NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
--------------------------
NHỮ THUỲ LINH
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ
PHI TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM- CHI NHÁNH
HAI BÀ TRƯNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI – NĂM 2015
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
--------------------------
NHỮ THUỲ LINH
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ
PHI TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM- CHI NHÁNH
DVNH
ĐVT
ĐVCNT
ĐHĐCĐ
HĐQT
KH
HĐV
LN
NHTM
NHNN
NH
TMCP
TCTD
PGD
POS
Vietinbank
Máy rút tiền tự động
Doanh thu
Dịch vụ ngân hàng
Đơn vị tính
Đơn vị chấp nhận thẻ
Đại hội đồng cổ đông
Hội đồng quản trị
Khách hàng
Huy động vốn
Lợi nhuận
Ngân hàng thương mại
Ngân hàng Nhà nước
Ngân hàng
một trong những Ngân hàng Thương mại lớn nhất nước ta hiện nay với mạng lưới
chi nhánh rộng khắp và có vị thế hàng đầu trong ngành ngân hàng. Tuy nhiên, trong
lộ trình mở cửa và hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới, ngành ngân
hàng ở nước ta và Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam cũng có những thách
thức không nhỏ, đòi hỏi cần có sự đổi mới toàn diện và nâng cao hiệu quả hoạt
động để khoảng cách với các ngân hàng nước ngoài được rút ngắn. Đi tìm lời giải
cho bài toán làm thế nào để nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm tạo sự phát triển bền
vững và hiện đại là việc cần thiết đối với ngành NHTM ở nước ta hiện nay, trong đó
có Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam.
1
Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Hai
Bà Trưng nằm trong hệ thống hơn 150 chi nhánh của VietinBank, nhiều năm liền
đạt danh hiệu “ Chi nhánh kinh doanh xuất sắc”. Với thành tích đáng tự hào, Chi
nhánh không ngừng đi đầu tìm kiếm giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng
trưởng doanh thu từ tất cả các hoạt động của mình, trong đó có dịch vụ phi tín dụng
ngân hàng.
Xuất phát từ nhận thức nói trên, đề tài: “ Giải pháp nâng cao chất lượng
dịch vụ phi tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh
Hai Bà Trưng” được lựa chọn để nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu các khả năng, điều kiện, giải pháp
nhằm phát triển dịch vụ phi tín dụng của VietinBank trong điều kiện kinh tế thị
trường và hội nhập kinh tế Quốc tế.
Phù hợp với mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu các dịch vụ phi tín dụng ngân hàng để thấy được vai trò của nó
đối với sự phát triển của ngân hàng. Làm rõ tính cấp thiết của việc phát triển dịch
vụ phi tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam – Chi
5. Phương pháp nghiên cứu.
Để giải quyết vấn đề đặt ra, tác giả vận dụng phương pháp luận duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử phù hợp với lý luận và thực tiễn tại Việt Nam. Bên cạnh đó,
tác giả còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp thống
kê, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp kết hợp với
việc thu thập, khảo sát, phân tích, tổng hợp … các số liệu trên thực tế để phân tích
thực trạng, từ đó đề xuất các biện pháp giúp nâng cao chất lượng dịch vụ phi tín dụng
tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu:
- Luận văn hệ thống hoá lý luận về chất lượng dịch vụ phi tín dụng của
NHTM trong điều kiện Việt Nam hiện nay.
- Đưa ra được bức tranh khái quát về chất lượng dịch vụ phi tín dụng của
VietinBank – CN Hai Bà Trưng trong những năm gần đây.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp giúp VietinBank – CN Hai Bà Trưng nâng
cao chất lượng dịch vụ phi tín dụng trong thời gian tới.
3
7. Kết cấu cấu đề tài nghiên cứu:
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia
thành ba chương với nội dung cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng dịch vụ phi tín dụng tại NHTM.
Chương 2: Thực trạng chất lượng dịch vụ phi tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công
thương Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng giai đoạn 2012-2014
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ phi tín dụng tại Ngân hàng
TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng.
4
5
- Theo Luật các Tổ chức tín dụng Việt Nam tại khoản 2, điều 20 ghi rõ:
“Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động
ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”.
Từ những định nghĩa trên có thể rút ra một khái niệm chung nhất về NHTM
đó là: “Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất
của ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn. Ngân hàng thương mại là cầu
nối giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khan
thiếu. Hoạt động của ngân hàng thương mại nhằm mục đích kinh doanh một hàng
hóa đặc biệt đó là "vốn - tiền", trả lãi suất huy động vốn thấp hơn lãi suất cho vay
vốn, và phần chênh lệch lãi suất đó chính là lợi nhuận của ngân hàng thương mại…
Bên cạnh đó các ngân hàng còn cung cấp các dịch vụ thanh toán, kinh doanh ngoại
tệ, dịch vụ thẻ…các dịch vụ này đem lại nguồn thu cho ngân hàng là phí dịch vụ.
Hoạt động của ngân hàng thương mại phục vụ cho mọi nhu cầu về vốn của mọi
tầng lớp dân chúng, loại hình doanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội”.
1.1.2. Hoạt động cơ bản của NHTM
Hoạt động của NHTM là hoạt động kinh doanh tiền tệ và cung cấp các dịch
vụ ngân hàng. Hoạt động cơ bản của ngân hàng tập trung trên 3 mặt chính đó là huy
động vốn, sử dụng vốn và cung ứng dịch vụ thanh toán. Thông qua các hoạt động
của mình ngân hàng cung cấp dịch vụ ngân hàng đến khách hàng. Việc xác định
đúng các dịch vụ mà xã hội có nhu cầu và thực hiện tốt các dịch vụ đó sẽ góp phần
đem lại thanh công cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Một số hoạt động cơ
bản của ngân hàng gồm:
- Huy động vốn: Ngân hàng mở dịch vụ nhận tiền gửi để bảo quản hộ người
có tiền với cam kết hoàn trả đúng hạn. Các ngân hàng trả lãi cho tiền gửi như là
phần thưởng cho khách hàng về việc sẵn sàng hy sinh nhu cầu tiêu dùng trước mắt
cho phép ngân hàng sử dụng tạm thời để kinh doanh. Huy động vốn có ý nghĩ cực
kỳ quan trọng, chất lượng và hiệu quả của công tác này có ảnh hưởng to lớn đến
kinh doanh.
1.2. Tổng quan về dịch vụ Ngân hàng
1.2.1 Khái niệm dịch vụ ngân hàng
Ở Việt Nam cũng có nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ. Theo từ điển
Bách khoaViệt Nam “Dịch vụ là các hoạt động phục vụ, nhằm thoả mãn những nhu
7
cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt” [13, tr.167]. Một công trình nghiên cứu khác
lại khái niệm dịch vụ “Dịch vụ là các lao động của con người được kết tinh trong
giá trị của kết quả haytrong giá trị các loại sản phẩm vô hình và không thể nắm bắt
được” [15, tr.14].
Luật các TCTD của Việt Nam không đưa ra một khái niệm cụ thể hoặc giải
thích từ ngữ với khái niệm dịch vụ ngân hàng mà chỉ đề cập đến thuật ngữ “hoạt
động ngân hàng” trong khoản 7, điều 20: “là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch
vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để
cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán”. Luật các TCTD cũng dành các mục
1, 2, 3,4 của chương 3 nêu các điều khoản về hoạt động của TCTD. Theo đó, có thể
hiểu hoạt động ngân hàng được chia theo 4 mảng lớn: huy động vốn; tín dụng;
thanh toán và ngân quỹ; và các hoạt động khác. Tuy nhiên, trong nghiên cứu lý luận
và hoạt động thực tiễn ở Việt Nam, đã có những quan điểm khác nhau về dịch vụ
ngân hàng, nhưng chung nhất dịch vụ ngân hàng là những công việc do ngân hàng
thực hiện để tìm kiếm lợi nhuận. Đối với nền kinh tế, bản thân hoạt động của ngân
hàng được coi là một ngành dịch vụ. Trong bản thân ngành ngân hàng các hoạt
động kinh doanh được phân biệt thành hailoại cơ bản:
- Kinh doanh tiền tệ: chủ yếu là hoạt động huy động vốn và cho vay.
- Dịch vụ ngân hàng: là các hoạt động ngoài hai hoạt động trên.
1.1.2. Đặc điểm sản phẩm dịch vụ ngân hàng
- Dịch vụ ngân hàng có đặc điểm là không hiện hữu: Nó không tồn tại dưới
“hỏng”. Đó là lý do tại sao cần phải điều chỉnh đúng nhịp độ cung ứng theo kịp nhịp
độ mua, chẳng hạn như: rút ngắn quy trình xử lý nghiệp vụ, trang bị máy móc hiện
đại có khả năng rút ngắn thời gian thực hiện một giao dịch, tăng cường nhân viên
cung ứng tại giờ cao điểm, kéo dài thời gian cung ứng…
- Tính dễ bị sao chép: Nếu ngân hàng vừa tổ chức thực hiện một loại dịch vụ
nào đó có hiệu quả thì ngay lập tức các ngân hàng khác có thể thực hiện ngay các
dịch vụ đó nếu họ muốn.
- Dịch vụ ngân hàng mang tính hỗ trợ cao, có mối liên hệ chặt chẽ. Các dịch
vụ ngân hàng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Sự ra đời và phát triển của dịch vụ
này là cơ sở để có sự ra đời và phát triển của dịch vụ kia và ngược lại. Ngân hàng
không thể phát triển dịch vụ tín dụng mà không đẩy mạnh dịch vụ thanh toán, phát
9
triển dịch vụ thanh toán không thể không phát triển dịch vụ mua bán ngoại tệ. Hoặc
ngân hàng không thể phát triển dịch vụ phát hành thẻ tín dụng mà không mở rộng
hình thức cho vay… có mối quan hệ chặt chẽ này đã tạo ra một hệ thống hỗ trợ giữa
các dịch vụ trong sự phát triển các dịch vụ ngân hàng.
- Dịch vụ mang lại thu nhập cho ngân hàng thông qua phí dịch vụ. Thu nhập
của ngân hàng hình thành từ phí dịch vụ nói chung, có những dịch vụ làm tăng thu
nhập của ngân hàng một cách trực tiếp như: Lãi cho vay, phí mua bán ngoại tệ, phí
chuyển tiền, phí mở và thanh toán L/C… Tuy nhiên, cũng có dịch vụ mà ngân hàng
không thu từ khách hàng mà chi thông qua dịch vụ đó để lôi kéo khách hàng, tăng
sức cạnh tranh với các ngân hàng khác hoặc thông qua các dịch vụ đó làm tăng thu
nhập từ các dịch vụ khác.
Nắm được các đặc điểm trên của dịch vụ, ngân hàng có thể khai thác, đa
dạng hóa dịch vụ của mình, từ đó có thể làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng,
nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường trong nước và quốc tế.
1.3 Nội dung của dịch vụ phi tín dụng
hàng đầu trong giai đoạn hiện nay. Theo xu hướng của các ngân hàng hiện đại trên
thế giới, doanh thu của các ngân hàng chủ yếu là doanh thu từ dịch vụ phi tín dụng,
chứ không phải là hoạt động cho vay và đầu tư vốn là những hoạt động có rủi ro
lớn. Việc xác định các tiêu chí đánh giá chất lượng các dịch vụ phi tín dụng có vai
trò quan trọng vì căn cứ vào các tiêu thức này ngân hàng mới đánh giá được thực
trạng chất lượng dịch vụ của ngân hàng mình từ đó đưa ra giải pháp để phát triển và
nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ.
* Chất lượng của các dịch vụ phi tín dụng được thể hiện qua các yếu tố sau:
- Mức phí dịch vụ: giá cả dịch vụ là một tiêu thức mà khách hàng dựa vào đó
lựa chọn ngân hàng cung cấp dịch vụ. Khách hàng có xu hướng chọn những ngân
hàng có mức thu phí dịch vụ hợp lý mà vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm sao cho
có lợi nhất cho họ. Các NHTM phải duy trì hai mục tiêu trái ngước nhau (lợi nhuận
cao và sức cạnh tranh về giá lớn). Nếu như để đạt được mức giá đem lại doanh thu
cao thì lại ảnh hưởng để khả năng cạnh tranh của ngân hàng . Người ta thường xác
định giá của sản phẩm dịch vụ dựa vào các yếu tố chi phí đầu vào, chi phí quản lý,
chi phí khác…Giá cả thông thường phải bù đắp đủ chi phí, tuy nhiên trong quá trình
thực hiện cá biệt có những sản phẩm giá có thể thấp hơn chi phí nhằm thu hút khách
hàng sử dụng các dịch vụ khác đem lại lợi ích tổng thể cho ngân hàng. Mức phí
11
dịch vụ còn được xem xét và cân đối với các đối thủ cạnh tranh nhằm tạo ra lợi thế
cạnh tranh về giá. Cuối cùng mức phí dịch vụ còn chịu sự chi phối của các chính
sách kinh tế vĩ mô của nhà nước như chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ, tỷ
giá…
Ngoài ra uy tín của ngân hàng cũng ảnh hưởng không nhỏ tới doanh thu vì
khách hàng thường tìm đến những ngân hàng có uy tín để sử dụng các sản phẩm
dịch vụ của ngân hàng dù mức phí có cao hơn nhưng đi kèm với đó là chất lượng
sản phẩm tốt, độ tin cậy lớn.
- Doanh số, doanh thu từ hoạt động dịch vụ: Nguồn thu nhập mà các dịch vụ
phi tín dụng đem lại cho ngân hàng đó là từ phí, hoa hồng, chênh lệch giá. Trước
đây thu nhập của ngân hàng chủ yếu từ hoạt động tín dụng, ngày nay các ngân hàng
đã trú trọng hơn đến việc tăng nguồn thu từ cá dịch vụ phi tín dụng (tuy nhiên các
NHTM Việt Nam hiện nay các dịch vụ phi tín dụng vẫn chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ
trong tổng thu, thu nhập từ tín dụng vẫn chiếm khoảng trên 70% tổng thu nhập). Vì
vậy doanh thu từ dịch vụ phi tín dụng là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh chất
lượng và sự phát triển các dịch vụ phi tín dụng vì có dịch vụ tốt khách hàng mới sử
dụng nhiều qua đó mới làm tăng nguồn thu cho ngân hàng. Không những thế doanh
thu từ các dịch vụ phi tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp mà kết quả của nó phụ thuộc
vào số lượng danh mục các dịch vụ, giá cả, uy tín của ngân hàng và nhất là chất
lượng của dịch vụ ngân hàng.
- Quy mô và tỷ trọng thu từ dịch vụ phi tín dụng trong tổng doanh thu của
ngân hàng: cũng như chỉ tiêu trên, chỉ tiêu này phản ánh rõ nhất chất lượng các dịch
vụ phi tín dụng. Nâng cao chất lượng dịch vụ → chất lượng dịch vụ tốt → doanh
thu cao → quy mô, tỷ trọng thu dịch vụ phi tín dụng trong tổng thu cao. Đây là kết
quả tổng hợp của sự phát triển dịch vụ xong chất lượng dịch vụ là nổi trội hơn cả.
Bởi vì nếu chất lượng không tốt sẽ không được khách hàng chấp nhận từ đó dẫn
tới không thể tăng doanh thu cũng như tăng tỷ trọng trong tổng thu.
Hiện nay tỷ trọng thu từ các dịch vụ phi tín dụng của các NHTM Việt
Nam còn thấp khoảng 25% trong khi ở các nước phát triển tỷ lệ này là 50% và ở
khu vực Đông Nam Á là 30%. Từ đó cho thấy các NHTM Việt Nam cần tăng cường
chất lượng dịch vụ, phát triển nhiều sản phẩm dịch vụ phi tín dụng để nâng cao
13
doanh thu từ hoạt động này.
- Chi phí giao dịch khách hàng phải trả: Đó chính là phí dịch vụ, nâng cao
chất lượng dịch vụ chính là tăng tính cạnh tranh về giá cho sản phẩm dịch vụ. Một
khả năng sinh lời trong hoạt động kinh doanh.
1.3.3.3. Sự gia tăng số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ phi tín dụng ngân hàng
Đây cũng là một tiêu chí thể hiện sự phát triển của dịch vụ phi tín dụng ngân
hàng. Số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ phi tín dụng càng nhiều chứng tỏ dịch
vụ đó đã đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, thích ứng được với thị trường và có
khả năng phát triển.
1.3.3.4. Sự tăng trưởng về doanh số hoạt động dịch vụ
Sự tăng trưởng doanh số hoạt động từng dịch vụ qua các thời kỳ thể hiện dịch vụ
đó phát triển đến mức nào và được ngân hàng quan tâm đẩy mạnh phát triển nó ra sao
1.3.3.5. Sự tăng trưởng của thu nhập từ dịch vụ này mang lại
Đây là con số thể hiện hiệu quả của việc phát triển dịch vụ phi tín dụng và được
các ngân hàng sử dụng để đánh giá sự phát triển của dịch vụ phi tín dụng qua các thời
kỳ. Trên thực tế không phải mọi dịch vụ phi tín dụng đều nhằm mục đích thu phí. Có
những hoạt động được xác định là dịch vụ phi tín dụng với mức phí bằng không nhưng
nó nhằm hướng tới hỗ trợ các dịch vụ khác của ngân hàng và cùng thực hiện mục tiêu
tăng thu nhập của ngân hàng.
1.3.4. Các dịch vụ phi tín dụng chủ yếu của NHTM
1.3.4.1. Dịch vụ thanh toán
Dịch vụ thanh toán là một trong những dịch vụ quan trọng nhất của ngân
hàng bên cạnh các nghiệp vụ nhận tiền gửi và cho vay. Với chức năng trung gian
thanh toán, các ngân hàng là cầu nối giữa các chủ thể kinh tế. Thanh toán qua ngân
hàng mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là các chủ thể thực hiện hoạt
động mua bán thay vì phải cầm tiền mặt, gặp nhau, thanh toán trực tiếp thì họ chỉ
cần viết lệnh chi trả giử lên ngân hàng, ngân hàng sẽ thực hiện chuyển tiền cho
người thụ hưởng. Nếu như thanh toán bằng tiền mặt gặp phải nhiều nhược điểm như
bị hạn chế về mặt không gian và thời gian (nếu các chủ thể ở cách xa nhau), có khả
năng gặp rủi ro lớn (như mất mát, tiền thừa, thiếu…). Dịch vụ thanh toán qua ngân
hàng đã khắc phục tất cả những hạn chế đó và đem lại nhiều tiện ích cho người sử
dụng như nhanh chóng, an toàn, chính xác, tiết kiệm chi phí…từ đó góp phần rút
để trả tiền mua hàng hoá, dịch vụ. Việc thanh toán có thể diễn ra trong cùng hệ
thống hoặc khác hệ thống.
- Thanh toán bằng uỷ nhiệm thu: Uỷ nhiệm thu là lệnh đòi tiền do người bán
hàng hay người cung cấp dịch vụ uỷ nhiệm cho ngân hàng đòi tiền người mua hoặc
người nhận sử dụng dịch vụ trên cơ sở hàng hoá dịch vụ đã cung ứng. Uỷ nhiệm thu
có thể dùng để thanh toán giữa các khách hàng có tài khoản mở ở cùng ngân hàng
16
hoặc khác ngân hàng, có thể cùng hệ thống hoặc khác hệ thống.
Để thực hiện thanh toán bằng uỷ nhiệm thu các bên mua bán phải thống nhất
các thoả thuận và ghi trong hợp đồng kinh tế. Đồng thời phải thông báo bằng văn bản
với ngân hàng phục vụ người thụ hưởng để làm căn cứ thực hiện các uỷ nhiệm thu.
- Thanh toán bằng thẻ: Đây là một hình thức thanh toán hiện đại mà chủ thẻ
có thể sử dụng thẻ để rút tiền, chuyển khoản, thực hiện các giao dịch khác tại các
máy rút tiền tự động (ATM) hoặc thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ tại các đơn vị
chấp nhận thẻ (ĐVCNT). Thẻ thanh toán được ra đời từ đầu thế kỷ 20 và là một
phương tiện chi trả hiện đại, ứng dụng nhiều tiện ích của công nghệ thông tin hiện
đại. Thanh toán bằng thẻ đã thay thế một phần thanh toán bằng séc để thực hiện các
khoản thanh toán món nhỏ.
* Các hình thức thanh toán giữa các ngân hàng:
- Chuyển tiền liên chi nhánh: là hình thức thanh toán được thực hiện giữa các
chi nhánh thuộc cùng một hệ thống ngân hàng. Mỗi chi nhánh sẽ mở một tài khoản
điều chuyển vốn nội bộ, các khoản chuyển tiền đi và đến sẽ được hạch toán trên tài
khoản này.
- Chuyển tiền bù trừ là chuyển tiền giữa các ngân hàng khác hệ thống nhưng
cùng một địa bàn tỉnh hoặc thành phố. Mỗi ngân hàng tham gia thanh toán bù trừ
(TTBT) sẽ phải có một tài khoản tiền gửi tại ngân hàng nhà nước (NHNN) đóng tại
địa bàn đó. Các khoản chuyển tiền đi và đến của các ngân hàng sẽ được NHNN bù
ngoài, hoặc giao dịch thanh toán có liên quan đến tài khoản mở tại nước ngoài.
+ Giao dịch thanh toán có các doanh nghiệp thuộc khu chế xuất tham gia
Tài trợ thương mại gồm có các hình thức sau:
- Thư tín dụng (L/C- Letter of credit): là một thoả thuận dù được đặt tên hay
mô tả như thế nào, theo đó một ngân hàng (ngân hàng phát hành) thực hiện theo yêu
cầu và chỉ dẫn của khách hàng (người xin mở thư tín dụng) hoặc xuất phát từ chính
bản thân họ:
+ Thanh toán cho hoặc thanh toán theo lệnh của một bên thứ ba (người hưởng
lợi) hoặc sẽ chấp nhận và thanh toán hối phiếu đòi tiền do người thụ hưởng ký phát hoặc
+ Uỷ quyền cho một ngân hàng khác thực hiện việc thanh toán đó, hoặc chấp
nhận và thanh toán hối phiếu đòi tiền nói trên hoặc
+ Uỷ quyền cho một ngân hàng khác thực hiện việc chiết khấu dựa trên bộ
18
chứng từ được xuất trình.
Thanh toán bằng L/C là hình thức phổ biến hiện nay trong thanh toán
quốc tế. Đây thực chất là sự thoả thuận giữa ngân hàng với ngân hàng phục vụ
người mua hoặc ngân hàng phục vụ người bán đảm bảo với người xuất khẩu sẽ
được thanh toán tiền hàng khi người hưởng lợi L/C thực hiện việc giao hàng và xuất
trình với ngân hàng bộ chứng từ hạch toán phù hợp với các điều kiện, điều khoản
của L/C quy định. Thanh toán bằng L/C thường được sử dụng khi hai bên mua bán
chưa thật tin tưởng lẫn nhau. Thư tín dụng gồm có:
+ Thư tín dụng xuất khẩu: Thông báo kiểm tra chứng từ, mở L/C, thanh toán L/C.
+ Thư tín dụng nhập khẩu: Kiểm tra chứng từ, mở L/C, thanh toán L/C.
- Nhờ thu là nghiệp vụ theo đó ngân hàng xử lý bộ chứng từ nhờ thu nhận
được theo chỉ dẫn của người gửi chứng từ để:
+ Nhận được thanh toán hoặc chấp nhận, hoặc (Nhờ thu D/A)
+ Giao chứng từ trên cơ sở nhận được thanh toán và/hoặc chấp nhận hoặc
khách hàng trên cơ sở hạn mức chiết khấu của khách hàng đã được ngân hàng phê
duyệt, tình trạng bộ chứng từ và khả năng hoàn trả của ngân hàng phát hành. Khách
hàng phải hoàn trả tiền gốc và lãi chiết khấu cho ngân hàng khi nhận được tiền từ
bộ chứng từ hoặc sau một thời gian nhất định do ngân hàng quy định nên việc đòi
tiền nói trên không thực hiện được.
- Thông báo bảo lãnh (BG Advising): là nghiệp vụ theo đó ngân hàng kiểm tra
tính chân thực và thông báo, trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua một ngân hàng thông
báo khác, tới người thụ hưởng bảo lãnh do một ngân hàng phát hành theo đề nghị của
ngân hàng phát hành đó hoặc theo đề nghị của một ngân hàng thông báo khác.
1.3.4.4. Dịch vụ bảo lãnh
Do uy tín và khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng là rất
lớn và do ngân hàng nắm giữ một khối lượng tiền gửi tương đối lớn của cá nhân, tổ
chức xã hội vì vậy ngân hàng có thể bảo lãnh cho khách hàng của mình. Bảo lãnh là
sự đảm bảo gián tiếp có 3 bên tham gia. Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn
bản của NHTM (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) việc thực hiện
nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không
thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.
Khi đó khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng cả gốc và lãi số tiền đã
20