Giải quyết tranh chấp về nhãn hiệu theo pháp luật việt nam - Pdf 51

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

BÙI THỊ HẢI NHƢ

GI¶I QUYÕT TRANH CHÊP VÒ NH·N HIÖU
THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

BÙI THỊ HẢI NHƢ

GI¶I QUYÕT TRANH CHÊP VÒ NH·N HIÖU
THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 62 38 01 07

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. PHAN THỊ THANH THỦY
TS. NGUYỄN THỊ LAN HƢƠNG

HÀ NỘI - 2018



2.1. Khái quát về tranh chấp nhãn hiệu và giải quyết tranh chấp
nhãn hiệu ................................................................................................. 30
2.2. Các phƣơng thức giải quyết tranh chấp nhãn hiệu.............................. 48
2.3. Cơ sở lý luận của giải quyết tranh chấp nhãn hiệu bằng các cơ
quan nhà nƣớc .......................................................................................... 58
2.4. Cơ sở lý luận của giải quyết tranh chấp nhãn hiệu ngoài các cơ
quan nhà nƣớc .......................................................................................... 66
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ......................................................................... 77
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP NHÃN HIỆU ..................................................... 79
3.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về nhãn hiệu ..................................... 79
3.2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp nhãn hiệu
bằng các cơ quan nhà nƣớc....................................................................... 90


3.3. Thực trạng pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp nhãn hiệu
ngoài các cơ quan nhà nƣớc.................................................................... 104
3.4. Đánh giá các hạn chế chủ yếu của phƣơng thức giải quyết tranh
chấp nhãn hiệu ở Việt Nam hiện nay ...................................................... 113
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 ....................................................................... 116
Chƣơng 4: ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP NHÃN HIỆU Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY ..................................................................................... 117
4.1. Định hƣớng hoàn thiện pháp luật ..................................................... 117
4.2. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp nhãn
hiệu ở Việt Nam hiện nay ....................................................................... 122
KẾT LUẬN CHƢƠNG 4 ....................................................................... 138
KẾT LUẬN CHUNG ............................................................................... 140
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ............................................................................ 143

dụng, khai thác thành quả của hoạt động sáng tạo, đóng góp cho sự thịnh
vƣợng chung của xã hội, ngƣời ta đã tạo lập ra chế định quyền tài sản trí tuệ
(intellectual properties) còn đƣợc dịch phổ biến bằng thuật ngữ quyền sở hữu
trí tuệ (SHTT) ở Việt Nam, trong đó bao gồm các quyền liên quan tới nhãn
hiệu, ngoài các đối tƣợng khác nhƣ: các tác phẩm khoa học, văn học, nghệ
thuật, các sáng chế, phát minh, kiểu dáng công nghiệp...
Trƣớc đòi hỏi tất yếu của công cuộc xây dựng nền kinh tế thị trƣờng
theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập
quốc tế, Việt Nam không ngừng nỗ lực xây dựng lĩnh vực pháp luật về SHTT.
Đặc biệt, với việc ban hành Luật Sở hữu trí tuệ (LSHTT) năm 2005 bên cạnh
các quy định về SHTT và chuyển giao công nghệ của Bộ luật Dân sự (BLDS)
năm 2005, các vấn đề chủ yếu của quyền SHTT (với tính cách là các vấn đề
của luật vật chất) đã đƣợc đề cập tới một cách tƣơng đối đầy đủ. Tuy nhiên,
LSHTT năm 2005 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009) chƣa đề cập một cách
thỏa đáng tới vấn đề giải quyết tranh chấp, nhất là các phƣơng thức giải quyết
tranh chấp cũng nhƣ trình tự, thủ tục tiến hành giải quyết tranh chấp về SHTT
nói chung và nhãn hiệu nói riêng dù rằng các tranh chấp này có nhiều đặc thù
so với các tranh chấp dân sự, tranh chấp thƣơng mại truyền thống. Bộ luật Tố
tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015, Luật Trọng tài Thƣơng mại năm 2010,
Luật Cạnh tranh năm 2004 và pháp luật xử lý vi phạm hành chính chỉ quy
định về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp tƣơng ứng tại tòa án, trọng tài
1


thƣơng mại và cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh. Việc xác định tranh chấp
về SHTT nói chung và tranh chấp về nhãn hiệu nói riêng là tranh chấp dân sự
hay tranh chấp thƣơng mại hay là một dạng tranh chấp đặc biệt để xây dựng
các cơ chế giải quyết tranh chấp phù hợp đang còn là câu chuyện tranh luận
chƣa có hồi kết ở Việt Nam hiện nay. Trong khi đó, việc hội nhập quốc tế đã
và đang đặt ra những yêu cầu cũng nhƣ thách thức đối với việc tiếp nhận các

riêng để đảm bảo tính đồng bộ của pháp luật.
Vì những lẽ đó, việc nghiên cứu đề tài “Giải quyết tranh chấp về nhãn
hiệu theo pháp luật Việt Nam” là rất cần thiết, xứng đáng là một đề tài luận
án tiến sĩ luật học.
2. Mục đích, phạm vi nghiên cứu và đối tƣợng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận để thiết lập phƣơng thức
giải quyết tranh chấp về nhãn hiệu để từ đó đƣa ra các kiến nghị lập pháp và
thực hành liên quan.
Khi xây dựng đƣợc hệ thống các phƣơng thức giải quyết tranh chấp
nhãn hiệu, trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp sẽ đƣợc tiến hành tƣơng ứng
với từng phƣơng thức đó. Vấn đề then chốt là phải xác định đƣợc phƣơng
thức giải quyết phù hợp. Vì lẽ đó, luận án không mở rộng phạm vi nghiên cứu
tới trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp nhãn hiệu. Việc xử lý hình sự đối với
các vi phạm nhãn hiệu không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án và chỉ
đƣợc đề cập nếu liên quan tới các vấn đề dân sự và thƣơng mại. Luận án cũng
không đề cập tới tố tụng cạnh tranh, trừ khi có liên quan tới mục đích nghiên
cứu của luận án.
Đối tƣợng nghiên cứu chủ yếu của luận án là các vấn đề pháp lý về giải
quyết tranh chấp, bao gồm các học thuyết pháp lý, nguyên tắc pháp lý, điều
ƣớc quốc tế, các quy định của pháp luật thực định, các vụ việc và tình huống

3


tranh chấp về nhãn hiệu xảy ra trên thực tế. Luận án không nghiên cứu về
khía cạnh kinh tế, văn hóa, xã hội, truyền thống và lịch sử của nhãn hiệu, trừ
khi cần thiết để luận chứng các vấn đề pháp lý.
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài luận án đƣợc nghiên cứu dựa trên các quan điểm biện chứng,
toàn diện, lịch sử, cụ thể. Trên nền tảng đó, luận án sử dụng (1) các phƣơng

nhãn hiệu nói riêng nhằm làm sáng tỏ các vấn đề mà đề tài đặt ra.
Phƣơng pháp mô hình hóa, điển hình hóa các quan hệ xã hội đƣợc sử
dụng để nghiên cứu xây dựng mô hình các phƣơng thức giải quyết tranh chấp
nhãn hiệu thích hợp với điều kiện của Việt Nam hiện nay.
4. Tính mới của luận án
Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu một
cách có hệ thống, chuyên sâu về giải quyết tranh chấp nhãn hiệu theo pháp
luật Việt Nam. Luận án đã phân tích cơ sở lý luận để thiết lập các phƣơng
thức giải quyết tranh chấp về nhãn hiệu để từ đó xây dựng mô hình các
phƣơng thức giải quyết tranh chấp phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Trong công trình này, các kết quả mới sau đã đƣợc nghiên cứu: làm rõ
bản chất tài sản của nhãn hiệu; phân loại tranh chấp nhãn hiệu nhìn từ giác
độ kinh doanh - thƣơng mại; phân tích rõ tính chất kinh doanh - thƣơng mại
của tranh chấp nhãn hiệu; đánh giá lại tính hiệu quả và phù hợp của các
phƣơng thức giải quyết tranh chấp bằng các cơ quan nhà nƣớc ở Việt Nam
hiện nay; xây dựng cơ sở lý luận về hệ thống các phƣơng thức giải quyết
tranh chấp về nhãn hiệu bằng các cơ quan nhà nƣớc và ngoài các cơ quan
nhà nƣớc; xây dựng quy tắc khuyến khích và hạn chế một cách cân đối giữa
các phƣơng thức giải quyết tranh chấp nhãn hiệu; kiến nghị các giải pháp cụ
thể nhằm xây dựng, hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp nhãn hiệu
đồng thời nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về giải quyết tranh chấp nhãn
hiệu ở Việt Nam hiện nay.
5


5. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận án đƣợc chia thành các chƣơng nhƣ sau:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu.
Chương 2. Cơ sở lý luận về giải quyết tranh chấp nhãn hiệu.

Việc xác định các phƣơng thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa án
cũng bị lệ thuộc vào hệ thống pháp luật quốc gia. Chẳng hạn ở Việt Nam
không có hình thức giải quyết tranh chấp bằng bồi thẩm đoàn giản lƣợc
nhƣ ở Hoa Kỳ bởi quốc gia này áp dụng mô hình tố tụng tranh tụng của

7


common law. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài luận án đƣợc xuất phát từ tiền
đề thứ hai: Các phƣơng thức giải quyết tranh chấp nhãn hiệu của mỗi
quốc gia có sự khác biệt bởi sự lệ thuộc vào hệ thống pháp luật đặc thù
của từng quốc gia đó.
Tiền đề này dẫn tới các hệ quả liên quan tới đánh giá tổng quan tình
hình nghiên cứu đề tài luận án nhƣ sau: (1) Suy xét các kết quả nghiên cứu
của các công trình ở nƣớc ngoài đã đƣợc công bố để tìm ra những thành tựu
có khả năng áp dụng, phù hợp với điều kiện Việt Nam; (2) Đánh giá các công
trình trong nƣớc từ tính hệ thống của pháp luật; và (3) Đề xuất các giải pháp
hoàn thiện pháp luật từ các đánh giá trên.
1.1.3. Tiền đề thứ ba
Việc bảo vệ cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động thƣơng mại và bảo
vệ ngƣời tiêu dùng là vấn đề quan tâm của hầu hết các nƣớc trên thế giới. Vì
vậy, các quốc gia đã nỗ lực thiết lập những tiêu chuẩn pháp lý chung cho toàn
thế giới để đảm bảo sự công bằng và chuẩn mực chung. Phƣơng thức giải
quyết tranh chấp nhãn hiệu mặc dù mang tính lệ thuộc vào hệ thống pháp luật
quốc gia nhƣng không thể tách bạch hẳn với thế giới mà phải chịu sự ảnh
hƣởng của các luật lệ quốc tế. Vì vậy, tiền đề thứ ba là: Việc thiết lập các
phƣơng thức giải quyết tranh chấp nhãn hiệu của mỗi quốc gia không thể
xa rời nhận thức chung của thế giới về vấn đề này.
Từ đó có các hệ quả sau liên quan tới đánh giá tổng quan tình hình
nghiên cứu đề tài luận án: (1) Đánh giá các công trình nghiên cứu đã đƣợc

và tranh chấp nhãn hiệu nói riêng cũng thu hút đƣợc sự quan tâm của nhiều
nhà nghiên cứu. Các tác phẩm sau đã cung cấp những thông tin, kiến thức
quý báu về cơ sở lý luận và thực tiễn của giải quyết tranh chấp nhãn hiệu:
(1) Xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp đối với các quan hệ
thương mại trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, Luận án tiến sĩ luật học,

9


Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam, 2012 của
Dƣơng Quỳnh Hoa; Xử lý xâm phạm nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam,
Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa
học Việt Nam, 2015 của Nguyễn Xuân Quang; (3) Cách thức nào để giải
quyết tranh chấp giữa tên miền và nhãn hiệu hàng hoá theo pháp luật Việt
Nam?, Bản tin hàng tháng của Phòng pháp chế - Đoàn Luật sƣ Quốc tế/ Khu
vực Châu Á Thái Bình Dƣơng, 03-10-2011 của Hồ Tƣờng Vy; (4) Xử lý
tranh chấp tên miền: Cần một cơ chế thống nhất và hiệu quả, Bản tin của
Hội SHTT Việt Nam, Số 70, 71 tháng 10 và 11 của Nguyễn Việt Sơn; (5)
Một số vấn đề về giải quyết tranh chấp sở hữu trí tuệ theo thủ tục tố tụng
dân sự, Tạp chí Luật học, Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, Số đặc san về Bộ
luật tố tụng dân sự 2005 của Nguyễn Nhƣ Quỳnh; (6) Xung đột quyền trong
bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại, Tạp chí Khoa học pháp lý, Trƣờng Đại
học Luật thành phố Hồ Chí Minh, số 3/2013 của Lê Thị Nam Giang; (7) Cơ
chế giải quyết tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ của Nhật Bản: Gợi mở đối
với Việt Nam, Tạp chí Nhà nƣớc và pháp luật, Viện Nhà nƣớc và pháp luật,
số 3/2015 của Đỗ Thị Minh Thủy.
1.2.2. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu
Sẽ là không cần thiết nếu nhƣ trong khuôn khổ của luận án, ngƣời
viết trình bày nội dung của tất cả các công trình có liên quan đến đề tài.
Tác giả chỉ chọn lọc một số tác phẩm tiêu biểu nhất nhằm mục tiêu mang

tranh chấp cụ thể về SHTT nói chung và nhãn hiệu nói riêng đƣợc tác giả đề
cập và luận giải theo các luận điểm triết học và kinh tế.
Liên quan tới nhãn hiệu, các vấn đề về khái niệm, khả năng phân biệt
của nhãn hiệu, căn cứ phát sinh và thời hạn bảo hộ, thủ tục bảo hộ, nhãn
hiệu nổi tiếng và các hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu
đƣợc trình bày dựa trên nền tảng phân tích các quy phạm của pháp luật Việt
Nam và các điều ƣớc quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Trên cơ sở đó, Lê

11


Nết kết luận: luật về nhãn hiệu thiết lập độc quyền sử dụng các dấu hiệu để
phân biệt sản phẩm, dịch vụ của các chủ thể khác nhau. Chủ sở hữu nhãn
hiệu có độc quyền ngăn không cho ngƣời khác sử dụng trùng hoặc tƣơng tự
với nhãn hiệu của mình để bảo vệ uy tín thƣơng mại của những sản phẩm
hay dịch vụ do mình cung cấp [32, tr. 113]. Trong công trình này, tác giả Lê
Nết đã gộp chỉ dẫn địa lý, chỉ dẫn thƣơng mại, tên gọi xuất xứ hàng hóa, tên
thƣơng mại và tên miền vào nhóm “các đối tƣợng liên quan đến uy tín kinh
doanh của doanh nghiệp”.
Đối với vấn đề thực thi quyền SHTT, Lê Nết đã giới thiệu các nội dung
chủ yếu của Thỏa ƣớc về thƣơng mại liên quan đến các khía cạnh của quyền
sở hữu trí tuệ (TRIPS), Hiệp định thƣơng mại Việt - Mỹ và tổng kết những
khó khăn, vƣớng mắc trong quá trình thực thi quyền SHTT ở Việt Nam trƣớc
khi LSHTT năm 2005 đƣợc ban hành. Đặc biệt, tác giả Lê Nết đã nêu các cơ
chế giải quyết tranh chấp (nhƣ: hành chính, hình sự và dân sự) kèm theo đó là
các quy tắc tố tụng cơ bản và các chế tài đối với các hành vi vi phạm. Ngoài
việc phân tích các quy phạm của pháp luật Việt Nam và các điều ƣớc quốc tế
liên quan, tác giả Lê Nết còn đƣa ra một số thông tin so sánh pháp luật. Đối với
bồi thƣờng thiệt hại do vi phạm quyền SHTT, các thẩm phán Anh, Mỹ ấn định
mức bồi thƣờng theo ba phƣơng pháp: (1) xác định khoản thu nhập bị mất do vi

chất tƣ hữu của SHTT, tuy nhiên cần củng cố biện pháp hành chính bởi thói
quen sử dụng biện pháp này ở Việt Nam. Tác giả Lê Mai Thanh cũng cho
rằng cần tuyên truyền khả năng giải quyết tranh chấp liên quan tới nhãn hiệu
bằng biện pháp trọng tài thƣơng mại nhằm tăng cƣờng tính nhanh chóng trong
việc giải quyết tranh chấp và bồi thƣờng thỏa đáng cho các chủ thể phải gánh
chịu thiệt hại do quyền SHTT đối với nhãn hiệu bị xâm phạm. Biện pháp hình
sự và kiểm soát biên giới theo tác giả Lê Mai Thanh là các biện pháp không
thể thiếu trong việc thực thi quyền SHTT đối với nhãn hiệu trong quá trình

13


hội nhập quốc tế. Luận án của Lê Mai Thanh không nghiên cứu sâu và riêng
biệt về các phƣơng thức giải quyết tranh chấp nhãn hiệu mà chỉ đề cập tới các
phƣơng thức này nhƣ một nội dung của bảo hộ nhãn hiệu. Luận án không
nghiên cứu cơ sở lý luận về các phƣơng thức giải quyết tranh chấp nhãn hiệu.
* “Xử lý xâm phạm nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam” - Luận án
tiến sĩ Luật học của Nguyễn Xuân Quang tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc
Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam năm 2015.
Tác giả tập trung nghiên cứu những vấn đề chung về nhãn hiệu (bao
gồm: khái niệm, chức năng, phân loại, điều kiện bảo hộ, xác lập quyền, chủ
thể quyền, nội dung và các giới hạn quyền đối với nhãn hiệu), vi phạm nhãn
hiệu. Trong đó, ngƣời viết khẳng định: vi phạm nhãn hiệu có phạm vi rộng
bao gồm: các hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu và hành vi vi phạm
các quy định của pháp luật về quản lý nhà nƣớc về nhãn hiệu. Nếu nhƣ xâm
phạm nhãn hiệu là hành vi do các chủ thể khác tiến hành xâm phạm các quyền
và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu nhãn hiệu thì vi phạm nhãn hiệu có phạm
vi rộng hơn, nó không chỉ gây thiệt hại cho chủ thể quyền mà còn gây thiệt
hại cho ngƣời tiêu dùng hoặc cho xã hội.
Trong Luận án, các quy định của pháp luật Việt Nam về xử lý vi phạm

quả của nó, thể hiện rõ nhất là cơ chế thực thi; (5) Ở Việt Nam, quyền tự do
ý chí, tự do hợp đồng chƣa thực sự hoàn thiện nên thể chế thị trƣờng nói
chung và cơ chế giải quyết tranh chấp nói riêng cũng chƣa đƣợc toàn diện,
chƣa đồng bộ; (6) Các quy định pháp luật về các phƣơng thức giải quyết
tranh chấp thay thế một mặt còn sơ sài (đối với thƣơng lƣợng, hòa giải), một
mặt còn có những vƣớng mắc, bất cập, chƣa tạo ra đƣợc một cơ chế thật sự
thông thoáng cho hoạt động của các thiết chế giải quyết tranh chấp thay thế;
và (7) Hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp thay thế không chỉ là hoàn
thiện về pháp luật thực định mà còn có ý nghĩa nâng cao văn hóa pháp lý,
cách tƣ duy, cách tiếp cận pháp luật giải quyết tranh chấp.
15


Mặc dù không đề cập tới việc giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực
SHTT nói chung và nhãn hiệu nói riêng nhƣng luận án là công trình để lại
nhiều thành tựu có thể kế thừa về khía cạnh giải quyết tranh chấp thƣơng mại
bằng phƣơng thức ngoài tòa án.
* “Cách thức nào để giải quyết tranh chấp giữa tên miền và nhãn
hiệu hàng hoá theo pháp luật Việt Nam?” - một nghiên cứu rất ngắn gọn, cô
đọng nhƣng tiêu biểu của Hồ Tƣờng Vy đƣợc đăng tải trên Bản tin hàng
tháng của Phòng pháp chế - Đoàn Luật sư Quốc tế/ Khu vực Châu Á Thái
Bình Dương vào ngày 03-10-2011.
Trong công trình nghiên cứu này, sau khi đã luận chứng về các lợi ích
của “tên miền”, tác giả đã đi đến nhận định: “Nhƣ vậy, tên miền giờ đây
không đơn thuần chỉ là một loại tài nguyên Internet của các quốc gia, hoặc để
định danh địa chỉ Internet của máy chủ mà thực sự đã trở thành một loại tài
sản có giá trị không hề thua kém các loại tài sản khác” [68]. Tác giả đã bày tỏ
quan điểm gắn tên miền vào nhãn hiệu và đã giới thiệu các nội dung bảo vệ
tên miền, nhất là tên miền “.vn”.
Về giải quyết tranh chấp tên miền, tác giả này đã đƣa ra các nội dung

pháp luật liên quan tới giải quyết tranh chấp nhãn hiệu.
* Thực thi và giải quyết tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam
- Mười năm nhìn lại của Đỗ Thị Minh Thủy đƣợc đăng trên trang web của
Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ.
Trong phạm vi bài viết, tác giả khẳng định LSHTT 2005 không có quy
định riêng về giải quyết tranh chấp quyền SHTT. Khi tranh chấp trong quá
trình sử dụng đối tƣợng SHTT xảy ra, chủ thể quyền có thể sử dụng các thiết
chế của Nhà nƣớc để thực thi quyền SHTT theo hai phƣơng thức: (1) Khởi
kiện ra tòa án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình (“biện pháp dân
sự”) và (2) Yêu cầu cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm
(“biện pháp hành chính”). Trên cơ sở đó, tác giả cung cấp các số liệu thống kê

17


về thực trạng thực thi và giải quyết tranh chấp quyền SHTT tại Việt Nam
đồng thời lý giải nguyên nhân tại sao các vụ việc đƣợc xử lý tại Tòa án chiếm
số lƣợng không đáng kể so với các vụ việc đƣợc giải quyết theo cơ chế hành
chính. Về biện pháp dân sự, nguyên nhân đƣợc cho là: trong khi các đại diện
chủ thể quyền thấy rằng cơ chế kiện dân sự hiện tại rƣờm rà, tốn kém, ít hiệu
quả thì ngành Tòa án lại chƣa nhận thấy sự cấp thiết phải quy định riêng hoặc
hoàn thiện cơ chế hiện tại về giải quyết tranh chấp đối với SHTT. Bản thân
chủ thể quyền không chủ động bảo vệ quyền dân sự bằng biện pháp dân sự và
ngƣợc lại, cơ chế dân sự có rất ít tác dụng trong việc giải quyết tranh chấp
trong quá trình sử dụng đối tƣợng SHTT. Đối với biện pháp hành chính, sự
“nhanh”, “gọn”, “ít tốn kém” là lý do dẫn đến thực trạng biện pháp này đƣợc
ƣu tiên lựa chọn khi xảy ra tranh chấp. Mặc dù còn bộc lộ nhiều hạn chế về
tính hiệu quả song thực thi quyền SHTT bằng biện pháp hành chính là cần
thiết nhằm thực hiện các cam kết quốc tế trong bối cảnh hệ thống tƣ pháp còn
chƣa thực sự phát triển. Tác giả mặc dù không xây dựng các giải pháp cụ thể

nhãn hiệu nói chung và việc giải quyết tranh chấp về nhãn hiệu nói riêng ngày
càng đƣợc chú trọng và nghiên cứu công phu. Có thể kể tới một số công trình
liên quan trực tiếp tới giải quyết tranh chấp SHTT nhƣ: (1) WIPO Intellectual
Property Handbook: Policy, Law and Use, Second Edition, WIPO Publication,
2004 của WIPO; (2) The Role of Mediation in Trademark Disputes, University
of Houston Law Center, 2005 của Stephanie Chi; (3) The ICANN Domain
Name Dispute Resolution Sysem as a Model for Resolving other Intellectual
Property Disputes on the Internet, Public Law and Legal Theory Research
Paper N. 30, The Unversity of Melbourne, Faculty of Law, 2002 của Andrew
F. Christie; và (4) WTO Dispute Settlement and the Agreement on TradeRelated Aspects of Intellectual Property Rights, International Trade Law and
GATT/WTO Dispute Settlement System, Volume 11, Edited by Ernst-Ulrich
Petersmenn, Kluer Law International, London – The Hague – Boston, 1997
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status