BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI
THƯƠNG VIỆT NAM
LƯU THỊ HỒNG HẠNH
HÀ NỘI - Năm 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI
THƯƠNG VIỆT NAM
Chuyên ngành:Quản trị kinh doanh
Mã số: 8340101
LƯU THỊ HỒNG HẠNH
Người hướng dẫn: PGS.TS. Đào Thị Thu Giang
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
13
1.2.
Lợi ích của doanh nghiệp khi thực hiện trách nhiệm xã hội
18
1.2.1.
Giảm chi phí, tăng năng suất
18
1.2.2.
Tăng doanh thu
20
1.2.3.
Tăng giá trị thương hiệu
22
1.2.4.
38
38
2.1.1.
Lịch sử hình thành
38
2.1.2.
Cơ cấu tổ chức
41
2.2.
Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của VCB
45
2.2.1.
Bảo vệ môi trường
45
2.2.2.
Đóng góp cho cộng đồng và xã hội
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM
XÃ HỘI TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
3.1.
Mục tiêu phát triển bền vững tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương VN
68
68
3.1.1.
Nhóm mục tiêu đối với người lao động và cổ đông
68
3.1.2.
Nhóm mục tiêu đối với khách hàng và các đối tác
68
3.1.3.
Nhóm mục tiêu đối với xã hội
68
3.2.
Môt số giải pháp nâng cao trách nhiệm thực hiện trách nhiệm xã hội tại Ngân
81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
83
PHỤ LỤC
I
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “Trách nhiệm xã hội tại Ngân hàng TMCP Ngoại
thương Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu trích dẫn, kết
quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Hà Nội, ngày
tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Lưu Thị Hồng Hạnh
2
LỜI CẢM ƠN
Chương 2 tác giả đề cập đến thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại Ngân
hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam. Nhìn chung, Ngân hàng TMCP Ngoại thương
Việt Nam đã có sự chủ động trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội, từ đó đem lại
sự hài lòng cho các đối tượng hữu quan liên quan bao gồm khách hàng, người lao
động, cổ đông, các đối tác và toàn xã hội. Tuy nhiên việc thực hiện trách nhiệm xã
hội tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế mà
nguyên nhân chủ yếu đến từ việc chưa thực hiện CSR một cách đồng bộ và có kế
hoạch.
Vì vậy, chương 3 tác giả đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao việc thực
hiện trách nhiệm xã hội tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam. Trong
chương này tác giả tập trung vào một số giải pháp cụ thể và có tính thực thi cao dựa
trên các nguồn lực sẵn có tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam.
4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Chữ viết tắt
ABBANK
ADB
Ngân hàng TMCP An Bình
Asian Development Bank - Tổ chức ngân hàng phát triển
châu Á
BHXH
Bảo hiểm xã hội
PTBV
Phát triển bền vững
PVCOMBANK
Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam
United Nations Conference on Environment and
UNCED
Development – Liên hiệp Quốc tế về môi trường và phát
triển
TNXH
Trách nhiệm xã hội
TPBANK
Ngân hàng TMCP Tiên Phong
VCB
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
VCCI
Vietnam Chamber of Commerce and Industry – Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Danh mục bảng biểu:
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu kinh doanh chủ yếu của Vietcombank giai đoạn 2015 –
2017 ........................................................................................................................... 44
Bảng 2.2: Chi phí hoạt động toàn hệ thống VCB từ năm 2014 – 2016 .................... 53
Bảng 2.3: Chi phí nhân viên của VCB từ năm 2014-2016 ............................. 55
Bảng 2.4: Chi phí tiền lương của VCB từ 2014-2016 .............................................. 56
Bảng 2.5: Điểm khảo sát mức độ hài lòng của nhân viên Vietcombank .................. 61
5
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, trách nhiệm xã hội (CSR) ngày càng
trở thành một đề tài được quan tâm và càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết tại
Việt Nam sau một loạt các vụ việc báo động về việc ô nhiễm môi trường, an toàn
thực phẩm, tai nạn lao động…Các vụ việc trên thể hiện sự thiếu trách nhiệm trong
quá trình hoạt động; sự yếu kém trong công tác quản lý cũng như sự mất cân bằng
trong định hướng chiến lược dài hạn của các doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập, sự cạnh tranh ngày càng trở
nên gay gắt, các doanh nghiệp đang từng ngày nỗ lực để tối đa hóa lợi nhuận và gia
tăng hình ảnh của mình trong mắt khách hàng, các ngân hàng cũng không nằm
ngoài quy luật này. Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCB)
có lịch sử 55 năm hoạt động, là một trong những ngân hàng thương mại lớn nhất
Việt Nam, VCB đã khẳng định thương hiệu và vị thế trong lĩnh vực tài chính ngân
hàng. Để đạt được định hướng đã đặt ra là trở thành ngân hàng số 1 tại Việt Nam và
là 1 trong 300 tập đoàn tài chính lớn nhất thế giới đến năm 2020, VCB đã nhận thức
sâu sắc CSR là một trong những công cụ hữu dụng để đạt được các mục tiêu của
tổn hại đến các quyền và lợi ích của người khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi
hoàn những thiệt hại do các doanh nghiệp làm tổn hại cho xã hội, (H.R.Bowen,
Social Responsibilities of the Businessmen, 1953).
CSR là một đề tài nghiên cứu gây chú ý và có nhiều tranh luận và có nhiều
công trình nghiên cứu được công bố trên thế giới trong suốt nhiều thập kỷ qua. Các
đề tài nghiên cứu này có thể chia thành 4 nhóm nội dung như sau:
Nhóm 1: Nghiên cứu đưa ra những lý luận cơ bản về Trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp. Tùy từng góc độ tiếp cận của mỗi tác giả để đưa ra các quan điểm về
trách nhiệm xã hội và bảo vệ quan điểm đó. Các bài nghiên cứu này thường có tính
chất kế thừa và phát huy những bài nghiên cứu trước đó.
Một số bài nghiên cứu tiêu biểu thuộc nhóm 1 có thể kể đến:
- Fredman Milton, “The social responsibility of business is to increase its profit”
(1970), cho rằng doanh nghiệp chỉ có một trách nhiệm xã hội là làm sao để tối đa
hóa lợi nhuận, tăng giá trị cho doanh nghiệp bằng việc kinh doanh đúng luật pháp.
Theo nghiên cứ này ông cho rằng trách nhiệm xã hội là của nhà nước, nên người
chủ doanh nghiệp, đại diện cho các cổ đông, chỉ thực hiện các trách nhiệm xã hội
mà anh ta mong muốn theo ý kiến của các cổ đông.
- A. Carroll trong cuốn The Pyramid of corporate Social responsibility: Toward
7
the moral management of organizational steakholders (1991) đã đóng góp mô hình
kim tự tháp CSR nổi tiếng với bốn khía cạnh của CSR (khía cạnh kinh tế, pháp lý,
đạo đức và từ thiện), mang lại một cách nhìn mới và đầy đủ hơn về CSR và được
làm tiền đề phát triển nghiên cứu và được ứng dụng nhiều trong hoạt động CSR của
các doanh nghiệp sau này.
Tóm lại, tuy các quan điểm nghiên cứu về CSR trong nhóm này có khác nhau
trong từng thời kỳ nhưng vẫn có tính kế thừa và phát triển thêm các lý luận mới mẻ.
Tất cả các quan điểm đều chỉ ra được mức độ gắn kết của CSR đối với doanh
thiếu các cách tính toán ảnh hưởng của CSR đến năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp. Nghiên cứu tập trung vào việc đưa ra đáp án cho câu hỏi: “Làm thế nào để
tính toán được ảnh hưởng của các hoạt động CSR đến doanh nghiệp” và sử dụng
mô hình các bước đánh giá có thể giúp các nhà quản trị trong công việc này.
- Wayne Visser, D. Matten, Manfred Pohl, Nick Tolhurst, The A to Z of
corporate social responsibilities (2008) đã kịp thời đưa ra một loạt các hướng dẫn,
quy định, điều lệ, tiêu chuẩn về CSR, tính bền vững và đạo đức kinh doanh. Ngoài
các định nghĩa về các thuật ngữ quan trọng liên quan đến CSR, cuốn sách cũng bao
gồm tất cả các quy tắc và nguyên tắc quan trọng nhất: Tiêu chuẩn toàn cầu của Liên
Hợp Quốc về CSR, các tiêu chuẩn ISO,…
- Elena Bueble, Corporate Social Responsibility: CSR Communication as an
Instrument to Consumer-Relationship Marketing (2009) đã nêu lên mối quan hệ
giữa CSR với việc đạt được các thành công thương mại thông qua việc tôn trọng
các giá trị đạo đức, tôn trọng con người, cộng đồng và môi trường tự nhiên. Nghiên
cứu đã đo lường để đưa ra cách thức truyền thông cho doanh nghiệp nhằm giúp
CSR có thể được truyền đạt hiệu quả hơn đến người tiêu dùng.
Đóng góp to lớn nhất của các bài nghiên cứu thuộc nhóm này là đã đưa ra các
phương thức nhằm giúp các doanh nghiệp lượng hóa được hoặc đánh giá được các
tác động của các hoạt động CSR tại doanh nghiệp mình. Đây là một trong những
hướng nghiên cứu rất hay và cần thiết, có tính ứng dụng cao.
Nhóm 4: Nghiên cứu đưa ra các gợi ý, chính sách liên quan đến việc phát
triển CSR cho từng công ty, từng nghành, từng khu vực hay từng quốc gia cụ thể.
Một số nghiên cứu nổi bật trong nhóm này:
- Hiệp hội Doanh nghiệp Nhật Bản, “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại
9
Nhật Bản” (2003) đã có những khảo sát về tình hình thực tế triển khai CSR tại Nhật
Bản làm cơ sở đưa ra các giải pháp cho hoạt động CSR.
lường mức độ tác động của CSR đến các hoạt động của doanh nghiệp.
10
- Nghiên cứu “Áp dụng mô hình của Caroll (1991) để khảo sát nhận thức của
người lao động về khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp của nhóm tác giả
Lại Văn Tài, Lê Thị Thanh Xuân và Trương Thị Lan Anh đăng trên tạp chí phát
triển KH&CN, tập 16, số Q2-2013. Nghiên cứu này đã đánh giá nhận thức của
người lao động về bốn loại trách nhiệm trong tháp trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
của Caroll (1991), bao gồm trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm
đạo đức và trách nhiệm từ thiện. Ngoài ra, nghiên cứu này còn xác định những khác
biệt trong nhận thức của người lao động Việt Nam và các nước đang phát triển khác
về trách nhiệm xã hội. Kết quả nghiên cứu cung cấp nhiều điểm quan trọng. Thứ
nhất, các doanh nghiệp cần thay đổi cách tiếp cận và truyền thông các hoạt động về
trách nhiệm xã hội. Thứ hai, kết quả nghiên cứu này minh chứng thêm về tính khả
thi của mô hình Caroll trong các nghiên cứu về trách nhiệm xã hội sau này.
- “Tiêu chuẩn quốc gia Việt Nam ISO26000:2013” cung cấp các hướng dẫn cơ
bản về trách nhiệm xã hội, thừa nhận trách nhiệm xã hội cùng sự gắn kết với các
bên liên quan, các chủ đề cốt lõi và các vấn đề gắn với trách nhiệm xã hội.
Các nghiên cứu theo hướng này tại Việt Nam hiện vẫn còn rất ít và cần được
phát triển hơn nữa. Thông qua các nghiên cứu này có thể hoàn thiện hơn việc đo
lường cũng như chuẩn hóa các tiêu thức đánh giá CSR.
Nhóm 2: Nghiên cứu hoạt động CSR tại Việt Nam, tại các ngành cụ thể từ đó
đưa ra các giải pháp và kiến nghị tương ứng.
- Trung tâm hợp tác quốc tế nuôi trồng và khai thác thủy hải sản bền vững
nghiên cứu và phát triển dự án “Thúc đẩy thực hành trách nhiệm xã hội (CSR) trong
chuỗi cung ứng khai thác thủy sản ở Việt Nam” (ICAFIS, 2010) đã thực hiện đánh
giá các thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội trong chuỗi cung ứng khai thác thủy
sản tại Việt Nam, từ đó nghiên cứu đưa ra các giải pháp, các bộ nguyên tắc thực
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp,
nội dung và cách thức triển khai Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, nghiên cứu kinh
nghiệm của Trách nhiệm xã hội tại một số ngân hàng khác trong giai đoạn hiện nay.
- Nghiên cứu thực trạng trách nhiệm xã hội tại ngân hàng TMCP Ngoại thương
Việt Nam
- Đề xuất giải pháp để thực hiện Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp tại Ngân
hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam.
12
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp nâng cao thực hiện trách nhiệm xã hội tại
Ngân hàng TMCP Ngoại thương VN.
- Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các giải
pháp nâng cao thực hiện trách nhiệm xã hội tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương
Việt Nam.
Phạm vi về không gian nghiên cứu: Đề tài chỉ thực hiện nghiên cứu ở
Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam chứ không nghiên cứu tại các Ngân
hàng khác.
Phạm vi về thời gian nghiên cứu: Các số liệu sử dụng trong đề tài được
những yếu tố làm nên rất nhiều lợi ích cho doanh nghiệp như tăng doanh số, lợi
nhuận, giảm tỉ lệ thôi việc hay mở rộng cơ hội phát triển thị trường. Tuy nhiên,
thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đang được hiểu theo nhiều cách
khác nhau, và chưa được sử dụng đồng nhất. Trên thực tế, có rất nhiều khái nhiệm
về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR).Điều này phụ thuộc vào cách nhìn
nhận của mỗi công ty, chính phủ, tổ chức dựa trên điều kiện, đặc điểm và trình độ
phát triển của mỗi đối tượng.
Có quan điểm cho rằng, CSR có thể được định nghĩa bằng việc thực hiện tối
đa hóa lợi nhuận thể hiện trách nhiệm với cổ đông còn doanh nghiệp đã có trách
nhiệm với xã hội thông qua việc nộp thuế, chi trả lương đầy đủ cho người lao động.
Nổi bật trong quan điểm này là định nghĩa về trách nhiệm xã hội của nhà kinh tế
học MiltonFiredman được đề cập trong công trình The Social Responsibility of
Business is to increase its Profits, The New York Times Magazine: “Chỉ có một và
chỉ một loại trách nhiệm xã hội trong doanh nghiệp – là việc doanh nghiệp sử dụng
các nguồn lực và tham gia các hoạt động để tăng lợi nhuận, tuân thủ luật chơi,
không lừa dối hay gian lận” (Milton Firedman, 1970).
Lại có quan điểm cho rằng doanh nghiệp trong quá trình hoạt động đã sử dụng
các nguồn lực của xã hội, khai thác các nguồn lực tự nhiên qua đó gây tổn hại đến
môi trường tự nhiên nên ngoài việc đóng thuế, doanh nghiệp còn phải có trách
nhiệm đối với môi trường, cộng đồng và người lao động, đáp ứng các kỳ vọng của
xã hội.Keith Davies đưa ra khái niệm CSR trong bài viết “The Case for and Against
Business Assumption of Social Responsibilities”: “CSR là sự quan tâm và phản ứng
của doanh nghiệp với các vấn đề vượt ra ngoài việc thỏa mãn những yêu cầu, pháp
lý, công nghệ” (Keith Davies, 1973).
14
Theo S. Prakash Sethi, “Nghiên cứu các khía cạnh hoạt động xã hội của doanh
15
Khái niệm CSR 2.0 (Corporate Sustainability Responsibility) được sử dụng
gần đây, theo đó mỗi doanh nghiệp cần có một chính sách chủ động, cởi mở, chân
thành, linh hoạt đối với các vấn đề xã hội mà họ có thể tham gia giải quyết một
phần. Ngay trong quá trình hoạch định chiến lược kinh doanh, doanh nghiệp kết nối
chặt chẽ với các bên liên quan để hiểu và đáp ứng nhu cầu và lợi ích của họ, lồng
ghép các hoạt động mang tính thiện nguyện này vào hoạt động kinh doanh, hoạt
động CSR trở thành một phần không thể tách rời trong quá trình phát triển của
doanh nghiệp.
Như vậy, hiện vẫn có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm, nội dung và
phạm vi của CSR. Một trong những lý thuyết liên quan đến vấn đề này được chứng
minh một cách sinh động và sử dụng rộng rãi nhất là mô hình tháp Caroll (Caroll,
1999). Nội dung mô hình tháp của Giáo sư Archie B. Caroll, một bậc thầy về quản
trị doanh nghiệp tại đại học Georgia (Hoa Kỳ), cho rằng: một doanh nghiệp trường
tồn và trở thành vĩ đại dựa trên tòa tháp trách nhiệm xã hội, bao gồm: Trách nhiệm
về hiệu quả kinh doanh của công ty, trách nhiệm về tuân thủ luật pháp, trách nhiệm
về đạo đức và Các công việc thiện nguyện. Theo lý thuyết tháp Caroll xã hội luôn
đòi hỏi doanh nghiệp làm nhiều hơn so với việc chỉ tạo lợi nhuận và tuân thủ pháp
luật.
Biểu đồ 1.1: Mô hình kim tự tháp CSR
(Nguồn: Nguyễn Đình Cung, Lưu Minh Đức (2008, trang 8)
16
- Trách nhiệm kinh tế: Tối đa hóa lợi nhuận là trách nhiệm lớn nhất của mỗi
doanh nghiệp, đây là yếu tố nền tảng để thực hiện các trách nhiệm còn lại của doanh
nghiệp.
đầy đủ trách nhiệm với xã hội.
Ưu điểm của mô hình:
- Đặt trách nhiệm kinh tế làm nền tảng đã giúp các doanh nghiệp xóa đi các hoài
nghi về tính trung thực trong những chương trình CSR của doanh nghiệp. Việc thực
hiện trách nhiệm kinh tế giúp cho các doanh nghiệp có cơ sở thực hiện các trách
nhiệm đối với người lao động, cổ đông, đối tác, xã hội và ngược lại, khiến ranh giới
của việc thực hiện CSR là “vì mình” hay “vì người” được xóa bỏ và khiến hai mục
đích này không được tách rời.
- Các trách nhiệm trong kim tự tháp luôn chồng lấn lên nhau, không thể tách rời
và tác động lẫn nhau.
- Làm rõ mối quan hệ giữa công việc từ thiện và trách nhiệm xã hội. Có thể nói
rằng từ thiện chỉ là bề nổi của tảng băng chìm CSR mà thôi, ngoài việc thực hiện
trách nhiệm từ thiện, doanh nghiệp còn phải thực hiện các trách nhiệm khác ngay
chính bên trong nội tại doanh nghiệp.
Dựa trên các chủ thể chính tác động đến sự phát triển của một doanh
nghiệp, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có thể cụ thể hóa bằng các nội
dung chính sau:
- Bảo vệ môi trường: phát triển bền vững mà không làm tác động và làm tổn hại
đến môi trường, điều kiện tự nhiên. Bền vững về môi trường là khi thực hiện sản
xuất, kinh doanh và sử dụng các nguồn lực tự nhiên mà chất lượng môi trường sống
của con người vẫn được đảm bảo. Đó chính là sự đảm bảo trong sạch của không
khí, nguồn nước, nguồn đất, không gian địa lý và cảnh quan.
- Đóng góp cho cộng đồng và xã hội: Thực hiện đóng thuế đầy đủ và trung thực,
ngoài ra còn có các đóng góp cho các hoạt động chung của xã hội như: thực hiện
các công trình công cộng, tài trợ các quỹ học bổng, thực hiện các chương trình từ
thiện, an sinh xã hội khác.
- Thực hiện tốt trách nhiệm với các đối tác: Đảm bảo tuân thủ đúng hợp đồng và
các điều khoản đã ký kết, kinh doanh trung thực và đúng pháp luật, minh bạch trong
phí xử lý nguồn chất thải từ nước và khí; giảm chi phí xử lý tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp. Thay vào đó doanh nghiệp có thể sử dụng các nguồn chi đó để thực
hiện tái đầu tư, nâng cao phúc lợi cho người lao động hoặc đóng góp cho xã hội.
19
Một hệ thống quản lý nhân sự hiệu quả cũng giúp doanh nghiệp cắt giảm chi
phí và tăng năng suất lao động đáng kể. Chế độ lương, thưởng hợp lý, môi trường
lao động sạch sẽ và an toàn, các cơ hội đào tạo và chế độ bảo hiểm y tế và giáo dục
đều góp phần giảm tỷ lệ nhân viên nghỉ, bỏ việc, do đó giảm chi phí tuyển dụng và
đào tạo nhân viên mới. Tất cả các yếu tố đó đều góp phần giảm chi phí sản xuất,
tăng năng suất lao động.
Dưới đây là biểu đồ đo lường mức độ tác động của các nhân tố thúc đẩy các
doanh nghiệp làm CSR do VietNam Report thực hiện (2018), dựa trên 5 nhân tố bao
gồm: Uy tín doanh nghiệp, lợi ích của người lao động, sự quan tâm của cộng đồng
đến mội trường, tuân thủ pháp luật và giảm chi phí và nâng cao hiệu quả.
Biểu đồ 1.2: Động lực thúc đẩy DN thực hiện các hoạt động CSR (Đơn vị: %)
Nguồn: Khảo sát doanh nghiệp BP500 do Vietnam Report thực hiện tháng 02/2018
Các số liệu trên được lấy từ khảo sát VietNam Report về động lực thúc đẩy
các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động CSR. Nhìn vào đó, chúng ta có thể thấy
20
số liệu đã chỉ ra rằng giảm chi phí và tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả
hoạt động là một trong những yếu tố cơ bản thúc đẩy một doanh nghiệp thực hiện
các hoạt động trách nhiệm xã hội.
Heineken là công ty sản xuất bia của Hà Lan, được thành lập vào năm 1864 tại