Trờng Đại học Vinh
Khoa ngữ văn
---------------------Lời cảm ơn
Luận văn đợc hoàn thành với sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hớng
dẫn cùng với các thầy cô trong tổ Văn học trung đại và các thầy cô trong
khoa Ngữ văn trờng Đại học Vinh. Tác giả xin gửi đến thầy cô lời cảm ơn
chân thành và sự biết ơn sâu sắc.
Tính dân tộc của truyền kỳ mạn
lục (nguyễn
dữ)
Vinh, tháng 5 năm 2006
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: văn học Việt Nam trung đại
Cán bộ hớng dẫn: TS. Phạm Tuấn Vũ
Sinh viên thực hiện: Lê Thị Lan
Lớp:
42e4 - ngữ văn
Vinh 2006
1
mở đầu
I - Lý do chọn đề tài
1. Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ đợc đánh giá là một "thiên cổ
kỳ bút" (tác phẩm tuyệt bút ngàn năm), là "áng văn hay của một bậc đại
gia". Tác phẩm gồm 20 truyện viết theo lối tản văn, thỉnh thoảng có xen
kết luận: "từ Truyền kỳ mạn lục toát lên tinh thần dân tộc không phải ngẫu
nhiên Nguyễn Dữ lại phóng tác cốt truyện gần gũi với đất nớc Việt. Trong
các truyện của Truyền kỳ mạn lục hầu hết các nhân vật chính đều là ngời nớc ta, hầu hết các sự tích đều diễn ra ở nớc ta. Thời gian xảy ra các truyện là
đời Lý, đời Trần, đời Hồ, hoặc đời Lê Sơ. Không gian các truyện là từ Nghệ
An trở ra. Nh vậy, dù viết bằng chữ Hán, Truyền kỳ mạn lục vẫn có tính dân
tộc"(2). Đặc biệt qua những trang viết đầy trân trọng đối với Nguyễn Dữ khi
viết về tác phẩm này Đinh Gia Khánh cùng các cộng sự của mình đã nêu
lên một điều rất quan trọng rằng tác phẩm Truyền kỳ mạn lục lột tả đợc cái
tự hào về đất nớc "địa linh nhân kiệt", đất nớc "ngàn năm văn vật". Những
đánh giá trên của các tác giả thực sự là gợi ý cần thiết cho luận văn này.
Cùng quan điểm với tác giả trong giáo trình đã nêu ở trên, trong công
trình Nghiên cứu so sánh tiểu thuyết truyền kỳ Hàn Quốc - Trung Quốc Việt Nam thông qua Kim ngao tân thoại, Tiễn đăng tân thoại, Truyền kỳ
mạn lục tác giả Toàn Huệ Khanh đã có một số kết luận về vấn đề phẩm chất
dân tộc trong Truyền kỳ mạn lục rất bổ ích. Tác giả thông qua sự đối sánh
với các truyện của nớc Hàn Quốc và Trung Quốc đã thấy nét riêng của
Truyền kỳ mạn lục về mặt văn hoá "đã phản ánh đựoc cốt truyện cổ dân
gian và đặc điểm văn hoá, bối cảnh, lịch sử và địa lý cụ thể hơn với so với
Kim ngao tân thoại"(3).
Mặt khác, tác giả cũng đã nêu lên điểm khác biệt của Truyền kỳ mạn
lục so với hai tác phẩm kia là "tác phẩm Truyền kỳ mạn lục ngoài chủ đề
diễm tình kỳ quái, còn thể hiện ý đồ sáng tác của tác giả nh nêu cao lòng
yêu nớc diệt trừ yêu quái, giáo huấn con ngời, nêu cao trinh tiết của ngời
phụ nữ, phê phán hiện thực". Đồng thời Toàn Huệ Khanh cũng thấy đợc nét
Đinh Gia Khánh (chủ biên), Bùi Duy Tân, Mai Cao Chơng - Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa
đầu thế kỷ XVIII - NXB GD, H, 1998, tr.508.
2(2)
Đinh Gia Khánh (chủ biên), Bùi Duy Tân, Mai Cao Chơng, sđd, tr.509.
3(3)
Toàn Huệ Khanh - Nghiên cứu so sánh tiểu thuyết truyền kỳ Hàn Quốc - Trung Quốc - Việt Nam,
NXB ĐHQG HN, 2004, tr.284.
Quan điểm của Nguyễn Phạm Hùng có vai trò định hớng cho chúng tôi đi
sâu nghiên cứu phẩm chất dân tộc của tác phẩm trên từng vấn đề cụ thể
chẳng hạn vấn đề ngời phụ nữ...
Nguyễn Phạm Hùng - Tìm hiểu khuynh hớng sáng tác của Truyền mạn lục Tạp chí Văn học số 2
1987, tr 113.
1(1)
4
Trong bài nghiên cứu của Bùi Văn Nguyên - Về yếu tố văn học dân
gian trong Truyền kỳ mạn lục(1) tác giả khẳng định sự tiếp thu nền văn học
dân gian trong sáng tác Nguyễn Dữ. Ông cho rằng Nguyễn Dữ đã tiếp thu
và sáng tạo có chọn lọc những yếu tố hoang đờng thần kỳ trong truyện dân
gian vào tác phẩm của mình. Thần, tiên , quỷ, ma quái... Xuất hiện trong tác
phẩm của Nguyễn Dữ vừa tỏ ra rất gần gũi với hình ảnh dân gian tởng tợng,
nhng lại rất khác biệt bởi bàn tay nhào nặn của ngời nghệ sĩ này. Tuy nhiên
sáng tạo của Nguyễn Dữ đã thực sự vơn tới đỉnh cao về phản ánh hiện thực,
phản ánh con ngời trần thế, với tất cả khổ đau, sung sớng, lo sợ và hy vọng.
Trong Từ điển văn học Bùi Duy Tân chú ý nhiều về phơng diện xã
hội học trong Truyền kỳ mạn lục. Bùi Duy Tân cho rằng "Truyện tuy có vẻ
là những chuyện cũ nhng lại phản ánh sâu sắc hiện thực thế kỷ XVI" (2). Bài
viết của tác giả nhấn mạnh về con ngời trong chế độ phong kiến rạn nứt thế
kỷ XVI và qua đó giúp chúng tôi hiểu đợc thời đại và con ngời Nguyễn Dữ.
Đây là gợi ý quý báu để chúng tôi làm đề tài này. Còn Phan Huy Chú khi
bàn về Truyền kỳ tân phả (Đoàn Thị Điểm) so sánh: "lời văn hoa lệ nhng
khí cách yếu ớt không bằng văn Nguyễn Dữ". K.I GolyGhinr trong bài Cù
Hựu và Truyền kỳ mạn lục nhận xét: "Nguyễn Dữ bao giờ cũng chuyển đổi
câu chuyện sang không gian địa lý Việt Nam với tên ngời Việt Nam".
Trong tạp chí Văn học số 3/1987 khi bàn về mối quan hệ giữa Tiễn đăng
2. Đặt tác phẩm vào trong thời điểm lịch sử của nó để thấy đợc màu
sắc Việt Nam của tác phẩm qua việc sử dụng chất liệu văn học dân gian
Việt Nam.
IV. Phơng pháp nghiên cứu
Căn cứ vào mục đích, đối tợng nghiên cứu, chúng tôi vận dung phơng
pháp thống kê, phân tích, khái quát và đặc biệt là sẽ chú trọng phơng pháp
so sánh.
6
Nội dung chính
Chơng I
Hiện thực Việt Nam thế kỷ XVI trong truyền kỳ mạn lục
1. Những đặc điểm của phản ánh hiện thực ở thể loại truyện truyền
kỳ và sáng tạo của Nguyễn Dữ
Một đặc điểm của văn học trung đại Việt Nam là tiếp thu sáng tạo thể
loại văn học Trung Quốc. Cùng chung dòng chảy ấy thể loại truyền kỳ đã
vào Việt Nam, đợc các tác giả Việt Nam khoác cho chiếc áo mới, chắp cho
tinh thần mới. Vì vậy, các tác phẩm truyền kỳ đã mang màu sắc của dân tộc
Việt và đến nay vẫn không lỗi thời. Tiêu biểu cho thành công ở thể loại này
phải kể đến Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, tác phẩm đợc xem là bớc
ngoặt trong lịch sử văn học nớc nhà. Truyện truyền kỳ Trung Quốc xuất
hiện ở đời Đờng, Tống, đánh dấu sự chín muồi của tự sự nghệ thuật. Hai
chữ "truyền kỳ" bao hàm mấy ý nghĩa sau. Một là có ý chuộng lạ (hiếu kỳ),
kể việc khác thờng, kế thừa truyền thống chí quái từ đời Nguỵ, Tấn. Hai là
truyện của truyền kỳ chứa đựng nhiều thể, qua tác phẩm có thể nhận thấy
tài viết sử, tài làm thơ, tài nghị luận của tác giả. Điều này đã đợc tác giả
Nếu ta đem so sánh với "truyện sử" là truyện kể lại lịch sử của nhân
vật và thờng kể hết đời, kể đến cả hậu thân con cháu ngời ấy là gì, quan
chức đến đâu, nhng không có cốt truyện thì truyện truyền kỳ lại có cốt
truyện riêng, không yêu cầu nhất thiết phải kể hết một đời nhân vật. Nhiều
truyện đóng khung trong một giấc mơ, một cuộc kỳ ngộ, một cuộc trò
chuyện. Trong tác phẩm mô - típ đối thoại biện bác đợc sử dụng rất nhiều.
Bên cạnh truyện có hậu, nhiều truyện kết thúc không có hậu, không nh ngời
ta vẫn tởng nh Truyện Từ Thức, Truyện kỳ ngộ ở Trại Tây, Truyện ngời con
gái Nam Xơng... Cái gọi là "có hậu" ở vài truyện trong số này chỉ là d ba.
Truyện cây gạo, Truyện nghiệp oan của Đào Thị cũng kết thúc bi kịch, bi
kịch của số phận. Truyện cái chùa hoang ở Đông Triều lại có ý nghĩa hài hớc giống nh truyện Hai Phật cãi nhau trong Thánh Tông di thảo. Nh vậy
tính chất thẩm mĩ cũng đa dạng. Lời bình trong Truyền kỳ mạn lục hẳn là
của tác giả Nguyễn Dữ. Sự hiện diện của tác giả trong truyện là biện pháp
để tăng sức thuyết phục và tính chân thực của truyện truyền kỳ.
9
Đem so Truyền kỳ mạn lục với Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu
sống khoảng của Nguyên đầu Minh thì thấy rõ sự vay mợn và sáng tạo của
Nguyễn Dữ. Hình thức của Truyền kỳ mạn lục chia làm 4 quyển, mỗi quyển
5 truyện, các truyện lấy tên là "lục", "ký", "truyện" đều giống nh Tiễn đăng
tân thoại. Tuy nhiên, ở đây chủ yếu là vay mợn mô - típ rồi biến đổi đi, cấp
cho nội dung và ý nghĩa mới, Việt Nam hoá câu chuyện. Chẳng hạn Cù
Hựu có Truyện Thiên thai phỏng ấn lục kể chuyện Từ dật ngời Triết Giang
vào núi thiện thai hái thuốc, lạc vào ngời Tống ở ẩn, thì trong Na sơn tiều
đối lục (Truyện đối đáp của ngời tiều phu núi Na) kể chuyện Hồ Hán Thơng vào núi Na gặp ngời tiều phu vừa đi vừa hát, sai quan hầu trơng đi theo
thì lạc vào một xứ u tịch nơi ẩn c của lão tiều. Lão tiều tuy nói không biết
triều nào vua nào nhng lại biết rất rõ các việc nhà Hồ làm và chỉ trích gay
gắt, từ chối cộng tác. Các truyện khác nh Mẫu đơn ký ngời và ma yêu nhau,
làm việc đồi bại sau phải mời Thanh quan đạo dẫn binh tớng đi bắt hai ngời
nhất là đợc sống một cuộc sống ấm no, hạnh phúc toàn vẹn, mặc dù phải
đấu tranh bền bỉ quyết liệt chống lại những mu mô độc ác. Đó là sự thật
không thể phủ nhận và thực tế này đi vào văn học.
Các nhân vật trong tác phẩm Nguyễn Dữ vừa có sự đấu tranh quyết
liệt, vừa khao khát vơn tới cuộc sống tơi đẹp hơn (Truyện Lệ Nơng, Truyện
đối tụng ở Long Cung), vậy nên trong sự sáng tạo độc đáo ấy, Nguyễn Dữ
đã dựa vào hệ thống những chi tiết hình ảnh thần kỳ, hoang đờng, thậm chí
táo bạo để thực hiện những ớc mơ và cuộc đấu tranh ấy của mình. Và
những yếu tố hình ảnh, chi tiết ấy đã tạo nên màu sắc lãng mạn của tập
truyện này. Đây chính là vẻ đẹp, sức hấp dẫn và nét tích cực của Truyền kỳ
mạn lục. Yếu tố kỳ này đợc xem là lực lợng phù trợ của con ngời bất hạnh,
của những con ngời luôn khát khao hạnh phúc tình yêu. Mặc dù thế giới
thần kỳ chỉ là thế giới của những ớc mơ, để thoả mãn những ớc vọng sâu xa
và cao đẹp của con ngời. Nguyễn Dữ đã sử dụng cái "kỳ" nh một thủ pháp
để phản ánh cuộc sống. Có nghĩa là, trong Truyền kỳ mạn lục thế giới thần
tồn tại cùng thế giới ngời những cái quái dị xen lẫn những điều bình thờng,
tình tiết thực xen lẫn tình tiết ảo, việc ngời quan hệ với việc thần, tiên ma
11
quỷ... Tất cả đều có mối quan hệ ràng buộc với nhau. Mặt khác, nếu thiếu
đi yếu tố kỳ diệu, hoang đờng thì tác phẩm sẽ rơi vào tình trang bế tắc và
nh thế thì những khát vọng hạnh phúc lứa đôi, gia đình lý tởng thẩm mĩ cao
đẹp và ý nghĩa tố cáo sẽ không thực hiện đợc. Chúng ta nhận thấy một điều
rằng, kỳ diệu và hiện thực luôn gắn bó chi phối lẫn nhau. Chính yếu tố kỳ là
một cách phản ánh cái thực cho nên dù cho mọi điều có hoang đờng quái
đảm đến đâu cũng không xa rời với thực tế của con ngời. Đó phải chăng
chính là mối quan hệ bền chặt giữa cái kỳ và cái thực, là kiểu đặc trng phản
ánh hiện thực của thể loại truyền kỳ? Tuy nhiên mục đích của tác giả trong
sự thể hiện này là gì? Những yếu tố kỳ lạ ấy xuất hiện đã làm cho ngời đọc
dẫn ly kỳ nhng không sa vào ảo tởng nh truyện cổ tích. Rõ ràng Nguyễn Dữ
đã có sự chuyển biến rõ rệt, đổi mới rõ rệt khi nhìn nhận về cuộc đời, về
con ngời. Yếu tố kỳ không làm mất đi sự chân thực của tác phẩm mà nâng
tác phẩm mà còn lên tầm cao mới của tính nhân văn cao cả.
Nh vậy, bằng trí tởng tợng và khả năng sáng tạo Nguyễn Dữ đã tạo
cho tác phẩm của mình một hình thức nghệ thuật vừa mang tính kế thừa, lại
có sự cách tân. Hình thức có hay có mới thì nội dung phản ánh mới chân
thực mới hấp dẫn. Nguyễn Dữ thực sự là một thiên tài đã sáng tạo nên một
áng văn hay bất hủ. Truyền kỳ mạn lục là "thiên cổ kỳ bút", là "áng văn hay
của một bậc đại gia".
Truyện truyền kỳ là thể loại đặc biệt, sức sống của tác phẩm là nhờ
vào đôi cánh "thần kỳ". Tuy vậy, dầu đôi cánh ấy có bay cao bay xa đến
đâu thì cũng luôn nối liền với mặt đất bằng một sợi dây vững chắc. Đó là lý
do vì sao tác phẩm Truyền kỳ mạn lục vẫn sống mãi trong lòng bạn đọc.
2. Hiện thực Việt Nam thế kỷ XVI đợc phản ánh trong tác phẩm
2.1. Hiện thực trong Truyền kỳ mạn lục
2.1.1. Đời sống xã hội
Từ thế kỷ XVI tình hình xã hội không còn ổn định nh thế kỷ XV.
Khái niệm "dân tộc đau thơng" chính là để chỉ lịch sử dân tộc ta ở thời kỳ
này với đúng nghĩa cụ thể của nó. Đây là thời kỳ mở đầu quá trình khủng
hoảng của chế độ phong kiến Việt Nam. Nếu nh từ thế kỷ XV trở về trớc
vấn đề cơ bản của lịch sử là khẳng định quốc gia dân tộc, mâu thuẫn cơ bản
13
là mâu thuẫn dân tộc, thì từ thế kỷ XVI mâu thuẫn giai cấp trở thành vấn đề
trung tâm của lịch sử. Vấn đề con ngời nhất là ngời bị áp bức - trở thành
mối quan tâm lớn nhất của xã hội, xung đột gay gắt giữa các lực lợng phong
kiến phản động và lực lợng xã hội tiến bộ, và các tầng lớp bị trị đau khổ là
xung đột cơ bản bao trùm gần bốn thế kỷ.
nh cảnh trai gái tình tự, thiếu nữ tắm khoả thân đùa giỡn, chàng trai đóng
khố quàng tay ngời yêu... những cảnh khổ đau tan nát trong Truyền kỳ mạn
lục cũng rất gần với cảnh đói nghèo, xơ xác nhọc nhằn của ngời lao động
trong điêu khắc dân gian. Những tàn bạo, độc ác của các lực lợng cờng
quyền phong kiến trong sách Nguyễn Dữ "là anh em sinh đôi với tranh tả
quan quân ghẹo gái, hay với văn học dân gian tố cáo bọn cớp đêm là giặc cớp ngày là quan"(1) còn hình ảnh cái đẹp vật chất xác thịt trong truyền kỳ
mạn lục gần với sự miêu tả xác thịt mỡ màng, bắp thịt rắn chắc hay sự cách
điệu hoá các bộ phận sinh thực khí trong điêu khắc dân gian cũng nh câu ca
dân gian rất đợc tán thởng:
Đàn ông đóng khố đuôi lơn
Đàn bà mặc áo hở lờn mới xinh.
Nh vậy giữa sáng tác của Nguyễn Dữ với tác phẩm nghệ thuật tạo hình
dân gian cũng nh các tác giả văn học viết sau này nh Nguyễn Du, Hồ Xuân
Hơng, Đoàn thị Điểm, Nguyễn Công Trứ... có nét gần gũi không chỉ về t tởng mà cả nguyên tắc chung trong sự miêu tả cuộc sống. Xuất phát từ cơ sở
xã hội nh đã nêu trên, Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm văn học mở đầu một
cách đích thực cho phong cách nghệ thuật phản ánh cái bình thờng, phản
ánh con ngời trần thế, có tính hiện thực. Đây là khung hớng sáng tác văn
học mang tính nhân văn cao cả.
2.1.2. Truyền thống văn học
Nếu từ thế kỷ XV trở về trớc, văn học Việt Nam rất nặng tính chức
năng, vai trò các yếu tố ngoài văn học rất lớn, thì từ thế kỷ XVI trở đi văn
học lại phát triển theo chiều hớng khác. Đó là văn học đang thoát ly dần ra
1(1)
Nguyễn Phạm Hùng - Tìm hiểu khuynh hóng sáng tác trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ - Tạp
chí Văn học số 2 - 1987, tr.115.
15
đời sống, biểu hiện nghệ thuật và con đờng phát triển của văn nghệ dân tộc.
16
Phẩm chất dân tộc là một nội dung căn bản trong việc phản ánh hiện thực ở
tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ biểu hiện ở nhiều phơng diện.
Trớc hết chúng ta nhận thấy rằng phẩm chất dân tộc của tác phẩm
này biểu hiện ngay trong những tên đất, tên vùng quen thuộc của đất nớc ta.
Có 19/20 truyện đợc nhà văn Nguyễn Dữ phóng tác từ các sự tích trên đất
nớc ta. Không gian từ Nghệ An trở ra Thanh Hoá, Ninh Bình, Nam Định,
Hà Nam, ngoại thành Hà Nội, Hải Dơng, Quảng Ninh, Phú Thọ, Hà Tây,
Bắc Giang, Lạng Sơn, Hoà Bình, Bắc Ninh, Thái Bình, tất cả 16 địa danh
này đợc tác giả nhắc rất nhiều và lặp đi lặp lại trong các truyện khác nhau,
với sự việc khác nhau. Các nhân vật chính đều là ngời nớc ta, câu chuyện
xảy ra gắn với thời gian đời Lý, đời Trần, đời Lê Sơ với các vị vua nh: Lê
Thái Tổ, Lý Huệ Tông, Trần Minh Tông, Trần Dụ Tông, Trần Giản Định,
Hồ Hán Thơng... Vì vậy, dầu viết bằng chữ Hán nhng chất dân tộc trong tác
phẩm rất đậm đà.
Tuy nhiên, xác định phẩm chất dân tộc trong Truyền kỳ mạn lục qua
việc tác phẩm đã phản ánh các địa danh, tên tuổi, nhân vật là của nớc ta là
cần thiết, nhng cha phải là tất cả. Điều quan trọng hơn khi tiếp cận vấn đề
này là phẩm chất dân tộc thể hiện qua tính cách dân tộc của các nhân vật,
qua cái nhìn của tác giả, của nhân vật về cuộc đời, số phận con ngời.
Có thể nói thế kỷ XVI là thế kỷ đầy biến động, xã hội vô cùng rối
ren, mâu thuẫn. Đây cũng là giai đoạn mà tinh thần và phẩm chất dân tộc
không đợc biểu hiện ở các đại diện u tú của tầng lớp thống trị nh ở giai
đoạn trớc mà là ở phía những kẻ bị trị, những con ngời bé nhỏ khổ đau nhng
phẩm chất vô cùng cao quí. Chúng ta nhận thức hình ảnh dân tộc qua những
con ngời đó, nhất là những ngời phụ nữ. Nguyễn Dữ với Truyền kỳ mạn lục
đã mở đầu một cách đích thực khuynh hóng văn học nêu cao tinh thần dân
ngời tình đời, vẫn thấm đẫm chất hiện thực đời thờng.
Phẩm chất dân tộc trong Truyền kỳ mạn lục còn biểu hiện trong việc
thể hiện khát vọng giải phóng đồng bào. Quan tâm đến khía cạnh đời t của
nhân vật, nhà văn là ngời hiểu rất thấu đáo tâm hồn của họ. Họ cần gì? Họ
mong muốn đIều gì khi xã hội cứ bóp chẹt, cứ cản ngăn họ đi tìm hạnh
phúc. Vợt qua mọi rào cản của xã hội, bớc qua những định kiến của giai cấp
18
mình, nhà văn đã đề cao nhu cầu giải phóng tình yêu và xem đó nh là một
lẽ sống tự nhiên mà con ngời đợc hởng. Tinh thần ấy thể hiện qua các tác
phẩm: Truyện Lệ Nơng, Truyện nghiệp oan của Đào Thị, Truyện kỳ ngộ ở
Trại Tây... Một vấn đề đặt ra ở đây là nếu văn hoá trớc thế kỷ XVI ngời ta
xét đoán con ngời qua quốc gia dân tộc thì nay lại xét đoán quốc gia dân
tộc qua con ngời. Đó cũng là xu hớng chủ đạo của văn học giai đoạn này.
Nh vậy, phẩm chất dân tộc đã tạo nên tính hiện thực cho tác phẩm.
Mặt khác, tính hiện thực là tiêu chí không thể thiếu đợc để vun đắp cho tinh
thần dân tộc. áng văn chơng đợc xem là kỳ tài ấy, biết kết hợp nhuần
nhuyễn tinh hoa văn học văn hoá nhân loại và tinh thần dân tộc truyền
thống. Đem so tác phẩm với Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu ta thấy rõ nét
kế thừa cách tân của tác phẩm. Đồng thời từ sự so sánh ấy ta sẽ tìm ra điểm
mà chỉ có dân tộc ta mới có nó chỉ là đặc sản của dân tộc Việt Nam mà
thôi. Nguyễn Dữ mặc dù có khi "miêu tả một thế giới hoàn toàn khác lạ"
nhng đã "nhìn nó bằng con mắt của dân tộc mình nhân dân mình, cảm thấy
và phát biểu theo lối mà đồng bào ông đang cảm thấy và phát biểu". Với sự
"thấm nhuần tinh hoa dân tộc" sâu sắc thì theo cách gọi của Gớt trong bài
báo nổi tiếng Chủ nghĩa bình dân trong văn học (1945) Nguyễn Dữ đã đạt
đến trình độ nhà văn cổ điển của dân tộc.
2.2.2. Phản ánh các sự kiện lịch sử của dân tộc
khởi nghĩa Lam Sơn mà còn bày tỏ sự oán hờn trớc nạn Trần Khát Chân và
tội ác của giặc Minh. Câu chuyện tởng nh chỉ ở phạm vi cá nhân nhng thực
ra lại phản ánh nhiều vấn đề lớn của dân tộc Việt Nam trong một thời kỳ
lịch sử.
Có thể nói thế kỷ XVI văn học đã có sự chuyển biến rõ rệt. Khái
niệm "văn sử bất phân" cũng cần đợc hiểu một cách đúng đắn và linh hoạt.
Văn chơng giờ đây không còn chỉ là ghi lại các sự tích, sự kiện, mà nhà văn
đã có sự sáng tạo thực sự. Từ các sự kiện lịch sử, nhà văn đã cấp cho nó
những nội dung, hình thức mới mẻ, phản ánh sinh động hơn cuộc sống
20
muôn mặt của đời thờng. Tuy nhiên, không thể phủ nhận vai trò của các sự
kiện lịch sử đã làm cho tác phẩm trở nên gần gũi, tin cậy, chân thực hơn.
Truyền kỳ mạn lục đúng là tác phẩm có một không hai trong lịch sử văn học
dân tộc.
2.2.3.Phản ánh bộ mặt của giai cấp phong kiến thống trị
Hầu hết các nhà nghiên cứu tác phẩm Truyền kỳ mạn lục đều khẳng
định giá trị lớn nhất của tác phẩm là ở chỗ nó mang nội dung phê phán, tố
cáo xã hội mạnh mẽ. Đúng nh nhà nghiên cứu Xô Viết Marian Tkatsow khi
giới thiệu tác phẩm này ở Liên Xô có viết: Nguyễn Dữ "đã suy nghĩ có tính
cách phạm trù về thời đại mình" qua hàng loạt "hình tợng điển hình" của
tầng lớp phong kiến thống trị đơng thời với "một cách đánh giá không thiên
vị và nghiêm khắc".
Nếu nh giai đoạn văn học trớc tôn vinh giai cấp thống trị lên đỉnh cao
thì đến giai đoạn văn học thế kỷ XVI vai trò của tầng lớp này trong văn học
bị suy sụp. Cha bao giờ, trong văn học viết, cho tới lúc đó, vua chúa quan
lại lại đợc thể hiện một cách hèn kém bất tài đến vậy. Hồ Hán Thơng chịu
bất lực trớc ý chí và lý lẽ của một ngời ẩn sĩ (Truyện ngời tiều phu núi Na),
Nhng bản thân vấn đề ông đặt ra còn mang tính ảo tởng. Đó là nguyên nhân
dẫn đến bi kịch trong nhiều truyện trong Truyền kỳ mạn lục. Cái ác bị trừng
trị, nhng trừng trị nh thế nào là cả một vấn đề. Tên Trụ Quốc họ Thân trong
Truyện nàng Thuý Tiêu cuối cùng bị tội, nhng là vì xa xỉ chứ không phải vì
chính tội ác mà y gây ra. Rõ ràng, Nguyễn Dữ đã có những lúng túng trong
việc giải quyết những vấn đề phức tạp của thời đại. Đó phải chăng là hạn
chế của lịch sử?
Thời đại của Nguyễn Dữ và cả nhận thức chủ quan của ông chỉ cho
phép ông giải quyết vấn đề đến đó. Nhng ông đã có thái độ khác với thầy
học Nguyễn Bỉnh Khiêm, trong việc đánh giá địa vị các lực lợng phong kiến
thống trị. Hai ông cùng yêu cầu cải cách xã hội hiện tại, duy trì củng cố chế
độ phong kiến nhng ở những vần thơ giáo huấn của Nguyễn Bỉnh Khiêm
toát lên sự tự tin cao độ, còn ở Nguyễn Dữ thì đầy xao động lúng túng và
thậm chí cả bế tắc nữa. Tuy vậy đứng về cả mặt phản ánh hiện thực và giải
22
quyết hiện thực chúng ta không phủ nhận tài năng và t tởng tiến bộ khi tiếp
cận vấn đề của nhà văn Nguyễn Dữ. Ông thật sự là ngời đã giúp chúng ta có
cái nhìn đúng, đánh giá đúng về các giai tầng trong lịch sử dân tộc nớc nhà.
2.2.4. Hình tợng ngời trí thức
Nhân vật chính diện thờng là đại diện cho số phận, tâm hồn của dân
tộc. Trong tác phẩm Truyền kỳ mạn lục loại ngời đợc quan tâm hơn cả là
phụ nữ và trí thức. Đặc biệt ngời trí thức nhiều khi đợc xem là phát ngôn
cho t tởng của tác giả.
Nhân vật ngời trí thức trong tác phẩm hầu hết là các nho sĩ và đạo
nhân. Họ xuất hiện hầu khắp trong các truyện của Truyền kỳ mạn lục. Qua
khảo sát chúng tôi thấy có 12/20 truyện có nhân vật chính diện cũng là
nhân vật trung tâm là nho sĩ và đạo nhân. Sự xuất hiện thờng xuyên ấy của
2.4.1. Nhân vật là nhà nho hành đạo chính nghĩa, trung nghĩa, phẩm chất
đẹp đẽ của ông quan thanh liêm, chân chính vì dân vì nớc.
Đó là nhân vật Hồ Tông Thốc trong câu Truyện ở đền Hạng Vơng.
Nguyễn Dữ đã miêu tả đảm khí của một sứ thần Đại Việt trên đất nớc ngời.
Hồ Tông Thốc là ngời giỏi thơ, cuối đời Trần vâng mệnh đi sứ giả Phơng
Bắc. Tuy tác giả miêu tả câu chuyện qua một giấc mộng, qua nhân vật Hồ
Tông Thốc bày tỏ nhân nghĩa, tính cách thẳng thắn, cứng cỏi phê phán
chính sách bạo lực đồng thời vạch trần những thủ đoạn xảo trá bất nhân của
Lu Bang. "Sở đã đánh tráo với nhân nghĩa nhng Hán chỉ giống với nhân
nghĩa. Họ Hạng nớc Sở không đợc là hạng bá giả mà vua Cao Tổ nhà Hán
cũng là tạp nhạp". Hồ Tông Thốc đã đứng trên cơng vị một ông quan nhân
nghĩa vạch trần nguyên cớ khiến nhân dân đau khổ lầm than. Câu chuyện
nh bản án vạch tội buộc tội các triều đình phong kiến, dùng quyền thế hà
hiếp làm cho nhân dân điêu đứng. Nguyễn Dữ dùng mộng để tố cáo hiện
thực đơng thời.
Các nhà nho chân chính này, còn luôn luôn lo lắng đến số phận của
nhân dân đói khổ,bị chia lìa hạnh phúc. Trong Truyện cái chùa hoang ở
24
Đông Trào, Văn Tự Lập là ông quan liêm khiết đứng lên chống lại gian tà,
đa lại hạnh phúc cho nhân dân. Thấy cảnh chùa chiền đổ nát ông cùng nhân
dân Đông Trào dựng lại chùa để giữ nền văn hoá dân tộc và bày tỏ tình
nghĩa con ngời với con ngời đi trớc. Đặc biệt ông sống hoà vào nhân dân
tìm ra nguyên nhân gây ra đau khổ, cớp bóc, chia lìa gia đình, cơ cực nhân
dân là do bọn gian tà, bọn đội lốt nhà Phật hoành hành. Ông luôn coi mình
là ngời giữ trọng trách với dân "ta ở vào địa vị một viên ấp tể, không có cái
minh để xét ra kẻ gian, cái cứng để chế phục kẻ ác vì dân nhu mà hỏng việc
chính là lỗi ở ta". Văn Tự Lập có đồng cảm với nỗi khổ của dân mới luôn