Thực tiễn giải quyết tranh chấp về đặt cọc tài sản - Pdf 33

Thực tiễn giải quyết tranh chấp về đặt cọc tài sản

TAND Huyện Kiến Thụy

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................................... - 1 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT .......................................................................................... - 2 Chương I: LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO THỰC TIỄN NGHĨA VỤ DÂN SỰ ......................... - 3 1.Khái niệm về đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự:.......................................................... - 3 2.Đặc điểm của các biện pháp đảm bảo thực hiện NVDS: ................................................. - 3 3.Các biện pháp bảo đảm theo quy định của PL dân sự hiện hành: ................................. - 4 3.1.Biện pháp cầm cố tài sản: ............................................................................................ - 4 3.2.Biện pháp thế chấp tài sản: ......................................................................................... - 4 3.3.Biện pháp bảo lãnh: ..................................................................................................... - 5 3.4.Biện pháp đặt cọc: ........................................................................................................ - 6 3.5.Ký cược (Đ359 BLDS): ................................................................................................ - 6 3.6.Ký quỹ (Đ360 BLDS): .................................................................................................. - 7 3.7.Tín chấp: ....................................................................................................................... - 7 Chương II: PHÁP LUẬT VỀ ĐẶT CỌC VÀ THỰC HIỆN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
VỀ ĐẶT CỌC TÀI SẢN TẠI ĐỊA PHƯƠNG ........................................................................ - 9 1.Pháp luật về đặt cọc: ........................................................................................................... - 9 2.Thực hiện áp dụng pháp luật về đặt cọc: ........................................................................ - 10 2.1.Vụ việc thứ nhất: Về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc tài sản chuyển nhượng quyền
sử dụng đất giữa bà Trần Thị Bích (Minh Tân – Kiến Thụy) và Công ty TNHH Dệt may
(Minh Tân – Kiến Thụy). .................................................................................................. - 11 2. Vụ việc thứ 2: Về việc tranh chấp về tài sản đặt cọc trong chuyển nhượng quyền sử
dụng đất giữa ông Phạm Văn Triển (xóm Đình, thôn Tú Đôi, xã Kiến Quốc, huyện Kiến
Thụy, Hải Phòng) và anh Đặng Xuân Bằng (xóm 2, thôn Đại La, xã Đại hà, huyện Kiến
Thụy, Hải Phòng). ............................................................................................................. - 14 Chương III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ
CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NVDS ............................................................ - 18 1.Đảm bảo nguyên tắc tự do thỏa thuận: ........................................................................... - 18 2.Đảm bảo tin năng thống nhất giữa các quy định về biện pháp bảo đảm với các quy định
khác trong Dự thảo: ............................................................................................................. - 19 3. Về phân loại các biện pháp bảo đảm: ............................................................................ - 19 4. Về phạm vi bảo đảm: ....................................................................................................... - 20 5. Về điều kiện đối với tài sản bảo đảm: ............................................................................ - 20 6. Về cơ sở pháp lý phát sinh nghĩa vụ của các bên trong quan hệ bảo đảm: ................ - 21 7. Về biện pháp phạm vi phạm: .......................................................................................... - 22 KẾT LUẬN .............................................................................................................................. - 24 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... - 25 -

SV:

Lớp:


Thực tiễn giải quyết tranh chấp về đặt cọc tài sản

-1-

TAND Huyện Kiến Thụy

MỞ ĐẦU

Xã hội phát triển, con người dù tiến bộ, cuộc sống dù có văn minh nhưng khi
quyền và lợi ích bị xâm phạm thì tranh chấp sẽ xảy ra. Do đặc thù của pháp luật Việt Nam
có sự phân định về quan hệ dân sự và quan hệ kinh tế nên các biện pháp bảo đảm ghi

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Bộ luật Dân sự

: BLDS

Dân sự sơ thẩm

: DSST

Hội đồng bộ trưởng

: HĐBT

Hội đông thẩm phán

: HĐTP

Sơ thẩm

: ST

Thi hành án

: THA

Tòa án nhân dân

: TAND

Trách nhiệm hữu hạn

thực hiện, đồng thời xác định và đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên trong biện pháp
đó.
Về mặt chủ quan: Bảo đảm thực hiện NVDS là việc thỏa thuận giữa các bên nhằm
qua đó đặt ra các biện pháp tác động mang tính chất dự phòng để đảm bảo cho việc thực
hiện NVDS, đồng thời ngăn ngừa và khắc phục những hậu quả xấu do việc không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ NVDS gây ra.
2.Đặc điểm của các biện pháp đảm bảo thực hiện NVDS:
- Các biện pháp đảm bảo NVDS mang tin chất bổ sung cho nghĩa vụ chính, tức law
nó sẽ phụ thuộc vào nghĩa vụ chính.
- Mục đích: Nâng cao trách nhiệm của các bên trong quan hệ NVDS. Cụ thể nâng
cao trách nhiệm xác lập giao dịch dân sự (đặt cọc buộc các bên giao kết hợp đồng nâng
cao trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ được thỏa thuận trong hợp đồng).
- Đối tượng của các biện pháp bảo đảm: thường tài sản.
Tài sản là đối tượng của các biện pháp bảo đảm thường phải đáp ứng các điều
kiện:
+ Thuộc sở hữu của bên bảo đảm
+ Được phép giao dịch và không có tranh chấp
SV:

Lớp:


Thực tiễn giải quyết tranh chấp về đặt cọc tài sản

-4-

TAND Huyện Kiến Thụy

+ Bên bảo đảm phải mua bảo hiểm đối với tài sản theo quy định của pháp luật.
+ Phạm vi bảo đảm của các biện pháp bảo đảm không vượt quá phạm vi nghĩa vụ


-5-

TAND Huyện Kiến Thụy

vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản
đó cho bên nhận thế chấp”. Như vậy, thế chấp tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên (hoặc
theo quy định của pháp luật); theo đó, bên thế chấp sẽ dùng giấy tờ chứng nhận quyền sở
hữu tài sản (không chuyển giao tài sản) của mình giao cho bên nhận thế chấp giữ để bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Đây cũng là điểm khác biệt giữa cầm cố tài sản và thế
chấp tài sản.
Thế chấp tài sản có những đặc điểm pháp lý sau:
- Không có sự chuyển giao tài sản thế chấp: Trong quan hệ thế chấp, bên có nghĩa
vụ không chuyển giao tài sản mà chuyển giao những giấy tờ chứng minh tình trạng pháp
lý của tài sản thế chấp. Đó có thể là giấy đăng ký quyền sở hữu tài sản, giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất…Các loại giấy tờ này phải là bản gốc và trao cho bên nhận thế chấp
giữ.
- Một tài sản bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ chỉ có thể là tài sản thế chấp: Theo quy
định của pháp luật, một tài sản có thể bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ nếu tổng các nghĩa vụ
không vượt quá giá trị tài sản bảo đảm. Trong trường hợp muốn một tài sản bảo đảm cho
nhiều nghĩa vụ đối với nhiều người khác nhau, các bên chỉ có thể lựa chọn biện pháp thế
chấp vì biện pháp thế chấp không đòi hỏi các bên có quyền trực tiếp giữ tài sản bảo đảm
như trong cầm cố.
3.3.Biện pháp bảo lãnh:
Nếu như trong các biện pháp bảo đảm khác, thông thường chỉ có hai bên là bên
bảo đảm và bên nhận bảo đảm thì bảo lãnh xuất hiện thêm một chủ thể thứ ba – đó là bên
bảo lãnh. Theo quy định tại Điều 361, BLDS 2005: “Bảo lãnh là việc người thứ 3 (sau
đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ
thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây được gọi là bên được bảo lãnh) nếu
khi đến hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa

động sản (như thuê nhà ở, thuê tàu, thuyền,…)
- Mục đích của biện pháp ký cược là nhằm buộc bên thuê phải trả lại tài sản, qua
đó để bảo đảm quyền lợi cho bên cho thuê. Vì vậy, nếu tài sản thuê được trả lại, thì bên
cho thuê phải hoàn trả tài sản ký cược sau khi đã được bên ký cược (bên thuê tài sản)
thanh toán tiền thuê. Nếu bên thuê không trả lại tài sản thuê, thì tài sản ký cược thuộc về
bên cho thuê.
- Trong quan hệ hợp đồng thuê tài sản là động sản có áp dụng biện pháp ký cược,
bên cho thuê tài sản đồng thời là bên nhận ký cược, bên thuê tài sản đồng thời là bên ký
cược.
SV:

Lớp:


Thực tiễn giải quyết tranh chấp về đặt cọc tài sản

-7-

TAND Huyện Kiến Thụy

- BLDS không quy định về hình thức, biện pháp ký cược. Do đó, có thể hiểu: Biện
pháp ký cược có thể được các bên thỏa thuận trong HĐ thuê tài sản hoặc thỏa thuận riêng
biệt, không nhất thiết phải lập thành văn bản.
- Có thể nói, biện pháp ký cược vừa mang tính chất của biện pháp cầm cố, vừa
mang tính chất của biện pháp đặt cọc.
3.6.Ký quỹ (Đ360 BLDS):
- Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi mọi khoản tiền hoặc kim khí, đá quý hoặc
giấy tờ giá trị được bằng tiền vào tài khoản phong tỏa tại một ngân hàng để bảo đảm việc
thực hiện NVDS.
- Tùy thuộc vào từng loại hợp đồng mà một hoặc cả hai bên phải mở một tài khoản

+ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Hợp đồng cho vay có bảo đảm bằng tín chấp phải được lập thành văn bản, trong đó
phải ghi rõ số tiền vay, mục đích vay, thời hạn vay, lãi suất, quyền và nghĩa vụ trách
nhiệm của người vay cũng như của bên cho vay và người bảo đảm.

SV:

Lớp:


Thực tiễn giải quyết tranh chấp về đặt cọc tài sản

-9-

TAND Huyện Kiến Thụy

Chương II
PHÁP LUẬT VỀ ĐẶT CỌC VÀ THỰC HIỆN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ
ĐẶT CỌC TÀI SẢN TẠI ĐỊA PHƯƠNG
1.Pháp luật về đặt cọc:
Điều 358. Đặt cọc
1.Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá
quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo
đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng thực hiện dân sự.
Việc đặt cọc phải được lập thành văn bản.
2.Trong trường hợp hợp đồng dân sự được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc
được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt
cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận
đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì phải
trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc,

trong hợp đồng dân sự. Do đó, khi hợp đồng dân sự được giao kết, thực hiện thì tài sản
đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền khi thực
hiện hợp đồng dân sự. Nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài
sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc. Ngược lại, nếu bên nhận đặt cọc từ chối giao kết,
không thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền
tương đương với giá trị của tài sản đặt cọc (trừ trường hợp các bên coa thỏa thuận khác).
2.Thực hiện áp dụng pháp luật về đặt cọc:
Cùng với sự bùng nổ về kinh tế của nước ta hiện nay, các giao dịch dân sự nhất là
trong lĩnh vực bất động sản diễn ra vô cùng sôi động. Trong giao dịch bất động sản, bà
con thường tiến hành kí kết hợp đồng đặt cọc để tham gia giao dịch mặc dù không thực sự
hiểu rõ luật điều chỉnh cũng như kinh nghiệm tham gia loại giao dịch này.
Tuy nhiên trong quá trình chờ đợi việc hoàn tất các thủ tục cần thiết để hoàn thiện
việc sang tên sổ đỏ, vì nhiều lý do khác nhau (giá cả leo thang, nhu cầu thay đổi, không
thu xếp được tài chính…) dẫn đến phát sinh nhiều bất trắc, thay đổi trong thời gian này.
Từ sự phá bỏ cam kết đặt cọc dẫn đến mâu thuẫn gay gắt, kéo dài mà tự các bên tham gia
giao dịch không giải quyết được, đôi khi còn xảy ra xô xát hoặc đưa ra khởi kiện tại tòa
án gây mất nhiều thời gian và cơ hội đầu tư của các bên. Dưới đây em xin đưa ra hai vụ
việc về nội dung tranh chấp hợp đồng đặt cọc tà sản mà em đã nghiên cứu hồ sơ trong
thời gian thực tập. Cụ thể:

SV:

Lớp:


Thực tiễn giải quyết tranh chấp về đặt cọc tài sản
Thụy

- 11 -



Lớp:


Thực tiễn giải quyết tranh chấp về đặt cọc tài sản
Thụy

- 12 -

TAND Huyện Kiến

Bích cũng không yêu cầu công ty kí kết hợp đồng chuyển nhượng và không đưa cho công
ty giấy tờ cần thiết để làm thủ tục xin phép cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Do vậy,
theo yêu cầu đặt cọc 07/04/2010 và phụ lục hợp đồng kí 04/06/2010 thì bà Bích đã vi
phạm thỏa thuận tại Điều 2.2 của hợp đồng. Bà Bích từ chối giao kết và không thục hiện
nghĩa vụ dân sự thì bà Bích bị mất tài sản đặt cọc.
Vụ việc đã được Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy giải quyết. Tại bản án dân sự
sơ thẩm số 05/2011/DSST ngày 10/06/2011 Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy đã xử:
1.Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Bích.
2.Tuyên bố hợp đồng đã đặt cọc ngày 07/04/2010 giữa bà Trần Thị Bích và Công
ty TNHH Dệt may là vô hiệu.
3.Buộc công ty TNHH Dệt may trả lại bà Bích số tiền 3 tỷ đồng và 158.280.500đ
tiền bồi thường thiệt hại. Tổng số tiền mà Công ty TNHH Dệt may phải trả cho bà Trần
Thị Bích là 3.158.280.500đ.
4.Bà Trần Thị Bích phải trả cho Công ty TNHH Dệt may giấy chứng nhận QSDĐ
số 479120 ngày 01/1/2000.
Bác yêu cầu khác của các bên đương sự.
Sau khi xử sơ thẩm, ngày 22/06/2011, bà Bích có đơn kháng cáo đề nghị xác định
hợp đồng đặt cọc giữa bà và Công ty TNHH Dệt may là có hiệu lực và buộc Công ty bồi
thường cho bà 3 tỷ đồng tiền phạt đặt cọc.

chinh xác. Theo hợp đồng thuê đất số 28 ngày 07/8/2000 giữa Công ty TNHH Dệt may và
UBND thành phố Hải Phòng thì thửa đất mà các bên kí kết hợp đồng được nhà nước cho
Công ty TNHH Dệt may thuê 30 năm. Theo quy định tại Điều 111 Luật Đất đai năm 2003
thì phía công ty không có quyền chuyển nhượng QSDĐ thửa đất trên mà chỉ có quyền
được chuyển nhượng tài sản trên đất và việc chuyển giao khu đất thì phải do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền cho phép. Song Công ty TNHH Dệt may chưa được cơ quan có thẩm
quyền cho phép chuyển nhượng đã kí kết hợp đồng đặt cọc với bà Bích là vi phạm tại hợp
đồng thuê đất giữa Công ty TNHH Dệt may và UBND Thành phố Hải Phòng.
Theo quy định của pháp luật thì bên nhận chuyển nhượng đất thuê phải có đủ điều
kiện như giấy phép kinh doanh, dự án đầu tư. Tại phiên tòa phúc thầm bà Bích xuất trình
giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Công ty cổ phần đầu tư thương mại Minh
Quang cử bà Bích là giám đốc để khẳng định bà Bích đủ điều kiện nhận chuyển nhượng.
Tuy nhiên việc kí kết hợp đồng đặt cọc của bà Bích với phía Công ty là với tư cách cá
nhân chứ không phải đại diện cho Công ty đầu tư thương mại Minh Quang. Trong thời
SV:

Lớp:


Thực tiễn giải quyết tranh chấp về đặt cọc tài sản
Thụy

- 14 -

TAND Huyện Kiến

gian đặt cọc, phía bà Bích cũng không có tài liệu chứng minh đã đưa cho Công ty TNHH
Dệt may tài liệu để khẳng định bà có đủ điều kiện nhận chuyển nhượng. Do vậy Tòa án
các cấp đã xác định hợp đồng đặt cọc giữa bà Bích với Công ty TNHH Dệt may vô hiệu
và áp dụng Điều 137 BLDS buộc các bên phải trả lại cho nhau những gì đã nhận. Do lỗi

- 15 -

TAND Huyện Kiến

tháng 5/2012 anh đã chuyển nhượng thửa đất nói trên cho vợ chồng ông Đặng Xuân
Thường. Nay ông Triển khởi kiện, anh chấp nhận trả lại số tiền ông Triển đặt cọc, nhưng
không chấp nhận bồi thường.
Vụ việc được Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy giải quyết. Tại bản án sơ thẩm số
14/2013/DSST ngày 25/02/2013, Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy quyết định:
1.Xác định là giao dịch dân sự được kí kết giữa ông Phạm Văn Triển và anh Đặng
Xuân Bằng là giao dịch đặt cọc để đảm bảo giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất tại thửa đất số 05 tờ bản đồ số 09 thôn Đại La, xã Đại Hà, Kiến Thụy, Hải
Phòng.
2.Tuyên bố giao dịch dân sự về đặt cọc giữa ông Phạm Văn Triển và anh Đặng
Xuân Bằng là giao dịch dân sự vô hiệu. Buộc anh Bằng phải thanh toán cho ông Triển số
tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).
Ông Triển và anh Bằng đều có đơn kháng cáo. Tòa án nhân dân Thành phố Hải
Phòng đã xét xử phúc thẩm và nhận định:
Anh Đặng Xuân Bằng là người chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Phạm
Văn Triển song sau khi nhận trước tiền và viết : “Giấy biên nhận” anh không có thiện chí
để làm hợp đồng và hoàn tất thủ tục chuyển nhượng ở cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
mà lại tự ý chuyển nhượng cho người khác là vi phạm nghĩa vụ người chuyển nhượng
quyền sử dụng đất quy định tại Điều 699 BLDS 2005. Do vậy anh phải chịu trách nhiệm
đối với hậu quả do hợp đồng vô hiệu, bằng 70%.
Về phía ông Phạm Văn Triển là người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất,
đáng lẽ sau khi thỏa thuận và trả trước 10.000.000đ thì ông phải cùng anh Bằng thiết lập
hợp đồng và hoàn tất thủ tục đăng kí chuyển nhượng ở cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
nhưng ông không làm hoặc làm không đến nơi đến chốn dẫn đến hợp đồng vô hiệu là vi
phạm về quyền và nghĩa vụ của bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất quy định tại


tỷ lệ lỗi, không theo quy định của Điều 358 BLDS năm 2005.
Trước hết, hợp đồng giữa anh Bằng và ông Triển tuy chưa được lập thành văn bản
nhưng thỏa thuận này hoàn toàn tự nguyện và thỏa mãn các điều kiện pháp luật quy định
để hợp đồng có hiệu lực pháp luật, như đối tượng mua bán, giá cả, phương thức thanh
toán. Vì vậy, cần phải coi hợp đồng này đã được thực hiện một phần chứ không phải hợp
đồng đặt cọc như Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định.

SV:

Lớp:


Thực tiễn giải quyết tranh chấp về đặt cọc tài sản
Thụy

- 17 -

TAND Huyện Kiến

Đáng lẽ, sau khi chuyển nhượng và nhận tiền trả trước từ ông Triển, anh Bằng có
nghĩa vụ làm hợp đồng bằng văn bản và đăng kí ở cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Nhưng anh Bằng lại không viết hợp đồng chuyển nhượng cho ông Triển mà lại chuyển
nhượng thửa đất đó cho bà Vũ Thị Thu Hà, dẫn đến hợp đồng giữa anh với ông Triển vô
hiệu.
Tại khoản 2 điều 137 BLDS 2005 có quy định: “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì
các bên khôi phục tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận…Bên có lỗi
gây thiệt hại phải bồi thường”. Như vây, giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa anh Bằng và ông Triển là vô hiệu, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận,
xác định lỗi của các bên để bồi thường thiệt hại như quyết định của Tòa án cấp phúc
thẩm. Cả ông Triển và anh Bằng đều có lỗi trong việc dẫn đến hợp đồng vô hiệu, nhưng

cũng không nên loại trừ những thỏa thuận khác của chính các bên tham gia vào giao dịch
ấy.
Dù vậy, một số điều trong Dự thảo còn quy định một cách khá cứng nhắc. Ví dụ:
Điều 301 cho phép một tài sản có thể dùng để bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ, là một quy
định mới, đáp ứng yêu cầu thực tiễn song pháp luật quy định bắt buộc mỗi lần bảo đảm
phải lập thành văn bản. Thiết nghĩ, nên bổ sung cụm từ “nếu các bên không có thỏa thuận
hoặc pháp luật có quy định khác”. Trong thực tiễn hoạt động Ngân hàng, trường hợp cho
vay theo hạn mức, nếu quy định như vậy là không khả thi vì các bên hoàn toàn có thể thỏa
thuận một hợp đồng bảo đảm cho nhiều khoản tín dụng khác nhau, miễn sao tại một thời
điểm bất kỳ trong thời gian hợp đồng có hiệu lực tổng giá trị các khoản vay không vượt
quá hạn mức đã được thỏa thuận.

SV:

Lớp:


Thực tiễn giải quyết tranh chấp về đặt cọc tài sản
Thụy

- 19 -

TAND Huyện Kiến

2.Đảm bảo tin năng thống nhất giữa các quy định về biện pháp bảo đảm với các quy
định khác trong Dự thảo:
Trong BLDS hiện hành và cả Dự thảo, nhìn chung, chưa đảm bảo tin thống nhất
giữa các chế định trong pháp luật dân sự. Chế định các biện pháp bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ không là một bộ phận độc lập trong BLDS mà nó phải được xây dựng và hoàn
thiện trong mối quan hệ tương tác với các chế định pháp luật khác về tài sản, quyền sở


TAND Huyện Kiến

và tiết kiệm hen nếu gộp cầm cố, thế chấp chung một nhóm biện pháp bảo đảm trong đó
hai trường hợp: chuyển giao (tạm thời chấm dứt quyền sử dụng) và không chuyển giao
vật, tài sản bảo đảm (tiếp tục quyền sử dụng). Bộ luật Dân sự Nga và một số các nước
khác cũng đã giải quyết vấn đề này khá thành công; cụ thể là chỉ quy định một trường hợp
là thế chấp. Trong trường hợp không thể gộp chung, có thể sử dụng kỹ thuật dẫn chiếu mà
không phải liệt kê lại nội dung các điều luật trong hai phần thế chấp và cầm cố này.
4.Về phạm vi bảo đảm:
Khoản 2 Điều 295 Dự thảo bổ sung: “Các bên được thỏa thuận về các biện pháp
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ để bảo đảm thực hiện các loại nghĩa vụ, kể cả nghĩa vụ hiện
tại, nghĩa vụ trong tương lai hoặc nghĩa vụ có điều kiện”.
Theo quan niệm truyền thống và cả trong luật Việt Nam hiện hành: Nghĩa vụ được
đảm bảo chỉ có thể là nghĩa vụ đã hình thành, đã tồn tại, có thực và đã xác định phạm vi
của nghĩa vụ đó, bởi biện pháp bảo đảm là thiết lập một nghĩa vụ phụ, dự phòng, hỗ trợ
cho nghĩa vụ chính, trong khi đó Điều 285 BLDS (Điều 256 Dự thảo) ghi nhận những căn
cứ phát sinh nghĩa vụ là từ hợp đồng dân sự; hành vi dân sự đơn phương; gây thiệt hại do
hành vi trái pháp luật…Như vậy, các biện pháp bảo đảm nhằm xác lập một nghĩa vụ bổ
trợ (nghĩa vụ dự phòng) cho nghĩa vụ chính. Trường hợp nghĩa vụ chính chưa tồn tại,
chưa định hình, chưa xác định phạm vi thì khó có thể xác lập nghĩa vụ bảo đảm.
Dưới góc độ lý luận, đây là vấn đề còn tranh luận chưa có kết luận cuối cùng, bởi
pháp luật về kinh tế - dân sự Việt Nam chưa công nhận một cách cụ thể hiệu lực pháp lý
của các văn bản dưới dạng: thỏa thuận tiền hợp đồng, bản ghi nhớ của các bên trước khi
kí hợp đồng.
5.Về điều kiện đối với tài sản bảo đảm:
Việc đưa ra điều kiện: Giá trị tài sản phải lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được
bảo đảm trong trường hợp một tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ (Điều
301 Dự thảo), là một quy định không cần thiết. Chúng tôi cho rằng việc định giá tài sản
SV:

trên hiệu lực của BLDS.
Trong thực tiễn cam kết bảo lãnh được lập dưới hình thức văn bản với nhiều tên
gọi “hợp đồng bảo lãnh”, “hợp đồng thế chấp”, “hợp đồng cầm cố”.
Tuy không tồn tại cơ sở nào để phủ nhận quan hệ thế chấp, cầm cố, bảo lãnh không
law quan hệ hợp đồng. Song nếu như BLDS Việt Nam với tin chất làvăn bản pháp luật có
hiệu lực cao nhất trực tiếp xác nhận, khẳng định rằng quan hệ bảo đảm (trừ phạt vi phạm

SV:

Lớp:


Thực tiễn giải quyết tranh chấp về đặt cọc tài sản
Thụy

- 22 -

TAND Huyện Kiến

và chiếm giữ tài sản) là quan hệ hợp đồng thì sẽ dẫn đến những hệ quả pháp lý nhất định
và sẽ tốt hơn rất nhiều trong thực tế áp dụng pháp luật về bảo đảm.
Nếu Dự thảo chính thức và trực tiếp ghi nhận thế chấp, cầm cố, bảo lãnh là quan hệ
hợp đồng thì hợp đồng bảo đảm sẽ chịu sự điều chỉnh của các quy định pháp luật về hợp
đồng nói chung được quy định trong BLDS. Những quy định ấy bao gồm: Thủ tục, trình
tự giao kết hợp đồng, nguyên tắc kí kết hợp đồng, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng,
hợp đồng vô hiệu,…Pháp luật các Quốc gia trên thế giới đều trực tiếp công nhận trong
BLDS rằng quan hệ bảo đảm là quan hệ hợp đồng.
7.Về biện pháp phạm vi phạm:
Một số quan điểm cho rằng, phạt vi phạm là một chế tài trong dân sự, là hậu quả
pháp lý của hành vi vi phạm nghĩa vụ và hợp đồng mà nó hoàn toàn không là một biện

vụ mà tự bản thân nó là một bộ phận cấu thành nên nghĩa vụ. Phạt vi phạm có thể được
xác lập song song với chế tài bồi thường thiệt hại nhằm mục đích cảnh báo một hậu quả
bất lợi nếu như bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
Phạt vi phạm có vai trò định hướng và ràng buộc bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng
nghĩa vụ của mình.

SV:

Lớp:


Thực tiễn giải quyết tranh chấp về đặt cọc tài sản
Thụy

- 24 -

TAND Huyện Kiến

KẾT LUẬN
Pháp luật về đảm bảo thực hiện NVDS nói chung, đặt cọc nói riêng luôn đóng vai
trò quan trọng góp phần ổn định và phát triển các giao dịch dân sự, đồng thời bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia quan hệ này. Đặt cọc là biện pháp bảo
đảm xuất hiện từ rất sớm và được sử dụng rộng rãi trong giao lưu dân sự và trao đổi hàng
hóa từ trước tới nay. Đặt cọc đóng vai trò quan trọng trong giao lưu kinh tế - dân sự; góp
phần ổn định và phát triển đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể tham gia
trong quan hệ này. Tuy nhiên vai trò quan trọng nhất của chế định pháp luật về đặt cọc
bảo đảm thực hiện NVDS được thể hiện ở việc phòng ngừa, khống chế rủi ro trong việc
thực hiện NVDS, góp phần ổn định giao dịch dân sự và thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Trong khuôn khổ của một khóa luận tốt nghiệp, em đã cố gắng phân tích các quy
định mang tính lý luận của biện pháp đặt cọc kết hợp với việc đánh giá thực tiễn áp dụng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status