A. Cơ sở pháp lý:
I. Khái niệm thừa kế theo di chúc:
- Định nghĩa: Là việc những người còn sống được hưởng di sản của người
chết dựa vào ý chí của người để lại di sản thông qua di chúc.
- Đặc điểm:
+ Về ý chí của người để lại di sản: Trong thừa kế theo di chúc thì việc dịch
chuyển di sản phụ thuộc vào ý chí của người để lại thừa kế được thể hiện
thông qua di chúc mà họ để lại.
+ Về chủ thể được hưởng di sản: Chủ thể được hưởng thừa kế theo di chúc
có thể là bất kỳ ai, bao gồm cả cá nhân và pháp nhân, không bị hàn chế trong
phạm vi quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng và hôn nhân.
+ Về kỷ phần di sản được hưởng: Do pháp luật tôn trọng ý chí của người để
lại di sản nên kỷ phần di sản được hưởng theo di chúc phụ thuộc ý chí người
lập chúc (Trừ Điều 669 BLDS năm 2005 quy định những người được hưởng
di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc)
Tóm lại, có thể hiểu thừa kế theo di chúc là sự quy định của pháp luật
để xác định khi nào việc dich chuyển di sản của người đã chết cho người còn
sống được thực hiện theo di chúc. Và việc thực hiện thừa kế theo di chúc
phải tuân thủ theo ý chí định đoat của người để lại di sản khi ý chí ấy phù
hợp với các quy định của pháp luật.
II. Điều kiện phát sinh thừa kế theo di chúc:
Quan hệ thừa kế theo di chúc cũng là một loại quan hệ thừa kế nên nó
có đầy đủ các điều kiện phát sinh của một quan hệ thừa kế. Ngoại những
điều kiên để làm phát sinh quan hệ thừa kế nói chung thì để phát sinh quan
1
hệ thừa kế theo di chúc cần có các điều kiện riêng của nó. Cụ thể tổng hợp
các điều kiện làm phát sinh quan hệ thừa kế theo di chúc như sau:
- Phải có người để lại di sản: Tức là người có tài sản sau khi chết để lại cho
Bên cạch những kết quả tích cực đạt được thì cũng còn không ít những
tồn tại, sai lầm dẫn tới tình trạnh tranh chấp, khiếu kiến kéo dài vừa gây tốn
kém tiền bạc, thơi gian của những người có lien quan, gấy quá tải cho các
Tòa án dân sự, tạo ra nhiều tiêu cực.
Sau đây là những phân tích về những nguyên nhân khách quan và
nguyên nhân chủ quan đã ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động giải quyết tranh
chấp về thừa kế theo di chúc cùng với những trường hợp tranh chấp cụ thể
để thấy rõ được thực trạng hiện nay.
I. Nguyên nhân của những tồn tại:
1. Nguyên nhân chủ quan:
Một trong những đặc điểm cơ bản của hoạt động áp dụng pháp luật nói
chung và hoạt động giải quyết tranh chấp về thừa kế nói riêng là phụ thuộc
vào ý trí đơn phương của người áp dụng pháp luật. Do vậy trong hoạt động
giải quyết tranh chấp về thưa kế thì vị trí, vai trò của đội ngũ thẩm phán rất
quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của hoạt động xét xử.
Tuy nhiên một số ít thẩm phán chưa tích cực nghiên cứu, học hỏi
những quy định mới của pháp luật, các nghị quyết, hướng dẫn áp dụng pháp
luật của Tòa án nhân dân tối cáo và lien ngành pháp luật trung ương để vận
dụng trong công tác xét xử. Tinh thần trách nhiệm trong việc thực hiện
nhiệm vụ được phân công của số ít thẩm phán chưa cao, chưa thận trọng khi
3
thực hiện nhiệm vụ được giao. Trình độ, kỹ năng của một số vị thẩm phán
chưa tưỡng xứng với vị trí, trức trách mình đảm nhiệm. Ngoài ra vẫn còn tồn
tại những tiêu cực như hối lộ và nhận hối lộ dẫn tới việc những tranh chấp
về thừa kế kéo dài qua nhiều cấp xét xử gây tốn kém cả về vất chất và thời
gian. Theo báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dân tối cao ngày 9/8/2010:
Năm 2009, tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy do nguyên nhân chủ quan là
Thông báo số 24 ngày 23/02/2010 nếu sau 30 ngày không có ai tranh chấp
thì mới giải quyết cho bà Thính theo pháp luật. Tuy nhiên, cũng trong ngày
này, bà Thính đã lập di chúc để lại toàn bộ tài sản nhà đất của ông Kim cho
các con của bà là: Đinh Thị Bích Huệ, Đinh Thúy Hồng, Đinh Thị Bích Đào,
Đinh Hùng Cường, Đinh Thị Thúy Hoa, Đinh Đức Hiệp, Đinh Thị Tuyết
Nhung và được Phòng Công chứng chứng thực. Sau khi bà Thính mất, bà
Huệ đã dùng 2 văn bản nói trên đến UBND phường 5 yêu cầu sang tên toàn
bộ nhà đất của ông Kim cho bà Huệ và các đồng thừa kế. Mẹ con bà Ngát
phát hiện được đã yêu cầu chính quyền địa phương tạm dừng và kiện ra
TAND TP Đà Lạt để nhờ phân xử.
Ngày 24/9/2012, tại Bản án sơ thẩm số 63 TAND TP Đà Lạt tuyên bác
yêu cầu khởi kiện của mẹ con bà Ngát, xác định người thừa kế của ông Kim
là bà Thính. Do bà Thính chết, nên các đồng thừa kế của bà Thính được
nhận tài sản do bà Thính để lại.
Thẩm phán Trần Thị Lệ N dẫn Điều 15 Luật Hôn nhân & Gia đình năm
1959: “Vợ chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau
đối với tài sản có trước và sau khi cưới” có nghĩa là không có phần nhiều
hơn và phần ít hơn, nhưng lại kết luận: “…Do quan hệ vợ chồng giữa ông
Kim và bà Ngát chỉ được gần 2 năm thì bà Ngát bỏ đi, việc tôn tạo, bảo
quản, giữ gìn do ông Kim nên phần của ông Kim nhiều hơn là phù hợp. Cụ
5
thể, bà Ngát được sở hữu, sử dụng ¼ tài sản trị giá 247.213.175 đ và ông
Kim được sở hữu, sử dụng ¾ tài sản trị giá 741.639.527 đ là phù hợp” tuy
nhiên thẩm phán không xác đã bỏ qua chi tiết khối di sản có giá trị lớn ở đây
là đất không phát sinh giá trị quá chênh lệch do công tu tạo, bảo quản.
Tiếp đó, lại cho rằng: “Qua xác minh tại Công an TP Đà Lạt và qua
xem xét các bản khai nhân khẩu, sơ yếu lý lịch do ông Kim khai có xác nhận
của chính quyền địa phương vào năm 1976 đều thể hiện ông Kim đã ly dị bà
sau thời điểm mở thừa kế nhưng thành thai trước khi người để lại di sản chết
thì mới có quyền hưởng di sản từ người kể lại thừa kế. Điều luật này có ý
nghĩ trong việc xác định quan hệ giữa người để lại di sản và người được
hưởng thừa kế. Việc xác định mối quan hệ này chỉ có ý nghĩa khi phân chia
di sản theo pháp luật còn nếu phân chia di sản theo di chúc thì hoàn toàn
không cần thiết vì như đã nói ở trên việc để phân chia thừa kế phải tôn trọng
ý nguyện của người để lại di sản (Trừ Điều 669), tuy nhiên Điều 635 lại là
những quy định chung (Chương XXII phần thứ tư BLDS) như vậy điều luật
này quy định cho cả phân chia di sản theo pháp luật và phân chia di sản theo
di chúc. Chính sự bất cập này đã làm hạn chế rất nhiều tới quyền để lại di
sản của người chết và quyền được hưởng di sản của người thừa kế.
Tại khoản 1 Điều 642 quy định: “Người thừa kế có quyền từ chối nhận
di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ
tài sản của mình đối với người khác….”. Nếu người thừa kế có nghĩa vụ đối
với người khác mà họ tuyên bố từ chối nhận di sản để trốn tránh thực hiện
nghĩa vụ đó, thì chủ nợ bằng cách nào có thể thu hồi nợ từ phần di sản mà
người thừa kế đã từ chối nhận di sản. Theo quy định của pháp luật thì chỉ
những người thừa kế mới có quyền yêu cầu chia di sản thừa kế, chủ nợ
7
không có quyền yêu cầu chia di sản thừa kế. Như vậy, khoản 1 Điều 642
BLDS mới chỉ quy định rất chung, thức chất không đảm bảo được quyền của
chủ nợ đối với người thừa kế.
Ngoài ra tại khoản 3 Điều 642 BLDS quy định thời hạn từ chối nhận di
sản là 6 tháng kể từ thời điểm mở thừa kế. Pháp luật quy định một người có
quyền từ chối nhận di sản nhưng nếu từ chối rồi sao đó muốn nhận lại thì có
được không? Theo Điều 642 BLDS, người thừa kế đã từ chối nhận di sản thì
không có quyền nhận lại di sản, quy định này chưa dự liệu được trường hợp
đấy đủ nghĩa vụ thờ cúng. Ông Cẩm làm đơn kiện đòi chia thừa kế nhưng bị
đơn không đồng ý chia thừa kế với ý do nhag đất để ở và bị đơn hàng ngày
vẫn thực hiện nghĩa vụ thờ hương hỏa, thờ cúng tổ tiên.
Như vậy trong trường hợp thực tế trên, ta thấy rõ được những thiếu sót
trong hệ thống pháp luật. Tại Điều…BLDS chỉ quy định: “” còn nghĩa vụ
thờ cũng đó là gì và khi người quản lý di sản dung vào việc thờ cùng thực
hiện không đúng với ý nguyện của người lập di chúc thì có phải chụi tránh
nhiêm gi không thì các quy định của pháp luật chưa hề đề cập tới. Cụ thể tại
trường hợp nay ông Hiếu và con trai đã không thực hiện đúng theo di chúc
của cụ Nguyễn Văn C: phá bỏ nhà thờ, không thực hiện nghĩa vụ thờ cúng,
tự ý chia di sản dùng váo việc thờ cúng cho người khác, thực hiện các giáo
dịch khác lien quan đến di sản dùng vào việc thờ cúng vào mục đich của bản
thân. Nhưng việc làm này làm mất đi hết ý nghĩa pháp lý của di chúc (Tôn
trọng quyền định đoạt của người để lại di sản) cũng như làm mất đi nhưng
giá trị đức. Mục đính của loại tài sản này là dùng để thờ cúng người đã
khuất, thực hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc, khi người nhận di sản
không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ này thì nên giao cho người khác thực hiện,
9
nhưng người khác là ai? Và khi không có nhận nghĩa vụ này thì nên định
đoạt khối di san này như thế nào? Thì pháp luật chưa quy định rõ.
Tuy nhiên nếu tiếp cận vấn đề ở một góc độ khác thì ta hoàn thấy có
một cái nhìn khác về vấn đề này. Theo di chúc Nguyễn Văn C để toàn bộ
khối di sản cho ông Hiếu ở và dùng vào việc thờ cúng, như vậy theo quy
định của pháp luật … ông Hiếu hoàn toàn không có quyền sở hữu với khôi
di sản này mà chỉ có quyền quản lý và quyền sử dụng (bị hạn chế trong việc
chỉ được dùng vào việc thờ cúng). Nếu vậy đứng vào vị trí của ông Hiếu sẽ
thấy rất rõ ông Hiếu phải thực hiện rất nhiều nghĩa vụ nhưng lại không có
của ông Nguyên Văn K là có hiệu lực pháp luật và chia thừa kế di sản của
ông theo di chúc miệng.
Pháp luật nước ta hiện nay thừa nhận hai hình thức di chúc là di chúc
miệng và di chúc bằng văn bản. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của xã hội,
ngày nay có nhiều trường hợp thể hiện di chúc như ghi âm, ghi hình…mà
trong trường hợp trên di chúc miệng của ông Nguyễn Văn K được thu bằng
băng ghi âm. Nếu chỉ căn cứ theo pháp luật hiện tại thì hoàn toàn không thể
chấp nhận di chúc miệng của ông Nguyên Văn K được, nhưng Tòa án đã
biết vận dụng linh hoạt quy định của pháp luật khi xác định được tình đúng
đắn của cuốn băng ghi âm với sự làm chứng của hai người hàng xóm và xác
nhận của hai người con gái ông Nguyễn Văn K. Ngoài trường hợp trên nếu
di chúc được ghi hình hoặc được viết trên các loại vất liệu khác không phải
dấy như đá, ghỗ… thì chúng cũng nên đưa ra các quy định cụ thể thừa nhận
những loại di chúc này nếu xác định được tính xác thực của nó. Đây là một
trường hợp hi hữu ở nước ta, do không phổ biến nên ngay cả khi không có
các quy định rõ ràng về vấn đề này cũng không xảy ra nhiều tranh chấp,
11
nhưng tại các nước phát triển với nền khoa học kỹ thuật phát triển đây đã
không còn là một vấn đề xa lạ nữa. Để đảm bảo pháp luật có tính khả thi
cao, tính ổn định thì không những cẫn căn cứ vào các tình hình thực tiến đã
xảy ra để đưa ra các quy định điều chỉnh mà còn cần phải nắm bắt những
tình huống có thể cần điều chỉnh trong tương lai để đưa ra cac quy định kịp
thời, chánh sự bị động.
2.2. Do trình độ nhận thức pháp luật của người dân còn thấp còn thấp:
Do vấn đề thừa kế lâu nay được điều chỉnh chủ yếu thông qua lối sống,
phong tục tập quán, đạo đức vậy nên đa phần mọi người ít khi tiếp cận tới
các quy định của pháp luật về vấn đề nay đặc biệt là các quy định về hình
thức và thủ tục, trình tự lập di chúc. Thủ tục lập di chúc lập di chúc là các
pháp luật.
Sở dĩ Tòa không thừa nhận bản di chúc trên là vì thủ tục lập không
đúng với quy định của pháp luật…. Bà Trần Thị G lập di chúc với hình thức
là văn bản nhưng lại được đánh máy, bên dưới có chữ ký và điểm chỉ của mà
Trần Thị G, chữ ký của ông Nguyễn Quang T, bà Nguyễn Thị H và có xác
nhận của UBND xã nhưng xác nhận đó là sau ba ngày chứ không phải ngay
sau khi bà Trần Thị G lập di chúc ngoài ra chứ ký hai con bà là ông Nguyễn
Quang T, bà Nguyễn Thị H với vai trò là người làm chứng là không đúng
vói quy định của pháp luật do hai người nay có được hưởng di sản của bà
Trần Thị G nên không thể làm chứng cho di chúc của bà…
2.3. Do các yếu tố kinh tế - xã hội đặc thù khác:
Do ảnh hưởng của thời ký chiến tranh, trải qua thời kỳ đổi mới với
nhiều hình thức quản lý nhà nước khác nhau nên điều kiên lưu dữ các tài liệu
nhân thân không đảm bảo, dẫn tới bị thất lạc; các giấy tờ lien quan bị chồng
13
chéo; gia đình lý tán dẫn tới việc quản lý nhân thân, xác định di sản thừa kế
gặp rất nhiều khó khăn.
Cụ thể như trưởng hợp của bà H ở thành phố Hồ Chí Minh, năm 1996
bà lập gia đình với ông L, có đăng ký kết hôn tại phường 13. Đến năng
2000, ông L mất để lại di chúc truất quyền thừa kế của bà H. Bà nộp đơn
đơn đến TAND Quận 11 thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu Tòa xác định
phần thừa kế của bà trong khối di sản của ông L để có điều kiện tạo lập cuộc
sống mới. Vụ kiện trở nên phức tạp hơn khi TAND quân 11 bất ngờ nhận
được đơn của ông K cho rằng việc kết hôn của bà H và ông L là trái pháp
luật và yêu cầu Tòa hủy. Theo ông K, ông và bà H đã đăng ký kết hôn với bà
H từ năm năm 1974 tại xã Ka Đô, Đơn Dương (Lâm Đồng). Năm 1975, hai
người có một người con chung. Khi con trai được ba tháng tuổi, do mâu
thuẫn với gia đình chồng bà H đã bế con bỏ đi. Sự việc này được sự xác
khi người để lại di sản chết…” của Điều 635 quy định về người được hưởng
di sản ở Chương XXII (quy định những quy định chung) sang chương XXIV
(quy đinh trong thừa kế theo pháp luật).
1.2. Hoàn thiện một số quy định về thừa kế theo di chúc:
- Ta nên bô xung thêm vào Điều 670, đó là xác định khái niệm “một phấn”
là bào nhiều hay nằm trong khoản nào. Theo ý kiến của riêng em, em đồng ý
với quan điểm nên đề “một phần” di sản dung vào việc thờ cúng phải nhỏ
hơn ½ (50%) tổng di sản, yêu tiên nhưng phần di sản đang được dùng làm
nơi thờ cúng. Như vậy vừa có thể đáp ứng được yêu cầu về tư liệu sản xuất,
thuc đẩy kinh tế phát triển vừa đảm bảo có thể lưu dữ những truyền thống tốt
đẹp của dân tộc ta.
15
- Về việc trả thù lao cho người quản lý di sản dung vào việc thờ cúng một
cách cụ thể, ro ràng hơn như: Họ được hưởng bao nhiêu từ khối di sản quản
lý.
- Xem xét lại nên hay không thừa nhận di chúc chung của vợ chống. Nếu
vẫn thừa nhận hình thức di chúc này thì nên có các quy định cụ thể hơn để
xác lập quyền sở hữu đối của những đồng sở hữu khi một trong hai vợ chồng
chết trước.
- Cần bổ xung thêm các quy định về hình thức di chúc: Như chất liệu của di
chúc, phương thức thể hiện di chúc... Mà cụ thể theo quan điểm của riêng
em thì ta nên công nhận một hình thức di chúc mới đó là di chúc được thể
hiện qua các băng thu âm, các băng ghi hình. Tuy nhiên cũng cần có các
điều kiên để đảm bảo tính xác thực của di chúc.
2. Nâng cao trình độ, ý thức, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ:
Trình độ của đội ngũ cán bộ xát xử pháp luật nước ta hiện nay chưa đáp
ứng được nhu cầu thực tiễn đặt ra. Việc áp dụng các quy định của pháp luật
thiếu là hoạt động áp dụng pháp luật, hoạt động này phải được tiến hành một
cách nghiêm minh bởi đội ngũ thẩm phán có trình độ chuyên môn, có đạo
đức nghề nghiêp. Có như vậy mới tạo được niềm tin vào pháp luật nơi quần
chúng nhân dân. Đây là một giải pháp mang tính lấu dài và phải đi cúng các
biện phát phát triển kinh tế - xã hội khác mới phát huy được tối đa hiều quả
của nó.
C. Kết luận:
Thừa kế theo di chúc là một chế định quan trọng trong pháp luật dân sự
Việt Nam. Trong khoa học pháp lý thì những quy định về thừa kế theo di
chúc là một trong những phương thức thực hiện quyền định đoạt tài sản của
17
chủ thể được nhà nước thừa nhận, bảo vệ và đảm bảo thực hiện. Về mặt xã
hội những quy định này còn thể hiện tình cảm tốt đẹp, sự tộn trọng truyền
thống của con người Việt Nam qua các quy định về di sản thờ cúng, di tặng,
quyền lập di chúc chung của vợ, chồng.
Trong sự vận động và phát trển của nền kinh tế - xã hội, một số quy
định về thừa kế theo di chúc trong bộ luật Dân sự năm 2005 dường như
không còn chặt chẽ, có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, nặng nề về mặt
thủ tục.Và có những vấn đề mới phát sinh mà các nhà làm luật chưa dự liệu
tới dẫn tới một thực trạng “vừa thừa vừa thiếu” cùng với những khó khăn do
điều kiện đặc thù của đất nước đã dẫn tới thực trạng công tác giải quyết
tranh chấp về thừa kế theo di chúc còn nhiều bất cấp, gây ảnh hưởng tiêu
cực tới quyền lợi hợp pháp của người dân, tuy nhiên cũng không thể không
xem xét tới sự tắc trách của đội ngũ cán bộ nói chung và của đội ngũ Thẩm
phán nói riêng trong công tác xét xử đã dần làm mất đi lòng tin của người
dân. Do vậy để đảm bảo chất lượng hoạt động giải quyết tranh chấp về thừa
kế theo di chúc thì phải tiến hành hàng loạt các hoạt động mang tinh vĩ mô
như nâng cao dân chí, đào tạo đội ngũ cán bộ cho tới các biện pháp mạng