Luận văn kế toán kiểm toán : Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên của NSNN qua KBNN Sầm Sơn - Pdf 51

lời nói đầu
Sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, dưới sự khởi xướng và lãnh đạo
của Đảng đối với sự nghiệp, công cuộc đổi mới của đất nước, nước ta từ một
nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung, bao cấp chuyển sang nền kinh tế vận
hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.
Mỗi một nền kinh tế đều có những đặc điểm riêng, ảnh hưởng trực tiếp
việc sử dụng công cụ kinh tế – tài chính. Nền kinh tế thị trường với đặc điểm
bao trùm là Nhà nước khước từ sự can thiệp và kiểm soát trực tiếp đối với các
hoạt động của nền kinh tế – xã hội. Trong nền kinh tế thị trường phát triển
Nhà nước chỉ là “tên lính gác” đứng ngoài hoạt động các qui luật kinh tế điều
hành vĩ mô nền kinh tế bằng hệ thống pháp luật thống nhất và sử dụng triệt để
các công cụ kinh tế – tài chính. Ngân sách Nhà nước (NSNN) với tư cách
nhìn nhận mới thì mới đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển kinh tế – xã
hội: không tập trung quan liêu mà phải có một cơ chế hoàn chỉnh khuyến
khích sự năng động, sáng tạo của các chủ thể sử dụng nguồn vốn NSNN thúc
đẩy nhanh quá trình cải cách kinh tế, hạn chế những biến động lớn trong cơ
chế thị trường. Quản lý NSNN ở tầm vĩ mô nhưng có sự phân công, phân cấp
quản lý trên cơ sở phân cấp kinh tế và hành chính. Để phù hợp với tư duy đổi
mới của Đảng và Nhà nước, chức năng, nhiệm vụ của các quan trọng lĩnh vực
tài chính – ngân hàng cần phải đổi mới. Do đó nhiệm vụ quản lý quỹ NSNN
được chuyển cho Bộ Tài chính lập nên một hệ thống kho bạc Nhà nước
(KBNN) theo quyết định số 07/HĐBT và đi vào hoạt động ngày 01/4/1990
trải qua chặng đường hoạt động và phát triển trong điều kiện nền kinh tế đất
nước còn có nhiều khó khăn song hệ thống KBNN đã từng bước củng cố, ổn
định kiện toàn và làm tốt nhiệm vụ của mình. KBNN thực sự là công cụ của
Nhà nước trong việc phân phối lại thu nhập xã hội với chức năng kiểm tra,
kiểm soát mọi hoạt động tài chính; tập trung đầy đủ, kịp thời các nguồn thu
cho NSNN đồng thời sử dụng nguồn vốn sao cho đúng đối tượng, đúng mục
đích, tiết kiệm, hiệu quả. Trong những năm qua, bên cạnh những thành tựu

SV: Ngô Thị Hồng

bộ KBNN Sầm Sơn để đề tài hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày….. tháng….. năm 2005
Sinh viên: Ngô Thị Hồng
Lớp: K39/01.01
SV: Ngô Thị Hồng

Lớp: K39 – 01.01


Chương I

Lý luận chung về chi thường xuyên của ngân sách
Nhà nước và vai trò thực hiện kiểm soát chi ngân sách Nhà nước qua hệ
thống kho bạc Nhà nước

1.1. Lý luận chung về chi thường xuyên của Ngân sách Nhà nước.
1.1.1. Khái niệm và nội dung chi thường xuyên của NSNN.
Chi thường xuyên của NSNN là quá trình phân phối và sử dụng vốn từ
quỹ NSNN để đáp ứng nhu cầu chi gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ
thường xuyên của Nhà nước về quản lý kinh tế – xã hội đảm bảo an ninh quốc
phòng.
Quá trình phân phối thực chất là xác lập dự toán kinh phí và phân bổ
kinh phí chi thường xuyên của NSNN cho các cấp, các ngành, các đơn vị thụ
hưởng.
Quá trình sử dụng kinh phí chi thường xuyên của NSNN thực chất là
việc cấp kinh phí chi thường xuyên của ngân sách cho các cấp, các ngành, các
đơn vị để các cấp, các ngành, các đơn vị trang trải các chi phí thực hiện các
nhiệm vụ thường xuyên về quản lý kinh tế – xã hội và bảo đảm an ninh quốc
phòng đã được giao.

+ Các khoản chi để trả lãi tiền vay và lệ phí có liên quan đến các
khoản vay như: chi trả lãi tiền vay cho Nhà nước (trả lãi tín phiếu, trái phiếu
KBNN, tiền vay của NHNN theo lệnh của Chính phủ), chi trả lãi tiền vay
ngoài nước; lệ phí hoa hồng, lệ phí rút tiền, phí bảo hành…
+ Các khoản chi khác như: chi nộp ngân sách cấp trên, chi xử lý tài
sản được xác lập sở hữư Nhà nước, chi trả các khoản thu của năm trước, chi
bầu cử quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp, chi phí in đổi tiền.
1.2. Nội dung kiểm soát chi ngân sách Nhà nước qua kho bạc Nhà nước
1.2.1. Nguyên tắc quản lý, cấp phát, thanh toán các khoản chi ngân sách Nhà
nước qua kho bạc Nhà nước
- Tất cả các khoản chi ngân sách Nhà nước phải được kiểm tra, kiểm
soát trước, trong và sau. Các khoản chi phải có trong dự toán ngân sách Nhà
nước được duyệt, đúng chế độ tiêu chuẩn, định mức do cơ quan Nhà nước có

SV: Ngô Thị Hồng

Lớp: K39 – 01.01


thẩm quyền quy định và được thủ trưởng đơn vị sử dụng kinh phí ngân sách
Nhà nước chuẩn chi.
- Tất cả các cơ quan, đơn vị chủ dự án… sử dụng kinh phí ngân sách
Nhà nước mở tài khoản tại kho bạc Nhà nước , chịu sự kiểm tra, kiểm soát
của cơ quan tài chính, kho bạc Nhà nước trong quá trình lập dự toán, phân bổ
hạn mức cấp phát thanh toán, hạch toán, kế toán và quyết toán ngân sách Nhà
nước.
- Cơ quan tài chính có trách nhiệm thẩm định dự toán và thông báo
hạn mức kinh phí quý cho các đơn vị sử dụng ngân sách, kiểm tra việc sử
dụng kinh phí, xét duyệt quyết toán chi của các đơn vị và tổng hợp quyết toán
chi ngân sách Nhà nước.

* Đối tượng cấp tạm ứng:
- Chi hành chính
- Chi mua sắm tài sản, sửa chữa xây dựng nhỏ chưa đủ điều kiện cấp
phát, thanh toán trực tiếp hoặc tạm ứng theo hợp đồng.
* Mức cấp tạm ứng:
- Mức cấp tạm ứng thuộc vào tính chất của từng khoản chi theo đề
nghị của đơn vị sử dụng kinh phí ngân sách Nhà nước; Mức cấp tạm ứng tối
đa trong quý, tháng không vượt quá hạn mức chi quý, tháng được cơ quan có
thẩm quyền thông báo theo từng mục chi.
* Trình tự thủ tục tạm ứng:
- Đơn vị sử dụng kinh phí ngân sách Nhà nước gửi Kho bạc Nhà nước
các hồ sơ, tài liệu liên quan và kèm theo giấy rút hạn mức kinh phí trong đó
ghi rõ nội dung tạm ứng để Kho bạc Nhà nước có căn cứ giải quyết tạm ứng
và theo dõi khi thanh toán tạm ứng, cụ thể:
+ Đối với chi mua sắm tài sản, xây dựng, sửa chữa nhỏ:
- Dự toán mua sắm, sửa chữa nhỏ hàng quý được cơ quan có thẩm
quyền duyệt.
- Quyết định phê duyệt kết quả đấu thầu của cấp có thẩm quyền (dvo
trường hợp mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc, xây dựng sửa chữa
cần phải thực hiện đấu thầu theo quy định.
- Hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ).
+ Đối với khoản chi thường xuyên khác:
- Dự toán chi thường xuyên quý (có chia ra tháng) được duyệt
- Báo cáo thanh toán các khoản chi thường xuyên của tháng trước đó
theo các mục chi.

SV: Ngô Thị Hồng

Lớp: K39 – 01.01


- Lương, phụ cấp lương

SV: Ngô Thị Hồng

Lớp: K39 – 01.01


- Học bổng, sinh hoạt phí
- Các khoản chi đủ điều kiện cấp thanh toán trực tiếp
- Các khoản tạm ứng đủ điều kiện chuyển từ cấp tạm ứng sang cấp
phát thanh toán.
* Mức cấp thanh toán:
Mức cấp thanh toán căn cứ vào hồ sơ, chứng từ chi ngân sách Nhà
nước theo đề nghị của đơn vị sử dụng kinh phí ngân sách Nhà nước. Mức cấp
thanh toán tối đa trong tháng, quỹ, năm không vượt quá hạn mức được cơ
quan có thẩm quyền thông báo, trong phạm vi dự toán ngân sách Nhà nước
năm được duyệt
* Trình tự thủ tục cấp thanh toán:
- Khi có nhu cầu cấp phát thanh toán, các đơn vị sử dụng kinh phí
ngân sách Nhà nước gửi Kho bạc Nhà nước các hồ sơ tài liệu, chứng từ thanh
toán có liên quan.
- Kho bạc Nhà nước kiểm tra, kiểm soát tính hợp lệ, hợp pháp các hồ
sơ, chứng từ; đối chiếu với dự toán và kinh phí được cơ quan có thẩm quyền
cấp nếu đủ điều kiện như nói tại điểm II.1. nêu trên thì thực hiện thanh toán
trực tiếp cho các đơn vị cung cấp hàng hoá, dịch vụ hoặc chi trả qua đơn vị.
1.2.3.. Kiểm soát và lưu giữ chứng từ tại Kho bạc Nhà nước.
- Đối với những khoản chi Kho bạc Nhà nước thanh toán trực tiếp, đơn
vị phải gửi Kho bạc Nhà nước toàn bộ hồ sơ chứng từ liên quan để kiểm soát.
Kho bạc Nhà nước kiểm tra các hồ sơ chứng từ, đóng dấu “Đã thanh toán” và
trả lại đơn vị. Kho bạc Nhà nước chỉ lưu dự toán ngân sách được duyệt, bảng

- Kiểm tra đầu, chữ kỹ của chủ tài khoản (hoặc người được uỷ quyền),
kế toán trưởng (hoặc người được uỷ quyền) bảo đảm khớp đúng với mẫu dấu,
chữ ký đã đăng ký tại KBNN.
- Kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN được sử dụng đúng mục
đích, đúng đối tượng được duyệt.
* Quy trình kiểm soát chi NSNN qua KBNN:
- Khi có nhu cầu chi tiêu, đơn vị sử dụng kinh phí NSNN lập và gửi
KBNN nơi mở tài khoản giao dịch các hồ sơ, tài liệu, chứng từ thanh toán
theo quy định.
- Bộ phận kiểm soát chi NSNN tiếp nhận hồ sơ, chứng từ chi của các
đơn vị gửi đến và thực hiện kiểm tra, kiểm soát các đơn vị gửi đến và thực
hiện kiểm tra, kiểm soát các khoản chi theo đúng quy định trình thủ trưởng
KBNN xem xét, phê duyệt:

SV: Ngô Thị Hồng

Lớp: K39 – 01.01


+ Trường hợp các khoản chi chưa đủ điều kiện cấp thanh toán hoặc
cấp tạm ứng, do hồ sơ, chứng từ chi chưa đầy đủ, hoặc viết sai các yếu tố tên
chứng từ..., thì trình thủ trưởng KBNN trả lại hồ sơ, chứng từ, yêu cầu đơn vị
hoàn chỉnh hồ sơ, chứng từ liên quan, theo đúng quy định, để KBNN có căn
cứ thẩm định và cấp phát.
+ Trường hợp phát hiện các khoản chi tiêu sai chế độ, thì trình thủ
trưởng KBNN từ chối không cấp phát, thanh toán và trả lại hồ sơ, chứng từ
chi cho đơn vị, đồng thời thông báo và giải thích rõ lý do từ chối cho đơn vị,
cơ quan Tài chính đồng cấp và KBNN cấp trên (đối với những khoản chi
thuộc NSNN cấp trên) biết để giải quyết.
- Thủ trưởng KBNN xem xét việc thẩm định, kiểm tra, kiểm soát và ý

* Báo cáo và quyết toán chi NSNN:
Điện báo: Hàng ngày, các đơn vị KBNN điện báo cho KBNN cấp trên
và cơ quan tài chính đồng cấp số chi NSNN trên địa bàn theo quy định.
Báo cáo: Hàng tháng, các đơn vị KBNN lập báo cáo chi NSNN theo
mục lục NSNN (nêu rõ số tạm ứng và thực chi NSNN), theo từng cấp ngân
sách gửi cơ quan tài chính đồng cấp và KBNN cấp trên; KBNN TW tổng hợp
tình hình chi NSNN báo cáo cho Bộ Tài chính.
Quyết toán : Cuối kỳ, các đơn vị KBNN xác nhận số thực chi NSNN
của KBNN cho các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN trên địa bàn. Cuối năm,
các đơn vị KBNN thực hiện quyết toán chi NSNN gửi KBNN cấp trên theo
chế độ hiện hành.
+ Thu hồi giảm chi NSNN:
Trong quá trình cấp phát, thanh toán sẽ có những khoản chi phải thu
hồi nộp NSNN, căn cứ quyết định thu hồi giảm chi NSNN của cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền và giấy nộp tiền vào NSNN của các đơn vị; KBNN là thủ
tục ghi giảm chi NSNN. Các khoản chi từ mục nào thì khi thu hồi được ghi
giảm chi theo đúng mục đó của mục lục NSNN.
Căn cứ vào các chứng từ có liên quan, kế toán KBNN khôi phục lại
hạn mức kinh phí của đơn vị tương ứng với số tiền đã thu hồi đó.
1.3. Sự cần thiết kiểm soát chi ngân sách Nhà nước qua hệ thống kho bạc Nhà
nước
1.3.1. Sự hình thành và phát triển hệ thống Kho bạc Nhà nước.
Cách mạng tháng 8/1945 thành công cùng với sự ra đời của Chính phủ
Cách mạng nước Việt Nam chính thức thành lập. Để có một cơ quan chuyên
môn đặc trách giải quyết các vấn đề tài chính tiền tệ, ngày 29/5/1946. Chủ
SV: Ngô Thị Hồng

Lớp: K39 – 01.01



doanh tiền tệ – tín dụng, nhiệm vụ quản lý quỹ NSNN, các quỹ tài chính Nhà
SV: Ngô Thị Hồng

Lớp: K39 – 01.01


nước dj chuyển giao từ Ngân hàng Nhà nước sang Bộ Tài chính để hệ thống
tài chính trực tiếp thực hiện chức năng quản lý tài chính và điều hành NSNN.
Trên cơ sở kinh nghiệm đã tích luỹ được trong những năm hoạt động
của Ngân khố Quốc gia, qua tham khảo kinh nghiệm tổ chức kho bạc, kế toán
Nhà nước của Pháp và một số mới, đặc biệt là kết quả làm thí điểm KBNN ở
2 tỉnh Kiên Giang và An Giang, Bộ Tài chính đã trình HĐBT đề án thành lập
hệ thống KBNN trực thuộc Bộ Tài chính. Ngày 04/1/1990, HĐBT đã ký
Quyết định số 07/HĐBT về việc thành lập hệ thống KBNN trực thuộc Bộ Tài
chính.
Từ thực tế 5 năm hoạt động và phát triển, để tiếp tục khẳng định vai
trò, vị trí của hệ thống KBNN trong nền kinh tế, đồng thời tạo môi trường
pháp lý thuận lợi cho KBNN hoạt động, ngày 05/4/1995, Chính phủ đã ban
hành. Nghị định số 25/CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy
KBNN trực thuộc Bộ Tài chính. Qtri hoạt động của hệ thống KBNN qua hơn
10 năm qua khẳng định KBNN là công cụ sắc bén quản lý nền tài chính quốc
gia.
1.3.2. Chức năng, nhiệm vụ quản lý chi ngsa Nhà nước của Kho bạc Nhà nước.

KBNN là tổ chức trực thuộc Bộ Tài chính, có nhiệm vụ giúp Bộ
trưởng Bộ Tài chính thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về quỹ NSNN
(bao gồm cả quỹ ngoại tệ tập trung của Nhà nước) quỹ dự trữ tài chính Nhà
nước; tiền, tài sản tạm thu, tạm giữ; huy động vốn cho NSNN và cho đầu tư
phát triển. Trong đó nhiệm vụ truyền thống và quan trọng nhất của KBNN là
quản lý quỹ NSNN bởi vì quỹ NSNN là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất. Sự

- Tổ chức hạch toán kế toán các khoản chi NSNN theo MLNS
- Thống kê báo cáo do Bộ Tài chính, KBNN Trung ương quy định.
- Hàng quý, xác nhận số thực chi NSNN qua KBNN của các đơn vị sử
dụng kinh phí NSNN.
Mặt khác, KBNN cung cấp số liệu, tình hình chi NSNN, các thông tin
cần thiết về tiến độ và khả năng đáp ứng qua các thời kỳ. Dựa vào số liệu tại
KBNN, KBNN tiến hành phân tích khả năng đáp ứng nhu cầu chi để kịp thời
đề xuất, kiến nghị với cơ quan Tài chính nhằm tạo điều kiện đảm bảo nguồn
chi từ đó phát huy có hiệu quả phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
1.3.3. Sự cần thiết phải tăng cường công tác kiểm soát chi qua KBNN
Luật NSNN được thông qua ngày 20/3/1996 tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội
khoá VI và luật NSNN sửa đổi là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc đổi mới
cơ chế quản lý NSNN. Tuy nhiên, để luật NSNN đi vào cuộc sống đòi hỏi một
loạt công việc chuẩn bị triển khai thực hiện trong đó việc hoàn thiện cơ chế
SV: Ngô Thị Hồng

Lớp: K39 – 01.01


kiểm soát, cấp phát các khoản chi NSNN theo luật là một yêu cầu tất yếu
khách quan và có ý nghĩa to lớn.
Cho đến ngày 31/12/1996 cơ chế quản lý tài chính đã có nhiều thay
đổi nhằm đáp ứng những yêu cầu thực tiễn khi nền kinh tế đang trong quá
trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Bộ máy tổ chức của ngành tài
chính được sắp xếp, kiện toàn theo Nghị định số 178/CP ngày 28/10/1994 của
Chính phủ, Nghị định số 87/CP quy định về việc phân cấp quản lý, lập, chấp
hành và quyết toán NSNN. Song cơ chế quản lý cấp phát, chi trả NSNN (cơ
chế kiểm soát chi NSNN) về cơ bản vẫn áp dụng theo Nghị định 168/CP ngày
20/10/1961 của Hội đồng Chính phủ ban hành trong thời kỳ kế hoạch hoá tập
trung, bao cấp; KBNN, cơ quan tài chính chưa phát huy vai trò kiểm tra, kiểm

gác kiểm soát cuối cùng” được Nhà nước giao nhiệm vụ kiểm soát trước khi
đồng vốn của Nhà nước ra khỏi quỹ NSNN.
Nước ta còn nghèo đồng vốn quá eo hẹp, việc huy động khai thác nội
lực chưa cao trong khi đó nhu cầu chi tiêu của NSNN qua các năm ngày càng
tăng năm sau cao hơn năm trước bình quân trên 10%: Năm 1990: 10 nghìn tỷ
đồng; năm 1991: 13,6 nghìn tỷ đồng; năm 1992: 30 nghìn tỷ đồng; năm 1993:
40 nghìn tỷ đồng; năm 1994: 53 nghìn tỷ đồng; năm 1995: 72 nghìn tỷ đồng.
Thực hiện kiểm soát chi tạo điều kiện để sử dụng đồng vốn có hiệu quả đồng
thời phát hiện thêm nguồn thu để tăng thu cho ngân sách nhất là qua việc
kiểm soát chi ở lĩnh vực mua sắm tài sản, trang thiết bị máy móc, vật tư...
Ngân sách Nhà nước không phải là vô tận, đều là tiền của, công sức
lao động của nhân dân đóng góp, nó không thể bị thất thoát, lãng phí. Năng
lực sản xuất sẽ còn lớn hơn rất nhiều, đời sống người dân còn được nâng cao
và niềm tin của người dân vào đường lối đổi mới sẽ còn vững chắc hơn nếu
chúng ta có một cơ chế kiểm soát chi hoàn chỉnh. Qua phân tích ta thấy thực
hiện kiểm soát chi NSNN nói chung là rất cần thiết trong đó việc kiểm soát
các khoản chi thường xuyên vì đây là một nhóm chi chiếm tỷ trọng lớn trong
chi NSNN và có số lượng thất thoát đáng kể.

SV: Ngô Thị Hồng

Lớp: K39 – 01.01


Chơng 2
Thực trạng công tác kiểm soát chi ngân sách Nhà nớc qua kho bạc Nhà
nớc Sầm Sơn.

2.1. Tình hình kinh tế xã hội và khái quát về kho bạc Nhà nớc Sầm Sơn.
2.1.1. Tình hình kinh tế – xã hội Sầm Sơn.

kiểm soát trực tiếp các khoản chi ngân sách Nhà nớc.

2.1.2. Khái quát về kho bạc Nhà nớc Sầm Sơn
Kho bạc Nhà nớc Sầm Sơn ra đời cùng với sự ra đời của hệ thống kho
bạc Nhà nớc Việt Nam theo quyết đính số 07/HĐBT của Hội đồng bộ trởng
chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/04/1990. Từ đó đến nay kho bạc
không ngừng lớn mạnh và vơn lên hoàn thành nhiệm vụ đợc giao, hiện nay
kho bạc Nhà nớc Sầm Sơn có bộ máy tổ chức nh sau:
Giám đốc

Phó giám đốc

Bộ phận KH –
Thanh toán vốn
đầu t XDCB

Bộ phận kế
toán

Bộ phận hành
chính bảo vệ

Bộ phận
kho quỹ

Kho bạc Nhà nớc Sầm Sơn gồm có 12 ngời trong đó:
- Ban giám đốc: 2 ngời
- Cán bộ nghiệp vụ: 10 ngời. Đợc chia thành 4 bộ phận:
+ Bộ phận kế toán 5 ngời.
+ Bộ phận kế hoạch thanh toán đầu t XDCB 1 ngời.

Qua bảng 1 ta thấy tốc độ chi ngân sách Nhà nớc hàng năm đang rất
nhanh. Trong đó chi thờng xuyên là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn nhất trong
tổng chi ngân sách Nhà nớc. Năm 2002 thực tế chỉ là 3741568 triệu đồng Việt
Nam đạt 95,64% so với kế hoạch và chiếm 85,175% trong tổng chi ngân sách
Nhà nớc Sang năm 2003 thực chi là 4876137 triệu đồng chiếm 99,85% trong
tổng chi ngân sách Nhà nớc.Qua bảng số liệu trên ta nhận thấy: Năm 2003 chi
tăng so với năm 2002 là 113456 triệu đồng tong ứng tỷ lẹ vợt là 30,323% nhng tỷ trọng của khoản chi này trong tổng chi ngân sách Nhà nớc đây là một sự
cố gắng rất lớn và là thành quả của kho bạc Nhà nớc Sầm Sơn nói riêng và
trong công tác thực hiện kiểm tra, kiểm soát các khoản chi trả, một số khoản
chi trực tiếp đến từng đối tợng thụ hởng cho ngân sách Nhà nớc. Vì vậy phần
SV: Ngô Thị Hồng

Lớp: K39 – 01.01


nào đó đáng kể khoản chi này, tạo điều kiện cho ngân sách Nhà nớc đầu t vào
phát triển kinh tế – xã hội.
2.2.2. Công tác kiểm soát chi thờng xuyên ngân sách Nhà nớc qua kho bạc Nhà nớc
Sầm Sơn.
2.2.2.1. Kiểm soát, cấp phát, thanh toán đối với cơ quan Nhà nớc thực hiện khoán
chế và khoán hành chính.

2.2.2.1.1. Theo Thông t số 812002/VT – BTC về hớng dẫn kiểm soát
chi đối với cơ quan hành chính Nhà nớc thực hiện khoán biên chế và kinh phí
quản lý hành chính đơn vị thực hiện chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự
nghiệp có thu. Căn cứ vào thông t liên tịch số 17/2002/TTLB – BTC –
BTCCBCP ngày 08/02/2002 của Bộ Tài chính và Ban tổ chức – Cán bộ chính
phủ và đề án thực hiện thí điểm khoán xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ va
quy chế trả lơng để hội nghị cán bộ cong chức cơ quan quyết định, gửi cơ
quan tài chính và kho bạc Nhà nớc đồng cấp để làm căn cứ cấp phát, thanh

- Lệnh chuẩn chi.
- Giấy rút hạn mức kinh phí kèm theo bảng kê chi tiết khoản chi theo
mục lục ngân sách (đối với các khoản chi đã xác định đợc nội dung chi) làm
căn cứ cho kho bạc Nhà nớc hạch toán chi ngân sách Nhà nớc. Do kinh phí
đợc cấp vào mục 134 (chi khác) nhng theo quy định hiện hành khi rút hạn
mức kinh phải từ mục 134 chi tiết ra các mục chi của mục lục ngân sách Nhà
nớc Vì vậy đối với những khoản chi chứa xác định đợc nội dung chi thì kho
bạc Nhà nớc tạm thời hạch toán vào mục 134 và yêu cầu đơn vị phải xác định
rõ mục chi ngân sách Nhà nớc cho từng khoản chi trớc khi thực hiện thanh
toán lần sau:
* Cấp phát thanh toán đối với một số khoản chi chủ yếu.
- Chi tiền lơng tiền công
+ Đối với lơng cấp bậc và chức vụ: Kho bạc Nhà nớc cứ vào mục
100,101,102 trong dự toán phân bổ theo mục lục ngân sách Nhà nớc để thanh
toán cho đơn vị.
+ Đối với các phần lơng tăng thêm; kho bạc Nhà nớc căn cứ vào phơng
án sử dụng nguồn kinh phí tiết kiệm đợc cấp có thẩm quyền phê duyệt phù
hợp với quy định tại điểm 7 mục lục II thông t liên tịch 17/2002/TTLT – BTC
– BTCCBCP ngày 08/02/2002 của Bộ Tài chính và Ban Tổ chức- Cán bộ
chính phủ để kiểm tra và thực hiện thanh toán cho đơn vị
- Chi phí hành chính, nghiệp vụ chuyên môn: Trên cơ sở kinh phí đợc
khoán, kho bạc Nhà nớc thực hiện thanh toán theo đề nghị của thủ trởng đơn
vị.
SV: Ngô Thị Hồng

Lớp: K39 – 01.01


- Chi mua sắm vật t, sửa chữa thờng xuyên tài sản cố định thực hiện
theo quy định hiện hành.

Lớp: K39 – 01.01


Đơn vị khoán chi quyết toán kinh phí theo đúng các mục chi của mục
lục ngân sách Nhà nớc. Xác nhận thực thi theo mụ lục ngân sách của kho bạc
Nhà nớc nơi mở tài khoản giao dịch là cơ sở để đơn vị quyết toán gửi cơ quan
quản lý cấp trên và cơ quan tài chính đồng cấp.
2.2.2.2. Kiểm soát, cấp phát thanh toán đối với đơn vị thực hiện cơ chế
tài chính đơn vị sự nghiệp có thu
* Điều kiện cấp phát thanh toán.
Kho bạc Nhà nớc chi thực hiện cấp phát, thanh toán cho đơn vị khi có
đủ các điều kiện sau:
- Đã có trong dự toán cơ quan có thẩm quyềt duyệt.
+ Đối với năm đầu tiên, đơn vị phân bổ dự toán đã đợc bộ chủ quản
duyệt (đối với đơn vị sự nghiệp TW) chủ tịch UBND các cấp duyệt đối với
đơn vị sự nghiệp địa phơng (chi tiết theo mục lục Ngân sách Nhà nớc và một
số nội dung chi chủ yếu gửi cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan tài chính và
kho bạc Nhà nớc nơi giao dịch. Hai năm tiếp theo là dự toán do đơn vị lập.)
+ Trờng hợp các khoản chi đột xuất ngoài dự toán, đợc duỵêt nhng
không thể từ hoãn đợc nh khắc phục hậu quả thiên tai, hoả hoạn ….kb Nhà nớc căn cứ vào quyết định của cơ quan có thẩm quyền dự toán trong vòng 1
tháng kể từ ngày phát sinh khoản chi đó.
+ Đối với các khoản chi hoạt động thờng xuyên, nếu đâuf năm đơn vị
cha có dự toán đợc duyệt. Trên cơ sở đề nghị của đơn vị. Kho bạc Nhà nớc
xem xét tạm ứng cho đơn vị bình quân bằng 1 tháng chi hoạt động thờng
xuyên của năm trớc đó.
_ Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do cơ quan Nhà nớc có thẩm
quyền quy định.
+ Đối với những khoản chi phải tuân thủ chuẩn định mức, chế độ chung
của Nhà nớc (quy định tại điểm 3 mục I của thông t 81/2002 thị trờng - BTC)
thì mức chi không vợt qúa tiêu chuẩn, định mức, chề độ quy định

duyệt. Kho bạc Nhà nớc Sầm Sơn ra đời và phát triển hơn 10 năm, nhịp độ
phát triển, nhanh nên các khoản chi thờng xuyên của ngân sách Nhà nớc có
khối lợng lớn, tăng nhanh theo các năm song kho bạc Nhà nớc Sầm Sơn trong
thời gian qua đã đáp ứng đầy đủ và kịp thời thực hiện chi ngân sách theo luật
đồng thời tất cả các khoản chi ngân sách Nhà nớc đợc kiểm soát chặt chẽ từ
khâu lập dự toán, chấp hành dự toán và quyết toán dự toán các khoản chi.

SV: Ngô Thị Hồng

Lớp: K39 – 01.01


Để đánh giá việc kiểm soát các khoản chi thờng xuyên của kho bạc Nhà
nớc Sầm Sơn trong giai đoạn 2002- 2003 (ta xem xét tình hình kiểm soát chi
thờng xuyên của ngân sách Nhà nớc trên địa bàn Sầm Sơn qua kho bạc Nhà
nớc Sầm Sơn theo hạn mức kinh phí trong 2 năm 2002 - 2003) Ta có bảng 2
Theo số liệu bảng 2: Thực chi thờng xuyên của ngân sách Nhà nớc năm
2002 là 3741568 triệu đồng, đạt 95,64% so với kế hoạch, thực chi năm 2003
là 4876137 triệu đồng, đạt 99,85% so với kế hoạch.
Thực chi thờng xuyên năm 2003 tăng so với năm 2002 là 1134569 triệu
đồng Việt Nam tơng ứng tăng 30,32%. Nh vậy là chi thờng xuyên của ngân
sách Nhà nớc theo hạn mức kinh phí qua kho bạc Nhà nớc đạt kế hoạch khá
cao và có xu hớng tăng dần.
Công tác kiểm soát cấp phát các khoản chi thờng xuyên của ngân sách
Nhà nớc theo hạn mức kinh phí qua kho bạc Nhà nớc Sầm Sơn cần đợc xem
xét cụ thể hơn thông qua các mục chi.
* Nhóm chi cho con ngời: Theo số liệu phản ánh ở bảng 2 cho thấy
khoản chi cho con ngời năm sau cao hơn năm trớc. Thực chi năm 2002 là
2166156 triệu đồng đạt 8,7% so với chi năm 2003 là 3032617 triệu đồng tăng
866461 triệu đồng so với năm 2002 tơng ứng là 40% thực chi 2003 đạt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status