BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
---------------
NGUYỄN THỊ THANH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC TÍNH SINH HỌC CỦA VI RÚT GÂY
HOẠI TỬ THẦN KINH VÀ TẠO KHÁNG NGUYÊN TÁI TỔ HỢP
LÀM NGUYÊN LIỆU SẢN XUẤT VẮC- XIN PHÒNG BỆNH CHO
CÁ MÚ (Epinephelus spp.)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
Hà Nội, năm 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
---------------
NGUYỄN THỊ THANH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC TÍNH SINH HỌC CỦA VI RÚT
GÂY HOẠI TỬ THẦN KINH VÀ TẠO KHÁNG NGUYÊN TÁI TỔ
HỢP LÀM NGUYÊN LIỆU SẢN XUẤT VẮC-XIN PHÒNG BỆNH
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài luận án này tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ
từ các tổ chức và cá nhân.
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS. TS. Phạm Công
Hoạt (Bộ Khoa học và Công nghệ), PGS. TS. Lê Văn Năm (Hội đồng chức
danh giáo sư nhà nước), PGS.TS Phạm Thị Tâm (Phòng Khoa học và Hợp tác
quốc tế, Viện Đại học Mở Hà Nội) đã định hướng, tận tình hướng dẫn, giúp
đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới sự hỗ trợ về tài chính, cơ sở vật chất,
trang thiết bị từ đề tài cấp Nhà nước mã số KC04.03/11- 15. Tôi xin cảm ơn
tập thể cán bộ, kỹ thuật viên, học viên của Khoa Công nghệ sinh học, Viện
Đại học Mở Hà Nội nơi tôi thực hiện các nội dung trong đề tài luận án, đã hỗ
trợ về mọi mặt để tôi có thể hoàn thành luận án này.
Để hoàn thành luận án này, tôi còn nhận được sự động viên, khuyến
khích giúp đỡ của các bạn bè, đồng nghiệp và gia đình. Tất cả những sự giúp
đỡ và tình cảm quý báu đó là nguồn động lực lớn giúp tôi có thể hoàn thành
công trình nghiên cứu này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày
tháng 10 năm
2018 Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thanh
MỤC LỤC
2.2. Nội dung nghiên cứu............................................................................... 38
2.3. Phương pháp nghiên cứu..........................................................................38
2.3.1. Nhóm các phương pháp cho nội dung xác định vi rút gây hoại tử thần kinh
trên cá mú........................................................................................................38
2.3.1.1 Phương pháp thu và xử lý mẫu............................................................38
2.3.1.2 Phương pháp mô bệnh học................................................................. 38
2.3.1.3. Phương pháp phân lập vi rút bằng kỹ thuật nuôi cấy trên tế bào.......39
2.3.1.4 Phương pháp tách chiết RNA tổng số.................................................40
2.3.1.5. Kỹ thuật RT-PCR (Reverse Transcriptase PCR)..............................41
2.3.1.6 Điện di axit nucleic trên gel agarose................................................... 41
2.3.1.7 Phương pháp tách dòng gen................................................................ 41
2.3.2. Phương pháp xác định đặc tính sinh học của vi rút gây hoại tử thần kinh
(NNV)..............................................................................................................45
2.3.2.1. Phương pháp xác định độc lực của vi rút trên tế bào GS1................45
2.3.2.2. Phương pháp xác định độc lực của vi rút trên cá mú.........................46
2.3.2.3 Thí nghiệm ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng gây nhiễm của vi rút
trên tế bào GS1................................................................................................ 47
2.3.2.4. Thí nghiệm ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng gây nhiễm của vi
rút trên cá mú...................................................................................................48
2.3.3. Nhóm các phương pháp biểu hiện gen mã hóa kháng nguyên và đánh giá khả
năng tạo kháng thể của kháng nguyên tái tổ hợp............................................ 48
2.3.3.1 Chuẩn bị vector pET32a+ để thực hiện phản ứng nối gen..................48
..........................................................
2.3.3.2 Nối gen T4 vào vector pET32a+
49
2.3.3.3 Chuyển gen vào E. coliJM109............................................................ 49
2.3.3.4. Tách chiết plasmid từ các khuẩn lạc sau biến nạp chuẩn bị cho kiểm
tra bằng PCR và enzyme giới hạn...................................................................50
2.3.3.5 Nuôi cấy E. coli BL21 mang plasmid tái tổ hợp pET32a+-T4............51
3.3.1. Thiết kế vector tái tổ hợp pET32a+- T4.................................................80
3.3.2. Biểu hiện gen mã hóa kháng nguyên T4 của vi rút gây hoại tử thần kinh85
3.3.2.1 Tạo chủng vi khuẩn E.coliBL21(DE3) mang gen mã hóa kháng
nguyên của NNV.............................................................................................85
3.3.2.2. Biểu hiện gen T4 trong tế bào vi khuẩn tái tổ hợp.......................................... 87
3.3.2.3. Đánh giá các điều kiện biểu hiện gen mã hóa kháng nguyên T4 của vi rút gây
bệnh hoại tử thần kinh..................................................................................... 92
3.3.3. Tinh sạch kháng nguyên tái tổ hợp........................................................95
vi
i
3.3.4. Đánh giá khả năng tạo kháng thể của kháng nguyên tái tổ hợp............97
3.3.4.1. Đánh giá khả năng tạo kháng thể của kháng nguyên tái tổ hợp trên thỏ.........97
3.3.4.2. Đánh giá khả năng sinh đáp ứng miễn dịch của kháng nguyên tái tổ hợp trên
cá mú 100
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.....................................................................104
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
LUẬN
ÁN
TIẾN
SĨ
........................................................................................... DANH MỤC TÀI
LIỆU THAM KHẢO.........................................................
Deoxyribonucleic
acid
(Chuỗi
Axit
Deoxyribonucleic acid bổ sung)
CPE
Cytopathogenic effect (Hiệu ứng bệnh tích tế bào)
CNS
Central nervous system (Hệ thần kinh trung ương)
cs
Cộng sự
Da
Dalton
DAB
Diamino bezidine (kit làm hiện màu)
DNA
Kilodalton
GAA
Global Aquaculture Alliance (Liên minh nuôi trồng thủy sản
toàn cầu)
GS
Grouper spleen (tế bào lách cá mú)
IPTG
isopropyl β-D- thiogalactoside
Ig
Immunoglobulin (kháng thể)
LB
Leibovitz’s (môi trường nuôi tế bào)
ix
LD50
Lethal Dose 50% (liều gây chết 50% động vật thí nghiệm)
NCR
Polemerase Chain Reaction (chuỗi phản ứng polime)
PVDF
Polyvinylidene Fluoride
RGNNV
Red - spotted grouper nervous necrosis virus (vi rút gây hoại
tử thần kinh trên cá mú chấm đỏ)
RNA
Ribonucleic acid
RT-PCR
Reverse Transcription PCR (PCR phiên mã ngược)
SDS
Sodium dodecyl sulphase
SJNNV
Striped jack nervous necrosis virus (vi rút gây hoại tử thần
kinh trên cá măng sọc)
TAE
x
DANH MỤC BẢNG
Thứ tự
Tên bảng
bảng
1.1
Vùng địa lý và sự phân bố một số loài cá mú có biểu hiện
bệnh hoại tử thần kinh
Trang
13
1.2
Các kiểu gen của Betanodavirus
23
1.3
Thuận lợi và tồn tại của vắc-xin DNA
33
3.6
Đặc tính gây bệnh của vi rút gây hoại tử thần kinh trên cá mú
74
3.7
Phát hiện gen mã hoá kháng nguyên T4 của NNV trên cá mú
75
3.8
3.9
3.10
3.11
3.12
Khả năng gây bệnh của NNV trên cá mú ở nhiệt độ 28oC cả
ngày và đêm
Khả năng gây bệnh của NNV trên cá mú ở 28oC ban ngày và
24oC ban đêm
Hiệu giá kháng thể trung hòa vi rút gây bệnh hoại tử thần
kinh ở mô hình in vitro
Hiệu giá kháng thể trung hòa vi rút gây bệnh hoại tử thần
kinh ở mô hình in vivo
Hiệu giá sinh đáp ứng miễn dịch của cá mú chống lại NNV
trên mô hình in vitro
xi
Dấu hiệu bệnh lý của cá mú bị VNN
11
1.4
Cấu trúc không gian của Betanodavirus
22
1.5
Cấu trúc gen của Betanodavirus
22
2.1
Quy trình thực hiện phương pháp mô bệnh học
39
2.2
2.3
3.1
3.2
3.3
3.4
3.7
So sánh độ tương đồng của đoạn gen giải trình tự với
đoạn gen T4 của Betanodavirus mã số HM017077.1
71
3.8
Mật độ tế bào sống sót sau khi gây nhiễm NNV
76
3.9
Sơ đồ quy trình tạo vector tái tổ hợp pET32a+-T4
81
3.10
3.11
3.12
Cắt vector pGEM-T-T4 (A) và cắt vector pET32a+(B)
bằng enzyme EcoRI
Tinh sạch sản phẩm cắt plasmid pGEM-T-T4 và vector
pET32a+
Đĩa khuẩn lạc thu được sau khi chuyển gen pET32a+-T4
vào E. coliJM109
tổ
hợp
pET32a+-T4
vào
chủng
87
E.
3.18
3.19
coliBL21(DE3)
Điện di SDS-PAGE gel polyacrylamide 15% dòng vi
khuẩn số 1 và 2
Điện di SDS-PAGE gel polyacrylamide 15% dòng vi
khuẩn số 3 và số 4
89
90
3.20
Kết quả Westen blot của protein T4 tái tổ hợp
nên được thị trường trong và ngoài nước rất ưa chuộng. Tuy nhiên, khi nghề
nuôi cá mú phát triển thì người nuôi cũng gặp không ít khó khăn bởi dịch
bệnh gây ra trên cá. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng những tác nhân gây bệnh
chủ yếu trên cá mú thường là vi rút, nấm và vi khuẩn trong đó nguy hiểm nhất
là bệnh hoại tử thần kinh (Viral Nervous Necrosis-VNN) hay bệnh não và
võng mạc (Viral Encephalopathy and Retinopathy -VER) do Betanodavirus
gây ra. Vi rút có thể tấn công và gây bệnh trên cá mú ở tất cả các giai đoạn
phát triển từ ấu trùng, cá giống đến cá thương phẩm. Khi bị bệnh cá có biểu
hiện rối loạn thần kinh như bơi mất thăng bằng, bơi xoay tròn, đầu chúc
xuống dưới hoặc treo trên mặt nước hay nằm dưới đáy bể, đáy lồng. Cá bệnh
có thể chết sau 3-5 ngày với tỷ lệ chết cao từ 80-100%. Ở Việt Nam, bệnh
phân bố ở hầu hết các vùng nuôi cá trên cả nước. Mùa vụ xuất hiện bệnh từ
tháng 5 đến tháng 10 khi nhiệt độ nước từ 24 đến 30ºC. Tỷ lệ chết do VNN
gây ra dao động từ 50 - 100% tùy thuộc theo loài và giai đoạn xuất hiện bệnh
(Đỗ Thị Hoà và cs, 2004) [2].
Hiện tại, ở Việt Nam mặc dù chưa có báo cáo tổng quát về bệnh hoại
tử thần kinh gây ra cho cá mú nuôi, nhưng các số liệu từ nghiên cứu của
trường Đại học Nha Trang, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I, Viện
Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản II cho thấy, tỷ lệ cá mú nhiễm vi rút hoại tử
thần kinh cao lên tới 82% mẫu cá bệnh thu thập (Nguyễn Ngọc Du và cs,
14
2005; Phan Thị Vân và Bùi Ngọc Thanh, 2004; Trần Vĩ Hích và Phạm Thị
Duyên, 2008) [1][13][3].
Tình hình dịch bệnh hoại tử thần kinh trên cá mú đang ngày càng gia
tăng đòi hỏi cần có các biện pháp phòng bệnh hiệu quả. Cá mú có khả năng
sinh đáp ứng miễn dịch khá tốt khi tiếp xúc với kháng nguyên, do đó việc
nghiên cứu tạo nguyên liệu để sản xuất vắc-xin phòng bệnh cho cá đang là
giá được khả năng kích thích sinh đáp ứng miễn dịch trên động vật thí nghiệm
khi được tiêm kháng nguyên tái tổ hợp này. Trên cơ sở đó có thể dùng kháng
nguyên protein tái tổ hợp làm nguồn nguyên liệu sản xuất vắc- xin phòng
bệnh cho cá mú góp phần hạn chế dịch bệnh, tăng sản lượng cá nuôi và phát
triển bền vững nghề nuôi cá mú ở nước ta.
Đóng góp mới của đề tài luận án:
- Lần đầu tiên tại Việt Nam đã nghiên cứu một cách toàn diện về vi rút gây
bệnh hoại tử thần kinh trên cá mú với một số đặc tính sinh học như khả năng
gây bệnh tích trên tế bào GS1 và trên cá mú, đánh giá được ảnh hưởng của
nhiệt độ đến khả năng gây bệnh tích trên tế bào GS1 và trên cá mú.
- Luận án là công trình đầu tiên tại Việt Nam đã tạo được kháng nguyên protein
T4 tái tổ hợp, kháng nguyên có khả năng sinh đáp ứng miễn dịch và bảo hộ
cho cá mú cho đến ngày thứ 90 sau khi tiêm. Đây là cơ sở khoa học vững
chắc để sử dụng kháng nguyên protein T4 tái tổ hợp làm nguyên liệu sản xuất
vắc-xin phòng bệnh hoại tử thần kinh cho cá mú.
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số đặc điểm sinh học của cá mú
1.1.1. Hệ thống phân loại cá mú
Cá mú thuộc họ Serranidae, họ phụ cá mú (Epinephelinae), giống
Epinephelus, tên tiếng Anh: groupers. Giống Epinephelus gồm 99 loài, khu
vực Ấn Độ, Thái Bình dương đã phát hiện được 63 loài thuộc giống
Epinephelus. Theo Viện Hải dương học Nha Trang, vùng biển nước ta có
khoảng 30 loài cá mú (Lê Anh Tuấn, 2004) [11].
Ngành
Chordata
Lớp
mặn
dao động từ 10-32‰, chất đáy rất đa dạng từ đáy cứng, cát đến đáy bùn.
Cá con thường tìm thấy ở vùng triều ven bờ, cửa sông và rừng ngập mặn.
Theo Viện Hải dương học Nha Trang, vùng biển Việt Nam có khoảng
30 loài, trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế, giá trị xuất khẩu cao như: cá
mú chấm đỏ (E. akaara), cá mú vạch (E. brunneus), cá mú chấm tổ ong (E.
merra), cá mú mỡ (E. tauvina), cá mú đen (E. heeberi), cá mú cáo (E.
megchir), cá mú chấm nâu (E. coioides). Vùng biển Bắc bộ có cá mú mỡ, cá
mú đen, cá mú cáo, cá mú chấm nâu. Vùng biển Trung bộ có cá mú đỏ, vùng
biển Đông và Tây Nam bộ có cá mú đỏ, cá mú mỡ. Ngoài ra cũng có nhiều
loại có giá trị cao nhưng chưa được đưa vào nuôi phổ biến, chủ yếu là do
đánh bắt như cá mú nghệ (E. lanceolatus) (Lê Anh Tuấn, 2004) [11].
1.1.3. Đặc điểm sinh trưởng
Sự tăng trưởng cá mú khác nhau giữa các loài. Cá nuôi sau 1 năm, với
cá mú chấm đỏ (E. akaara) đạt khoảng từ 0,3 - 0,4 kg, cá mú chấm xanh
(E. malabaricus), cá mú chấm nâu (E. coioides) là 0,8 kg, cá mú mỡ (E.
tauvina) là 1,0 - 1,2 kg; cá mú nghệ (E. lanceoratus) là 3 - 4 kg, đây cũng là
loài lớn nhất trong họ cá mú. Hiện nay đã khai thác được cá mú ngoài tự
nhiên có những con đạt khối lượng tới 150 kg.
Cá bột sau 1 ngày tuổi có chiều dài trung bình 2,18 mm, miệng đóng,
chưa có sắc tố, khối noãn hoàng vẫn còn. Sau 3 ngày tuổi, miệng mở, cá bắt
đầu ăn thức ăn ngoài, lúc này ống tiêu hoá chưa hoàn chỉnh. Khi cá đạt 12
ngày tuổi, dài 3,57 mm; miệng, mắt, ống tiêu hoá hoàn chỉnh, bắt đầu phát
triển sắc tố thân. Sau 18 ngày tuổi, chiều dài cá từ 5-8 mm, gai lưng thứ 2 dài,
giai đoạn này cá rất nhạy cảm với các yếu tố bên ngoài, thời điểm này tỷ lệ
hao hụt rất lớn. Cá 32 ngày tuổi, chiều dài 8-10 mm; vây phát triển hoàn
thiện và có sắc tố đen trên tất cả các tia vây, gai lưng thứ 2 và cơ thể ngắn
lại. Cá 39 ngày tuổi dài 10-12 mm, các vây hoàn chỉnh, tỷ lệ gai lưng thứ 2
cạn.
Quá trình đáp ứng miễn dịch dịch thể ở cá: khi kháng nguyên xâm nhập
vào trong cơ thể cá thì được đưa vào hệ thống tế bào bạch cầu, chủ yếu là đại
thực bào vây bắt và trình diện kháng nguyên, xử lý và trình diện yếu tố quyết
định kháng nguyên lên bề mặt làm kích hoạt các tế bào lympho T. Tế bào
lympho T kích thích lên tế bào lympho B chuyển thành tương bào sản sinh
kháng thể. Tương bào xuất hiện và tăng số lượng trong lách và thận sau một
tuần từ khi có kháng nguyên kích thích. Kháng thể trong huyết thanh thường
xuất hiện khi số lượng tương bào đạt giá trị cao nhất sau khoảng 10-15 ngày;
lượng Immunoglobin (Ig) tăng lên mạnh mẽ và đạt cực đại vào 20-30 ngày
sau khi tiêm kháng nguyên. So với động vật có vú, pha mẫn cảm ở cá kéo dài
hơn và thời gian duy trì hàm lượng kháng thể cũng dài hơn.
Đáp ứng miễn dịch cục bộ ở mang: mang cá có vai trò hấp thụ kháng
nguyên, đặc biệt kháng nguyên không hòa tan. Mang cá có khả năng sản xuất
kháng thể tại chỗ cho nên mang có vai trò quan trọng đối với cá.
Đáp ứng miễn dịch cục bộ ở da: Immunoglobulin đã được phát hiện
trong dịch nhớt được tiết ra trên da cá. Sự có mặt của lympho, tương bào và
đại thực bào ở biểu bì đã khẳng định có sự đáp ứng miễn dịch cục bộ trên da
cá (Kim Văn Vạn và Lê Thanh Hòa, 2009) [12].
Đáp ứng miễn dịch cục bộ ở dịch nhầy: dịch nhầy có chứa globulin miễn
dịch chủ yếu là IgM và các yếu tố hòa tan khác như ngưng kết tự nhiên, lysin,
lysozym, bổ thể. Khi tiến hành ngâm hoặc cho tiếp xúc với kháng nguyên
bằng cách cho ăn sẽ hình thành kháng thể trong dịch nhầy song không làm
tăng kháng thể trong huyết thanh (Kim Văn Vạn và Lê Thanh Hòa, 2009)
[12].
1.2. Ýnghĩa kinh tế và tình hình nuôi cá mú
Theo Liên minh nuôi trồng thủy sản toàn cầu (GAA), sản lượng cá mú
nuôi trên toàn thế giới năm 2009 ước đạt hơn 70.000 tấn, sản lượng tăng dần
đìa nuôi cá mú, sản lượng cá mú nuôi hàng năm đạt trên 3.000 tấn, trong đó
nuôi lồng chiếm 2/3 sản lượng, các loài cá mú thường được nuôi ở Việt Nam
như: cá mú chấm xanh (E. malabaricus), cá mú chấm nâu (E. coioides), cá
mú chấm đỏ (E. akaara), cá mú bleeker (E. bleekeri), cá mú sáu sọc (E.
sexfasciatus), cá mú tảo (E. moara), cá mú mỡ (E. tauvina), cá mú chấm đen
(E. fuscoguttatus). Hai loài là cá mú son (Cephalopholis miniata) và cá mú
chấm nhỏ (Plectropomus leopardus) thường được khai thác tự nhiên. Giá trị
thương phẩm từ cá mú nuôi hàng năm ước đạt hơn 300 tỉ đồng (Lê Thị Thu
Thảo và cs, 2011) [10].
Tại Việt Nam nguồn cá mú giống chủ yếu được đánh bắt ngoài tự nhiên
hoặc nhập khẩu từ Đài Loan, Philippines... Năm 2005, Viện Nghiên cứu nuôi
trồng thủy sản II đã ương giống cá mú đen chấm đỏ thành công. Hiện tại, một
số trung tâm giống cũng tự sản xuất được một lượng giống nhất định nhưng
số lượng cá giống còn rất ít so với nhu cầu để cung cấp cho các vùng nuôi cá
thương phẩm.
Cá mú được nuôi nhiều trong các lồng tre hay bè gỗ, được đặt cố định
hay thả nổi ở các vùng biển ít gió bão, sóng nhẹ như các vịnh, đầm, phá.
Ngoài ra hiện nay cá mú còn được nuôi trong các ao đầm nước lợ ven biển.
Cá giống được thả với có kích cỡ khoảng 8-12 cm, nuôi từ 6 đến 8 tháng thì
đạt khối lượng khoảng 0,5-1,5 kg/con, khối lượng cá xuất bán tùy yêu cầu
của thị trường.
Tuy có giá trị kinh tế rất cao như vậy song cá mú thường hay bị một số
bệnh như đốm đỏ, bệnh hoại cơ, bệnh đường ruột... các bệnh này đều do vi
khuẩn gây nên. Đặc biệt bệnh nguy hiểm mà cá mú mắc phải và có tỷ lệ tử
vong lớn nhất là bệnh hoại tử thần kinh do vi rút gây ra. Hiện nay, chưa có
vắc-xin phòng ngừa loại vi rút này và biện pháp phòng bệnh chủ yếu vẫn là
đảm bảo vệ sinh và cách ly các nguồn lây nhiễm vi rút.
1.3. Tình hình dịch bệnh hoại tử thần kinh ở cá mú trên thế giới và Việt Nam
C: Giải phẫu cá bệnh, bóng hơi căng
D: Cá bơi ngửa, bơi xoay tròn
VNN có phạm vi phân bố rộng, xuất hiện ở nhiều nước từ châu Mỹ đến
châu Âu: Pháp, Đức, Italy. Ở Châu Á bệnh này đã được báo cáo xuất hiện tại
Hồng Kông, Indonesia, Nhật Bản, Malaysia, Philippines, Hàn Quốc, Thái Lan
và Việt Nam. Các loài cá mú dễ bị nhiễm bệnh bao gồm: E. coioides, E.
malabaricus; E. bruneus; Cromileptes altivelis.
Cá bột, cá hương khi bị nhiễm VNN tỷ lệ chết tới 80%, cá cỡ 2,5 -7,5
cm chết tới 100%, khi cá đạt kích cỡ lớn hơn 15 cm thì tỷ lệ chết giảm dưới
20%. Bệnh hoại tử thần kinh đã thực sự trở thành mối đe dọa đối với nghề
nuôi trồng thuỷ sản trên thế giới và Việt Nam.