu của đề tài.
1 Phân tích miêu tả các mô hình cấu tạo và ngữ nghĩa của cặp thoại chứa
4.1. Phương pháp điều tra điền dã hội thoại
Chúng tôi tiến hành thu thập ngữ liệu bằng hai cách: ghi âm và ghi chép trực
tiếp các cuộc thoại trong cuộc sống hàng ngày của những đối tượng được khoanh
vùng nghiên cứu là người Nam Bộ theo những tiêu chí sau:1/ Giới tính: nam - nữ, 2/
Quan hệ: gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, hàng xóm, người bán người mua, 3/ Độ
tuổi: từ 18 tuổi trở lên là người bản xứ hoặc sinh ra và lớn lên trên vùng đất Nam
Bộ, 4/ Hoàn cảnh phát ngôn: các cuộc giao tiếp tự nhiên diễn ra trong gia đình và
ngoài xã hội, 5/ Nội dung phát ngôn: là những nội dung diễn ra trong cuộc sống như
tình cảm gia đình, bạn bè, công việc,…
Từ tư liệu ghi âm, ghi chép được, chúng tôi ghi lại bằng văn bản các cặp
thoại có xuất hiện hành động cầu khiến - từ chối.
4.2. Phương pháp phân tích diễn ngôn
Sử dụng phương pháp này, chúng tôi luôn luôn gắn việc phân tích những cặp
thoại, tham thoại cầu khiến - từ chối cụ thể với những yếu tố trước và sau nó; với
bối cảnh không gian, thời gian với nhân vật giao tiếp để thấy được vai trò của phát
ngôn trong hành chức.
4.3. Phương pháp phân tích cấu tạo cặp thoại
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để phân tích cấu tạo, cách thức, sự
tương tác của các cặp thoại có hành động cầu khiến - từ chối của người Nam Bộ,
đồng thời, tổng hợp lại quá trình nghiên cứu để từ đó đưa ra những kết luận có giá
trị thực tiễn phù hợp với mục đích nghiên cứu của luận án.
4.4. Phương pháp phân tích ngữ nghĩa cặp thoại
Phương pháp này được sử dụng trong quá trình chúng tôi đi sâu phân tích
tương tác ngữ nghĩa của cặp thoại cầu khiến - từ chối trong những tình huống giao
tiếp cụ thể; nghĩa liên nhân giữa các vai giao tiếp khi thực hiện hành động cầu khiến
- từ chối.
Bên cạnh các phương pháp nêu trên, luận án chúng tôi còn sử dụng một số
thủ pháp sau:
0Thủ pháp so sánh:
Chúng tôi sử dụng thủ pháp này để so sánh, đối chiếu các cách thức cầu
Ngữ nghĩa của cặp thoại cầu khiến - từ chối trong giao tiếp của
người Nam Bộ
Chương 4:
Chiến lược lịch sự trong giao tiếp của người Nam Bộ qua hành
động cầu khiến - từ chối
6
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu phát ngôn cầu khiến và phát ngôn
từ chối
1.1.1. Tình hình nghiên cứu phát ngôn cầu khiến
Điểm lại lịch sử nghiên cứu câu, phát ngôn cầu khiến trong và ngoài nước,
chúng tôi thấy có 3 hướng tiếp cận sau đây:
1.1.1.1. Hướng nghiên cứu của các nhà ngữ pháp truyền thống về câu cầu khiến
0 Ở ngữ pháp tiếng nước ngoài
Nghiên cứu câu cầu khiến, ở nước ngoài, có một số tác giả, công trình nghiên
cứu sau:
Các tác giả trong Ngữ pháp tiếng Nga (1960) quan niệm “Câu cầu khiến biểu
thị sắc thái, mệnh lệnh đến yêu cầu và khuyên bảo…” [Dẫn theo 103, tr.9].
Tiếp đến, trong Ngữ pháp tiếng Nga (1980) và Ngữ pháp tiếng Nga (1990)
cho rằng, trong hệ thống câu phân loại theo mục đích (tức hệ thống lời nói) cần tính
đến câu mong muốn, một loại câu có hình thức và nội dung riêng, độc lập, phân lập
với câu cầu khiến và câu tường thuật. Ba lớp câu trên (cầu khiến, tường thuật và cầu
Chình (1963), Nguyễn Kim Thản (1964), Lê Văn Lý (1968), tập thể tác giả ngữ
pháp tiếng Việt UBKHXH (1983), Hoàng Trọng Phiến (1980), Diệp Quang Ban
(1999), Hồ Lê cũng đã có đề cập đến, cụ thể như sau:
Nguyễn Kim Thản (1964) trong Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, tập 2,
trong phần phân loại câu theo mục đích nói đã chú ý đến loại câu nghi vấn và cầu
khiến. Trong câu cầu khiến tác giả chia ra: câu cầu khiến trực tiếp và câu cầu khiến
gián tiếp. Trong câu nghi vấn, tác giả phân biệt loại câu nghi vấn chân chính với các
loại câu nghi vấn khác như câu nghi vấn tu từ học, câu nghi vấn khẳng định, câu
nghi vấn phủ định, câu nghi vấn cầu khiến. Trong công trình này, tác giả đã nhận
diện các động từ khi chúng mang ý nghĩa mệnh lệnh thì chúng thể hiện lời yêu cầu,
đề nghị hay mệnh lệnh của người nói (người viết) hướng tới người nghe (người đọc)
[107, tr.261].
Trong Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam (1968), Lê Văn Lý chia câu tiếng Việt ra
làm 13 loại: câu danh từ, câu động từ, câu khẳng định, câu phủ định, câu nghi vấn,
câu khuyến lệnh, câu biểu cảm, câu tự loại, câu đơn giản, câu đặt cạnh nhau, câu
liên kết, câu phụ thuộc và câu phức tạp. Như vậy, Lê Văn Lý gọi câu cầu khiến là
câu khuyến lệnh, loại câu mà người nói dùng để bộc lộ ý muốn của mình.
Tập thể tác giả ngữ pháp tiếng Việt UBKHXB (Viện ngôn ngữ) (1983), quan
niệm: Câu cầu khiến là nói chung về các trường hợp yêu cầu, chúc tụng, sai bảo…
[120, tr.204].
8
Hoàng Trọng Phiến (1980), trong Ngữ pháp tiếng Việt đã phân loại câu tiếng
Việt thành 4 loại: câu kể, câu cầu khiến, câu hỏi và câu than gọi. Về mặt hình thức,
câu cầu khiến được nhận diện bằng một số phương tiện hư từ và ngữ điệu. Về mặt
nội dung, câu cầu khiến nói lên ý muốn của chủ thể phát ngôn và yêu cầu người
nghe đáp lại bằng hành động [92, tr.228].
Hồ Lê, trong Cú pháp tiếng Việt (1991), phần phân loại câu theo mục đích nói cho
rằng, mỗi câu phát ra đều thuộc một trong bốn nhóm: trần thuật, nghi vấn, cầu khiến và
hành động này như một chuyên khảo.
Ngoài ra, có thể kể đến các tác giả nghiên cứu về phát ngôn cầu khiến theo
hướng ngữ pháp chức năng như: Morris (1938) [147], D. Hines (1974) [140], C.S
Dik (1989) [133], A. Siewierska (1991) [154], G. Luck (1996) [143],…
b. Ở trong nước
5888
Việt Nam, người mở ra hướng đi mới - ngữ pháp chức năng, là Cao
Xuân Hạo (1991) ông có đề cập đến trong Tiếng Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức năng
(1991).
Theo ông đối với tiếng Việt, căn cứ vào một số thuộc tính về cấu trúc cú pháp có thể
phân loại các câu ra thành hai loại lớn: câu trần thuật và câu nghi vấn và căn cứ vào
hình thức mà coi loại câu mệnh lệnh như một tiểu loại của câu trần thuật khác các
tiểu loại về tình thái,… mặc dầu xét về giá trị ngôn trung, câu hỏi gần với câu mệnh
lệnh hơn nhiều. Ông cho cả hai loại câu đều nhằm yêu cầu người đối thoại làm một
việc gì, chẳng qua trong câu hỏi thì việc đó cung cấp một thông tin, một tri thức,
còn trong câu mệnh lệnh thì việc đó là một hành động bất kỳ (trong đó có cả hành
động nói năng; Anh nói đi! Anh khai đi! Anh kể chuyện đi!… [54, tr.211].
Theo hướng ngữ pháp chức năng với Cao Xuân Hạo còn có các tác giả
Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng, Bùi Tất Tươm trong Sơ thảo ngữ pháp chức
năng (1992).
Vào đầu những năm 90, xuất hiện hàng loạt công trình nghiên cứu phát ngôn
cầu khiến theo hướng tiếp cận ngữ pháp chức năng, tiêu biểu như bài viết “Gián tiếp
và lịch sự trong cầu khiến tiếng Việt” của Vũ Thị Thanh Hương. Quan hệ “quyền”
và hành động cầu khiến của Nguyễn Thị Thanh Bình; Vai trò của hai động từ mong,
muốn trong việc biểu thị ý nghĩa cầu khiến trong tiếng Việt và cách biểu hiện hành
động cầu khiến gián tiếp bằng câu hỏi cầu khiến của Đào Thanh Lan...
Nghiên cứu về bản chất của phát ngôn cầu khiến, Đỗ Ảnh [5] đã nhận ra 3
ngôn ngữ và hành động đó được các nhà nghiên cứu gọi là hành động ngôn ngữ
(hành động ngôn từ).
J.R. Searle với lý thuyết hành động ngôn từ đã đề cập đến hành động cầu
khiến. Ông cho rằng cầu khiến là “Những cố gắng của SP1 sao cho SP2 thực hiện
một việc gì đó”. Searle đặc biệt quan tâm đến người nói và điều được nói. Khi phân
loại các hành động ngôn ngữ, Searle đã chia hành động ngôn ngữ thành
0 lớp chính, trong đó, có lớp hành động khuyến lệnh (directives), là “hành động
khuyến lệnh được người nói sử dụng để “áp đặt” người nào đó làm một cái gì đó;
chúng bộc lộ cái mà người nói muốn. Đó là những mệnh lệnh, những yêu cầu và
những gợi ý” [155, tr. 54].
Năm 1976, trong bài, “A classsification illocutionary acts” (phân loại các
hành động tại lời) J.R. Searle đã chia các hành động tại lời thành: ra lệnh (order),
11
đòi hỏi (demand), thỉnh cầu (request), cầu xin (beg), van xin (plead), nài nỉ
(entreat), cầu nguyện (pray), mời (invite), cho phép (permit) và khuyên (advise).
Hành động này có các đặc điểm sau:
0 Đích ngôn trung là người nói đặt người nghe vào sự thực hiện một hành
động nào đó;
- Hướng của hành động là làm cho hiện thực khớp với lời nói (world-towords) và điều kiện chân thành (sincerity) là muốn (hoặc khát khao);
5888
đó
Nội dung mệnh đề luôn là người nghe thực hiện một hành động nào
[153, tr.11].
Như vậy, Searle đã chỉ ra được mục đích tại lời của hành động cầu khiến là
nhằm để người tiếp nhận làm một việc gì đó; lời lẽ có trước và hiện thực thay đổi
theo lời lẽ, do người tiếp nhận thực hiện; trạng thái tâm lý là người nói mong muốn
hành động mà SP1 thực hiện nhằm buộc SP2 làm một điều gì đó theo ý muốn của
mình để đem lại lợi ích cho SP1 và thường gây thiệt hại cho SP2 ví như ra lệnh, yêu
cầu, nhờ vả, sai bảo,…
b. Ở trong nước
Ở Việt Nam, theo hướng nghiên cứu ngôn ngữ gắn với lời nói, trong đó, có
hành động cầu khiến, trước hết phải kể đến Đỗ Hữu Châu (1993). Trong giáo trình
Đại cương ngôn ngữ học, tác giả đã dành trọn chương ba trong tổng số sáu chương
cho hành động ngôn từ (hành vi ngôn ngữ). Ông đã phân tích kỹ lưỡng các dấu hiệu
ngôn hành, với động từ ngữ vi như một dấu hiệu quan trọng và chia động từ nói
năng thành ba loại: động từ nói năng vừa có thể dùng với chức năng ngôn hành vừa
có thể dùng với chức năng miêu tả; động từ chỉ được dùng với chức năng miêu tả và
động từ chỉ được dùng trong hiệu lực ngôn hành.
Tiếp sau Đỗ Hữu Châu, các tác giả Nguyễn Đức Dân [32], Nguyễn Thiện
Giáp [46], Đỗ Thị Kim Liên [78] cũng đã đề cập đến hành động cầu khiến dưới góc
nhìn ngữ dụng học.
Một số luận án, luận văn, bài viết có chú ý đến hành động cầu khiến như:
Trần Chi Mai [83], Đàm Thị Ngọc Ngà [87], Lưu Quý Khương [66],...
Tóm lại, cho đến nay, trên cả ba hướng: nghiên cứu của các nhà ngữ pháp truyền
thống về câu, hướng nghiên cứu của các nhà ngữ pháp chức năng và hướng nghiên cứu
của ngữ dụng học đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hành động cầu khiến. Tuy
nhiên, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu hành động cầu khiến trong giao tiếp của
người Nam Bộ. Vậy nên, từ các kết quả nghiên cứu hành động cầu khiến, chúng tôi tập
trung khảo sát hành động cầu khiến trong giao tiếp của người Nam Bộ.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu phát ngôn từ chối
Điểm qua các công trình nghiên cứu về hành động từ chối, chúng thôi thấy
có hai hướng tiếp cận: 1) Xem xét hành động từ chối một cách độc lập; 2) Xem xét
hành động từ chối trong quan hệ tương tác với hành động cầu khiến trong hội thoại.
1.1.2.2. Xem xét hành động từ chối trong quan hệ tương tác với hành động
cầu khiến
Hướng nghiên cứu hành động từ chối đặt trong sự tương tác với hành động
cầu khiến có ở môt số công trình sau:
Đỗ Thị Kim Liên nghiên cứu hành động cầu khiến và từ chối trong mối
tương tác lẫn nhau [77]. Tuy nhiên, nguồn ngữ liệu tác giả sử dụng để phục vụ cho
14
cuốn sách chuyên khảo của mình được lấy từ các tác phẩm văn học. Vì vậy, khi
nghiên cứu hành động cầu khiến - từ chối, tác giả chưa có điều kiện để chỉ ra sự đa
dạng của nó, cũng như nhận diện nét văn hóa đặc hữu của mỗi vùng miền khi thực
hiện hành động này.
Một số luận án tiến sĩ, luận văn, khoá luận, bài báo,… ở những mức độ nhất
định đã bàn đến mối quan hệ giữa hành động cầu khiến và hành động từ chối trong
giao tiếp của người Việt. Chẳng hạn, luận án tiến sĩ của Trần Chi Mai: “Phương
thức biểu hiện hành vi từ chối lời cầu khiến trong tiếng Anh (liên hệ với tiếng Việt)”
[83], luận văn của Võ Thị Thảo: “Hành động cầu khiến - từ chối trong giao tiếp của
người Hà Tĩnh” [109],...
Tóm lại, cho đến nay, vẫn chưa có một công trình cụ thể nào nghiên cứu hành
động từ chối trong tương tác với hành động cầu khiến của người Nam Bộ. Trên cơ sở
tiếp nhận những thành tựu của các tác giả đi trước, chúng tôi đi sâu nghiên cứu “Cặp
thoại chứa hành động cầu khiến - từ chối trong giao tiếp của người Nam Bộ”.
1.2. Cơ sở lý thuyết
1.2.1. Khái quát về vấn đề giao tiếp
Như chúng ta biết, “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của
con người” (Lê - nin). Bàn về khái niệm giao tiếp, cho đến nay còn có nhiều cách
định nghĩa khác nhau.
Tác giả I.U.V.Rodjestvenxki viết: “Một người có thể nói với một người khác