ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN HUY GIẢNG
TÌM HIỂU MỘT SỐ TRUYỆN
TRONG “TRUYỀN KÌ MẠN LỤC” (NGUYỄN DỮ)
CÓ CÙNG MÔ TÍP VỚI “TIỄN ĐĂNG TÂN THOẠI” (CÙ HỰU)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Thái Nguyên – 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN HUY GIẢNG
TÌM HIỂU MỘT SỐ TRUYỆN
TRONG “TRUYỀN KÌ MẠN LỤC” (NGUYỄN DỮ)
CÓ CÙNG MÔ TÍP VỚI “TIỄN ĐĂNG TÂN THOẠI” (CÙ HỰU)
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Thanh
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 2
2.1. Lịch sử nghiên cứu mối quan hệ giữa “Truyền kì mạn lục” và “Tiễn
đăng tân thoại” .............................................................................................. 2
2.1.1. Giai đoạn trƣớc thế kỷ XX ............................................................... 3
2.1.2. Giai đoạn từ thế kỷ XX đến nay....................................................... 4
2.2. Nghiên cứu truyện truyền kì dưới góc độ mô típ và việc tìm hiểu những
truyện có chung mô típ trong “Truyền kì mạn lục” và “Tiễn đăng tân thoại” 7
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................ 9
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu............................................................... 10
4.1. Đối tượng nghiên cứu ........................................................................... 10
4.2. Phạm vi nghiên cứu .............................................................................. 10
4.2.1. Phạm vi tƣ liệu ............................................................................... 10
4.2.2. Phạm vi nội dung............................................................................ 11
5. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................. 11
6. Đóng góp của luận văn ................................................................................ 12
7. Cấu trúc của luận văn .................................................................................. 12
NỘI DUNG ..................................................................................................... 13
CHƢƠNG 1: “TIỄN ĐĂNG TÂN THOẠI”, “TRUYỀN KÌ MẠN LỤC” VÀ
VIỆC NGHIÊN CỨU TRUYỆN TRUYỀN KÌ TỪ MÔ TÍP TRUYỆN ....... 13
1.1. “Tiễn đăng tân thoại” và thể loại truyền kì Trung Quốc..................... 13
1.1.1. Thể loại truyền kì trong văn xuôi trung đại Trung Quốc ............... 13
1.1.1.1. Khái niệm truyền kì ................................................................. 13
1.1.1.2. Thể loại truyền kì trong văn xuôi trung đại Trung Quốc ........ 14
1.1.2. “Tiễn đăng tân thoại” của Cù Hựu................................................ 16
1.1.2.1. Tác giả Cù Hựu ........................................................................ 16
1.1.2.2. Tác phẩm “Tiễn đăng tân thoại” .............................................. 17
3.2. Mô típ “Người lạc vào thế giới khác” trong “Tiễn đăng tân thoại” ... 70
3.2.1. Ngƣời lên thiên đình....................................................................... 70
3.2.2. Ngƣời lên cõi tiên. .......................................................................... 71
3.2.3. Ngƣời xuống thủy phủ ................................................................... 72
3.2.4. Ngƣời xuống âm phủ ...................................................................... 73
3.3. Mô típ “Người lạc vào thế giới khác” trong “Truyền kì mạn lục” ..... 76
3.3.1. Ngƣời lên thiên đình....................................................................... 76
3.3.2. Ngƣời lên cõi tiên. .......................................................................... 78
3.3.3. Ngƣời xuống thủy phủ ................................................................... 79
3.3.4. Ngƣời xuống âm phủ ...................................................................... 82
3.4. Đối sánh mô típ “Người lạc vào thế giới khác" trong hai tập truyện. 85
3.5. Vai trò của mô típ “Người lạc vào thế giới khác” trong “Truyền kì mạn lục” 89
3.5.1. Trong việc xây dựng đề tài, chủ đề, tạo dựng tính dân tộc ............ 89
3.5.2. Trong việc xây dựng cốt truyện, tình tiết nghệ thuật ..................... 92
3.5.3. Trong việc xây dựng không gian, thời gian nghệ thuật ................. 95
3.5.4. Trong việc xây dựng nhân vật ....................................................... 96
3.6. Sự kết hợp giữa các mô típ: “Người lạc vào thế giới khác” với “Tình yêu
và hôn nhân kì dị” trong “Truyền kì mạn lục” .............................................. 99
Tiểu kết Chương 3..................................................................................... 100
KẾT LUẬN ................................................................................................... 102
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Mỗi quốc gia trên thế giới dù lớn hay nhỏ, dù có lịch sử mấy ngàn năm
hay mới chỉ hình thành một vài chục năm đều có nền văn học của riêng mình. Tuy
dƣỡng mà Tân thoại hấp thụ, còn viết lại thần thoại chí quái của đất nƣớc Việt
Nam” [30]. Nhƣ vậy, phải đánh giá nhƣ thế nào mới là công bằng với Nguyễn
Dữ và “Truyền kì mạn lục” ?
1.3. Thể loại truyền kì Việt Nam, tác giả Nguyễn Dữ, tập “Truyền kì mạn
lục” đều là những đơn vị kiến thức quan trọng đƣợc dạy học và nghiên cứu ở
cấp phổ thông và nhiều trƣờng đại học. Để hiểu đầy đủ và sâu sắc các đơn vị
kiến thức này, với cả ngƣời học và ngƣời dạy, cho đến nay vẫn còn là một vấn
đề khó khăn.
Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài Tìm hiểu một số truyện trong
“Truyền kì mạn lục” (Nguyễn Dữ) có cùng mô típ với “Tiễn đăng tân thoại”
(Cù Hựu), hy vọng có thể góp phần nhỏ bé của mình vào việc lí giải về mối
liên hệ giữa hai tác phẩm, đánh giá những tiếp thụ và đổi mới của Nguyễn Dữ
trong “Truyền kì mạn lục”, tháo gỡ phần nào những khó khăn đối với bạn đọc.
2. Lịch sử vấn đề
Tác phẩm “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ là một trong những
đỉnh cao của văn học Việt Nam trung đại, ngày càng chiếm đƣợc nhiều tình
cảm của bạn đọc. Từ khi ra đời đến nay, nó đã từng làm hao tổn tâm trí và
giấy mực của nhiều thế hệ. Từ các bậc túc Nho thời xƣa cho đến các nhà
nghiên cứu văn học thời hiện đại đều đánh giá cao và coi tác phẩm là một
biểu hiện vinh dự cho nền văn học nƣớc nhà.
2.1. Lịch sử nghiên cứu mối quan hệ giữa “Truyền kì mạn lục” và
“Tiễn đăng tân thoại”
Không thể phủ nhận viết “Truyền kì mạn lục”, Nguyễn Dữ không chịu
sự ảnh hƣởng từ tác giả Cù Hựu, nhƣng trong mỗi câu chuyện của mình
Nguyễn Dữ đều có sự sáng tạo riêng. Dù vậy, do đặc điểm tƣơng đồng của hai
3
tác phẩm, khi nghiên cứu “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ, các nhà
một cái nhìn khách quan, khoa học ở một số khía cạnh sau: Thứ nhất, xem xét
các giai đoạn lịch sử với sự phát triển tƣơng đồng giữa các quốc gia thời
phong kiến. Về lịch sử xã hội và kinh tế ở Trung Quốc thời Đƣờng và Việt
Nam thế kỉ XV-XVI có nhiều nét tƣơng đồng nhau. Nền kinh tế phát triển kéo
theo nhu cầu thƣởng thức văn hoá và lối sống thị dân với các tầng lớp tiêu
biểu. Thứ hai, là tính “đồng loại hình” của các nền văn học trên thế giới. Thứ
ba, truyện truyền kì về cơ bản đƣợc xây dựng trên cơ sở những cốt truyện,
motip, nhân vật... dân gian (còn gọi là quá trình văn học hoá truyện dân gian)
cho nên truyện truyền kì các nƣớc có trƣờng hợp giống nhau hoặc na ná giống
nhau là lẽ thƣờng. Thứ tƣ, sự chi phối của phƣơng thức sáng tác thời trung đại
trong việc lấy tiền nhân làm chuẩn mẫu. Chính những đặc điểm tƣơng đồng
trên khiến các tác phẩm có sự gặp gỡ về nhu cầu phản ánh những hiện tƣợng
tƣơng đồng vào những thời điểm khác nhau.
Không thể phủ nhận vai trò của “Tiễn đăng tân thoại” đối với quá trình
phát triển truyện ngắn truyền kì khu vực đồng văn nói chung và “Truyền kì
mạn lục” của Nguyễn Dữ nói riêng. Tuy nhiên, việc nhìn nhận, đánh giá tác
phẩm cần đảm bảo tính khách quan và tôn trọng hiện thực, tránh cái nhìn
thiên lệch đối với tác giả và tác phẩm đƣợc so sánh.
2.1.2. Giai đoạn từ thế kỷ XX đến nay
Với giá trị sâu sắc ở cả hai phƣơng diện nội dung và nghệ thuật,
“Truyền kì mạn lục” tiếp tục trở thành đề tài tạo cảm hứng cho các công trình
nghiên cứu trong và ngoài nƣớc. Từ năm 1987 các nhà nghiên cứu bắt tay vào
việc đánh giá mối quan hệ giữa “Tiễn đăng tân thoại” và “Truyền kì mạn lục”
với những kiến giải riêng qua một số công trình cụ thể:
Ở trong nƣớc, Phạm Tú Châu (1987) trong bài viết về Mối quan hệ
giữa “Tiễn đăng tân thoại” và “Truyền kì mạn lục” trên Tạp chí Văn học số
3 đã đƣa ra một số những ý kiến đánh giá về “Truyền kì mạn lục” “ ... Trong
điều kiện có một ngôn ngữ văn học chung cho cả vùng Viễn Đông hướng đến
biệt của các học giả nƣớc ngoài khi xem xét tác phẩm dƣới góc độ so sánh với
các tác phẩm cùng thể loại trong khu vực. Đầu tiên phải kể đến nhà nghiên
6
cứu Đài Loan Trần Ích Nguyên (1990) trong công trình Nghiên cứu so sánh
“Tiễn đăng tân thoại” và “Truyền kì mạn lục”, NXB Học sinh thƣ cục Đài
Loan cho rằng “Cù Hựu và Nguyễn Dữ kì thực là bậc trứ danh trong việc xây
dựng tiểu thuyết. Tân thoại thì kế thừa Truyền kì, Chí quái ở các triều đại
trước, lấy thơ văn, bút kí các loại làm tư liệu. Mạn lục thì thể hiện ở việc bắt
chước Tân thoại, hấp thụ nguồn dinh dưỡng dồi dào và viết lại thần thoại, chí
quái Việt Nam... mỗi người đều có phương pháp và con đường riêng của mình,
nhưng cả hai loại cùng thu nạp truyền thuyết dân gian địa phương thông qua
sự tưởng tượng phong phú và cách tổ chức chặt chẽ, thông qua tài năng cá
nhân mà biến hoá vật mục nát thành thần kì...” [30, 283]. Rõ ràng, trong công
trình của mình, Trần Ích Nguyên một mặt thừa nhận sự tiếp biến “Tiễn đăng
tân thoại” trong “Truyền kì mạn lục”, mặt khác đi đến khẳng định tài năng
của tác giả Nguyễn Dữ. Nhƣng công trình này mới chỉ dừng lại ở việc nêu đặc
trƣng cá biệt của hai tác phẩm và so sánh đối chiếu một cách song song. Tiếp
đến là công trình của nhà nghiên cứu Nhật Bản Kawamoto Kurive (1996)
Những vấn đề khác nhau có liên quan đến “Truyền kì mạn lục”, Tạp chí Văn
học số 6 cũng đã nhấn mạnh đến sự sáng tạo của Nguyễn Dữ “... tuy vẫn tôn
trọng thế giới văn học của nguyên bản, nhưng gần như ở đâu cũng tìm, rút ra
những đề tài và motip đáng chú ý để tạo ra một thế giới đặc biệt khác lạ dù
phải đưa vào yếu tố của bản gốc” [19, 61]. Điều đó cho thấy từ những đặc
trƣng của văn học và tâm lí dân tộc, Nguyễn Dữ đã đem đến cho truyện
truyền kì khu vực những màu sắc nghệ thuật mới mẻ. Nhà nghiên cứu Hàn
Quốc Toàn Huệ Khanh (2004) trong So sánh tiểu thuyết truyền kì Hàn Quốc,
Trung Quốc, Việt Nam thông qua “Kim Ngao tân thoại”, “Tiễn đăng tân
Năm 1987, trong Sự phát triển văn xuôi Hán Việt từ thế kỉ X đến cuối
thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX qua một số tác phẩm tiêu biểu (Luận án Phó Tiến
sĩ, ĐHSP Hà Nội,1987), Nguyễn Đăng Na cho rằng “các tác giả đã dựa vào
mô típ dân gian để sáng tác văn học là bước phát triển mới của truyện văn
xuôi thế kỉ XV – XVIII” [23].
Các công trình nhƣ Ảnh hưởng của văn học dân gian trong “Truyền kì
mạn lục” của Nguyễn Dữ (Nguyễn Xuân Hòa, Luận án Thạc sĩ, ĐHSP Hà
8
Nội, 1997), Bước tiến của thể loại truyện ngắn truyền kì Việt Nam qua
“Truyền kì mạn lục” (Trần Thị Hải Ninh, Luận án Thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội,
1999) đều khẳng định các truyện trong “Truyền kì mạn lục” ảnh hƣởng từ mô
típ truyện dân gian, dựa vào cốt truyện dân gian để xây dựng thành thiên
truyện mới. Đến bài viết Thi pháp truyện ngắn trung đại Việt Nam (Trần Nho
Thìn, Nghiên cứu văn học số 9&10, 2006), tác giả đã so sánh phân tích những
mô típ phổ biến trong truyện ngắn trung đại Việt Nam mà cụ thể là mô típ
“sắc dục” trong “Truyền kì mạn lục”, đó đƣợc xem là một đóng góp có màu
sắc khá nổi bật của ngƣời viết.
Trong Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam (NXB Giáo dục, Hà
Nội, 2006), Nguyễn Đăng Na đánh giá giá trị của “Truyền kì mạn lục” ở nhiều
mặt và bàn đến sự sáng tạo của tác phẩm trên cơ sở từ những mô típ quen thuộc
dân gian. Nguyễn Dữ đã dựa vào các mô típ dân gian mà tạo ra những câu chuyện
mới mang ý nghĩa xã hội, “đấy là quá trình văn học hóa truyện dân gian, quá
trình lột xác chuyển từ sáng tác dân gian sang văn học viết” [26].
Về việc tìm hiểu những truyện có chung mô típ trong ““Truyền kì mạn
lục”” và “Tiễn đăng tân thoại”, cũng có một số công trình nghiên cứu sau:
So sánh chuyện tình giữa Người và Hồn ma trong “Tiễn đăng tân thoại”
và “Truyền kì mạn lục” (Tạp chí Nghiên cứu văn học, tháng 4, 2007) của tác
và dị biệt của hai tác phẩm. Đề tài cũng sẽ chỉ ra sự tiếp nhận, kế thừa có chọn
lọc và sự sáng tạo độc đáo của nhà văn Nguyễn Dữ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài Tìm hiểu một số truyện trong “Truyền kì mạn lục”
(Nguyễn Dữ) có cùng mô típ với “Tiễn đăng tân thoại” (Cù Hựu), luận văn
nhằm hƣớng đến những mục đích sau:
- Thông qua việc tìm hiểu một số truyện trong “Truyền kì mạn lục”
(Nguyễn Dữ) có cùng mô típ với “Tiễn đăng tân thoại” (Cù Hựu), xác lập sự
giao thoa của hai tác phẩm xét về phƣơng diện mô típ .
10
- Khẳng định “Truyền kì mạn lục” chịu ảnh hƣởng từ “Tiễn đăng tân
thoại” ở một số mô típ truyện song vẫn có những sáng tạo, cải biến để phù
hợp với đời sống xã hội và tâm hồn của con ngƣời Việt Nam. Đó chính là yếu
tố tạo nên giá trị to lớn không thể thay thế của “Truyền kì mạn lục” trong nền
văn học dân tộc.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận giải các vấn đề lí luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài nhƣ:
khái niệm, sự phát triển thể loại truyện truyền kì ở Việt Nam nói riêng, Trung
Quốc và các nƣớc Đông Á nói chung; sơ lƣợc về tác giả, tác phẩm; khái niệm
mô típ, việc nghiên cứu truyện truyền kì từ mô típ truyện.
- Thống kê, phân loại các truyện trong “Tiễn đăng tân thoại”, “Truyền
kì mạn lục” có cùng mô típ, đặc biệt tập trung vào 2 mô típ phổ biến “Ngƣời
lạc vào thế giới khác” và “Tình yêu và hôn nhân kì dị”.
- Phân tích, so sánh để chỉ ra sự giống nhau và khác nhau của hai tập
truyện xét từ phƣơng diện mô típ, từ đó khẳng định cá tính sáng tạo, màu sắc
dân tộc trong sáng tác của Nguyễn Dữ.
Giải quyết những nội dung trên chính là cơ sở để khẳng định tài năng
của Nguyễn Dữ qua áng văn đƣợc mệnh danh là “thiên cổ kì bút”.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp so sánh loại hình: Đây đƣợc xem là phƣơng pháp
quan trọng và đƣợc sử dụng chủ yếu nhằm chỉ ra những nét giống nhau và
khác biệt trong nội dung và nghệ thuật của các thiên truyện có chung mô típ
trong hai tác phẩm.
5.2. Phương pháp phân tích, tổng hợp: phân tích giá trị nội dung và
nghệ thuật các mô típ của các truyện để tổng hợp đƣa tới những kết luận khoa
học chính xác.
12
5.3. Phương pháp liên ngành: chúng tôi vận dụng các phƣơng pháp
nghiên cứu văn học dƣới góc độ văn hóa, các phƣơng pháp nghiên cứu văn
học dân gian (típ và mô típ), phƣơng pháp lịch sử… nhằm tìm hiểu quá trình
phát triển thể loại truyền kì trong mối quan hệ với văn hóa trung đại Trung
Quốc và Việt Nam.
Ngoài ra luận văn còn vận dụng kết hợp các thao tác nghiên cứu khác
nhƣ thống kê, phân loại: Sử dụng bảng biểu nhằm thống kê, phân loại đƣợc
những truyện có chung mô típ trong hai tập truyện.
6. Đóng góp của luận văn
Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu mô típ ở hai tập truyện “Truyền kì mạn
lục” và “Tiễn đăng tân thoại”, chúng tôi hy vọng đề tài sẽ góp phần đem đến
cho độc giả cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về sự giao lƣu văn hóa giữa các
nƣớc trong khu vực, đồng thời thấy đƣợc sự kế thừa và sáng tạo của Nguyễn
Dữ trong ““Truyền kì mạn lục””, đỉnh cao của thể loại truyền kì ở Việt nam
thời kì trung đại. Hy vọng đề tài cũng sẽ gợi mở một hƣớng khai thác mới đối
với những ai yêu thích thể loại truyền kì – Hƣớng khai thác từ mô típ truyện.
người nào đấy, và vì thế truyện truyền kì mang đậm yếu tố nhân bản, có giá
trị nhân bản sâu sắc” [11, 447]. Nhƣ vậy, định nghĩa về thể loại này khá
thống nhất. Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng truyền
kì là một thể loại văn xuôi tự sự thời trung đại đƣợc đặc trƣng bởi tính chất hƣ
cấu, kì lạ trong nhân vật, cốt truyện, nhằm phản ánh hiện thực.
Đặc trƣng quan trọng nhất của truyền kì là sự kết hợp yếu tố kì và thực.
Cái kì là một phạm trù mĩ học, đặc trƣng tƣ duy của ngƣời phƣơng Đông và là
thế giới quan thời kì cổ trung đại. Không phải ngẫu nhiên mà những tác phẩm
nổi tiếng, tiêu biểu của phƣơng Đông đều chứa đựng nhiều cái kì (“vô kì bất
truyền”). Cái kì trong truyện truyền kì đã phát triển từ thụ động đến tự ý thức:
14
từ ảnh hƣởng của văn học dân gian, sử kí, tôn giáo đến việc đƣợc nhà văn sử
dụng nhƣ một thủ pháp nghệ thuật, một hạt nhân tự sự quan trọng trong kết
cấu tác phẩm. Kết hợp chặt chẽ với cái kì trong hạt nhân của thể loại là cái
thực và xu thế phát triển tất yếu của truyền kì là gia tăng yếu tố thực. Tuy
nhiên, cái kì không mất đi mà hòa quyện chặt chẽ với cái thực trong một kết
cấu thống nhất làm nên đặc trƣng của thể loại. Nếu thiếu cái kì, truyện dễ trở
thành truyện kí; thiếu cái thực, truyện truyền kì không thể vƣợt thoát khỏi giới
hạn của chí quái. Vai trò của yếu tố kì và thực trong hạt nhân cơ bản của
truyện sẽ biến đổi và có những đặc điểm riêng qua từng giai đoạn phát triển
của thể loại.
Đặc trƣng thứ hai của truyền kì, với tƣ cách một thể loại văn học nghệ
thuật là sự kết hợp nhiều thể loại văn chƣơng. Trong tác phẩm bên cạnh các thể
văn xuôi còn bao gồm văn vần, thơ, từ, phú, lục… tạo nên một chỉnh thể thẩm
mĩ “hàng hàng châu ngọc, lời lời gấm thêu”. Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử khái
quát: “Truyện truyền kì dùng văn xuôi để kể, đến chỗ tả cảnh, tả tình thì dùng
văn biền ngẫu, khi nhân vật bộc lộ cảm xúc thì thường làm thơ” [42, 294].
có sự cấu tứ li kì, mượn tiểu thuyết để gửi gắm ngọn bút.” [40, 659].
Chúng ta thấy, về đại thể, truyền kì đời Đƣờng có nội dung đa dạng,
phong phú xoay quanh chủ đề tình yêu nam nữ trong đời sống trần tục thƣờng
ngày và mang đậm khuynh hƣớng nhân văn chủ nghĩa. Vì thế nó có vai trò
lớn trong việc đƣa văn học viết hƣớng tới truyền thống văn hóa dân gian, đời
sống hiện thực của quần chúng nhân dân. Đồng thời, với thủ pháp nghệ thuật
độc đáo là lấy kì ảo làm phƣơng tiện nghệ thuật để truyền tải nội dung về đời
sống con ngƣời, truyền kì đời Đƣờng góp phần không nhỏ khẳng định giá trị
hƣ cấu và tƣởng tƣợng trong việc phản ánh và lí giải hiện thực cuộc sống của
tác phẩm văn học. Loại hình truyền kì tiếp tục phát triển ở đời Tống, Nguyên
(1279-1368). Cuối Nguyên, đầu Minh (thế kỉ XIV), có “Tiễn đăng tân thoại”
của Cù Hựu (1341-1427) là tác phẩm truyền kì nổi tiếng, tiêu biểu cho thể
loại truyền kì của Trung Quốc và có ảnh hƣởng lớn đến thể loại truyền kì các
nƣớc trong khu vực nhƣ: Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam… Sang đời nhà
16
Thanh (1644-1911), Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh (1640-1715) đã làm
rạng danh cho truyền kì Trung Quốc… Nhƣ vậy, trải qua quá trình hình thành
và phát triển cùng với sự phát triển của nền văn hóa Trung Quốc, truyền kì đã
trở thành một thể loại truyện ngắn chiếm vị thế đặc biệt trong văn học Trung
Quốc nói riêng, truyện ngắn phƣơng Đông thời trung đại nói chung.
1.1.2. “Tiễn đăng tân thoại” của Cù Hựu
1.1.2.1. Tác giả Cù Hựu
Cù Hựu sinh ngày 14 tháng 7 năm Chí Chính 7 ( 20/8/1347), mất năm
thứ 8 niên hiệu Tuyên Đức thời Minh (1433) thọ 87 tuổi. Tự là Tông Cát, hiệu
Tồn Trai (Ngâm Đƣờng, Lạc Toàn Tẩu), ngƣời Tiền Đƣờng tỉnh Triết Giang
sống vào thời kì cuối Nguyên đầu Minh.
Từ nhỏ Cù Hựu đã nổi tiếng là ngƣời giỏi văn chƣơng, tài hoa hết mực,
- Nghiên cứu kinh điển: Xuân Thu quán châu, Xuân Thu tiệp âm, Chính
ba xuyết anh …
- Nghiên cứu lịch sử: Quản kiến trích biên, Tập lãm thuyền ngộ… tƣơng
truyền ông còn một số sáng tác khác nhƣ: Tồn trai di cảo, Vịnh vật thi, Quy
Điền thi thoại …
Tác phẩm của Cù Hựu đƣợc lƣu truyền rộng rãi và có ảnh hƣởng to lớn
không chỉ đối với văn học trong nƣớc mà tầm ảnh hƣởng còn vƣơn xa đến các
nƣớc trong khu vực.
1.1.2.2. Tác phẩm “Tiễn đăng tân thoại”
“Tiễn đăng tân thoại” ( Câu chuyện mới viết dƣới ánh đèn cắt bấc nhiều
lần) gồm 4 quyển, 20 truyện có phụ lục thêm Thu Hương đình ký, tổng cộng là
21 truyện. Có tài liệu cho rằng, tác phẩm còn có thêm Mai ký là 22 truyện. “Tiễn
đăng tân thoại” đƣợc viết xong năm thứ mƣời một niên hiệu Hồng Vũ đời Minh
Thái Tổ (1378) nhƣng phải đến ba năm sau (1381) mới đƣợc in ra. Nói về động
cơ sáng tác, chính Cù Hựu đã thể hiện chính kiến của mình trong bài tựa ( ngày 1
tháng 6 năm Mậu Ngọ, niên hiệu Hồng Vũ thứ hai): “ Tôi đã biên tập những
truyện kì quái xưa nay thành sách Tiễn đăng lục…khuyến thiện trừng ác, thương
kẻ cùng quẫn, xót người oan khuất” [13, 3].
18
Về nội dung, tập truyện phần lớn là những câu chuyện tình và chuyện
quái dị quỷ thần, qua đó phản ánh ở mức độ nhất định chế độ hôn nhân bất
hợp lý thời phong kiến và hiện thực xã hội đen tối cuối thời Nguyên, thể hiện
một số nguyện vọng bức xúc của kẻ sĩ và ngƣời dân.
Về nghệ thuật, tập truyện có ý noi theo thể truyền kì đời Đƣờng, lời đẹp, kể
chuyện và miêu tả uyển chuyển xen lẫn với nhiều bài thơ. Tập truyện có ảnh hƣởng
sâu sắc đối với các sáng tác tiểu thuyết văn ngôn đời Minh và đời Thanh.
Nhƣ một tất yếu lịch sử, Cù Hựu đã tiếp nhận văn học từ đời Đƣờng và