ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHẠM THỊ HẠNH
ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI PHỤC VỤ
QUY HOẠCH SẢN XUẤT NÔNG - LÂM NGHIỆP
VÙNG ĐỒNG BẰNG VEN BIỂN TỈNH THỪA
THIÊN HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ
Huế, Năm 2017
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHẠM THỊ HẠNH
ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI PHỤC VỤ
QUY HOẠCH SẢN XUẤT NÔNG - LÂM NGHIỆP
VÙNG ĐỒNG BẰNG VEN BIỂN TỈNH
THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ
Chuyên ngành: ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN
Mã số: 60440217
định hướng và giúp đỡ tôi hoàn thành luận
văn này.
Các cán bộ và nhân viên của Sở Tài
nguyên và môi trường, Sở Nông nghiệp
và phát triển nông thôn, Cục Thống kê UBND tỉnh Thừa Thiên Huế, Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh Thừa Thiên
Huế đã giúp đỡ tận tình trong quá trình
thu thập số liệu và thông tin.
Tôi xin chân thành cảm ơn
5
Huế, tháng 10 năm 2017
Học viên thực hiện
Phạm Thị Hạnh
iii
6
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa....................................................................................................i
7
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 2.1. Bản đồ hành chính vùng đồng bằng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế
Chữ viết đầy đủ
ĐVĐĐ
:
Đơn vị đất đai
FAO
:
Tổ chức Nông - Lương thế giới
LHSDĐĐ
:
Loại hình sử dụng đất đai
KT-XH
:
Kinh tế xã hội
NLKH
:
Khoa học - kĩ thuật
HTX
:
Hợp tác xã
10
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
11
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thừa Thiên Huế là tỉnh thuộc vùng duyên hải Bắc Trung Bộ nước ta
được hình thành trong một thời gian địa chất lâu dài. Thừa Thiên Huế có dải
đồng bằng hẹp ngang kéo dài theo chiều dài lãnh thổ của tỉnh. Các nhân tố
hình thành đất phân hóa theo không gian đã để lại cho Thừa Thiên Huế một
hệ đất rất phức tạp. Sự đa dạng về các loại đất là điều kiện quyết định nhất
đến sự hình thành cơ cấu nông nghiệp đa dạng. Tuy nhiên, sản xuất nông
nghiệp của tỉnh hiện nay vẫn còn mang tính chất manh mún, nhỏ lẻ, hiệu quả
kinh tế thấp. Vì vậy, “Đánh giá tài nguyên đất đai phục vụ quy hoạch sản
xuất nông – lâm nghiệp vùng đồng bằng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế”
mang tính khoa học và thực tiễn.
trồng cây công nghiệp ngắn ngày...
4. Các phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận
Đề tài đã sử dụng các quan điểm sau vào quá trình nghiên cứu:
4.1.1. Quan điểm lãnh thổ
Đồng nhất tương đối là thuộc tính cơ bản phổ biến của mọi sự vật.
Hệ thống tự nhiên nói chung, đất và đất đai nói riêng do sự phân hóa tất
yếu của các cấu trúc thành phần, các nhân tố hình thành đất, đất đai sẽ
tạo nên những đơn vị đất đai với những giá trị đặc thù đối với hoạt động
KT – XH. Vì vậy, khi nghiên cứu tài nguyên đất đai sử dụng cho mọi
hoạt động kinh tế phải đứng trên quan điểm lãnh thổ để tìm ra được sự
sai biệt theo lãnh thổ của tài nguyên và những giá trị đặc thù của nó đối
với hoạt động KT - XH.
Vận dụng quan điểm này trong quá trình nghiên cứu đề tài đã xác định
các yếu tố, phân cấp từ đó xác định được các loại đất đai khác nhau phân hóa
trên địa bàn nghiên cứu, đồng thời đánh giá giá trị của từng loại đất cho các
14
loại hình NLN lựa chọn.
15
4.1.2. Quan điểm tổng hợp
Các cấu trúc thành phần có tính bình đẳng trong việc cấu thành hệ thống.
Tài nguyên đất và đất đai tương ứng cũng được hình thành bởi sự tác động
của tổng thể tất cả các nhân tố.
Mặt khác, các nhân tố tham gia vào hệ thống tự nhiên, vào sự hình thành
đất, đất đai có vai trò mang tính bình đẳng. Vì vậy, khi nghiên cứu tài nguyên
điều kiện tự nhiên như du lịch (thông qua làm tăng giá trị tài nguyên du lịch
sinh thái…), dịch vụ, chế biến nông phẩm.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
4.2.1. Phương pháp thu thập, xử lý tư liệu, số liệu
Thu thập, xử lí tư liệu, số liệu là cở sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu
đồng thời là cơ sở dữ liệu quan trọng cho kết luận khoa học.
Phương pháp này đã được thực thi trong quá trình nghiên cứu như sau:
- Dựa vào các nguồn tài liệu, số liệu thu thập được xử lí để xây dựng
cơ sở lí luận và thực tiễn cho việc đánh giá đất đai vận dụng vào lãnh thổ
nghiên cứu.
- Thu thập các dữ liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, điều kiện KT –XH,
tình hình sử dụng đất, định hướng sử dụng đất...từ các cơ quan chuyên môn
với phương pháp kế thừa có tính chọn lọc.
4.2.2. Phương pháp thực địa
Phương pháp thực địa là một trong những phương pháp nghiên cứu đặc
thù của khoa học Địa lý. Phương pháp nghiên cứu thực địa là phương pháp
nghiên cứu thực tế (trắc địa…) các đối tượng địa lý, qua đó thu thập các tư
liệu cần thiết về đối tượng làm cơ sở cho kết luận khoa học theo mục tiêu
nghiên cứu đặt ra.
Dựa vào lý luận phương pháp trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụ nghiên
cứu đặt ra, phương pháp nghiên cứu thực địa được vận dụng vào nghiên
17
cứu đề tài như sau:
- Khảo sát các loại hình sản xuất NLN tại địa bàn nghiên cứu.
- Tiến hành chụp ảnh minh họa cho các kết luận khoa học, các loại hình
sản xuất NLN hiệu quả và kém hiệu quả.
- Tiến hành thu thập số liệu về đối tượng sản xuất, đầu tư, hiệu quả sản
xuất...qua các hộ gia đình.
thể là: Nông dân, cán bộ quy hoạch sản xuất trong từng lĩnh vực NLN.
4.2.5. Phương pháp chuyên gia
Vấn đề nghiên cứu của đề tài liên quan đến nhiều lĩnh vực thuộc khoa
học và quản lý. Vì vậy để làm tăng giá trị, độ tin cậy của kết luận khoa học,
đồng thời thuận lợi cho quá trình thực hiện đề tài đã dựa vào đội ngũ các
chuyên gia chuyên sâu. Cụ thể là các nhà khoa học, các chuyên gia, các cán
bộ hoạch định chính sách, các kỹ sư chuyên sâu trong lĩnh vực NLN. Thông
qua đội ngũ các chuyên gia lựa chọn, đề tài đã lấy ý kiến và quy trình nghiên
cứu, kỹ thuật sản xuất các loại hình và nhu cầu sinh thái từng đối tượng sản
xuất NLN đặc trưng tại địa bàn nghiên cứu.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
5.1. Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm luận chứng cho việc định
hướng quy hoạch lãnh thổ phục vụ phát triển sản xuất NLN nói riêng, quy
hoạch phát triển KT – XH và môi trường nói chung tại địa bàn nghiên cứu.
- Góp phần xác lập cơ sở lý luận phân vùng ĐLTN cho quy hoạch sử
dụng hợp lý lãnh thổ trong các lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là lĩnh vực sản
xuất NLN.
5.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
19
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là nguồn tư liệu cần thiết giúp các nhà
hoạch định phát triển KT – XH làm tư liệu khi xây dựng chiến lược phát triển
nông – lâm nghiệp của tỉnh, tìm ra hướng phát triển hiệu quả cho các loại hình
sản xuất NLN tại địa phương
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho
các công trình nghiên cứu khoa học cùng hướng ở các lãnh thổ có điều kiện tự
nhiên tương đồng.
6. Cấu trúc đề tài
Như vậy, đất đai không chỉ có lớp phủ thổ nhưỡng mà còn bao gồm cả
những yếu tố của môi trường liên quan như địa chất, địa mạo, khí hậu, thuỷ
văn, lớp phủ thực vật, động vật[20]. Đất đai là một tổng thể tự nhiên bao gồm
đặc tính của các thành phần cấu tạo: địa hình, khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng,
sinh vật.
Đặc điểm của đất đai là có sự phân hoá không gian theo lãnh thổ. Các
lãnh thổ có thể khác nhau về độ cao, độ dốc, độ dày tầng đất... Dựa vào sự
phân hoá này có thể phân cấp lãnh thổ thành các đơn vị tổng thể tự nhiên có
sự đồng nhất tương đối về các thành phần trên. Tên gọi các đơn vị lãnh thổ
21
này tuỳ thuộc vào quan điểm nghiên cứu, nội dung và mục tiêu nghiên cứu.
Trong nhiều công trình đánh giá cho mục tiêu sử dụng đất đai NLN thường sử
dụng thuật ngữ ĐVĐĐ[20]...
1.1.2. Loại hình sử dụng đất đai
Loại hình sử dụng đất đai (LUT) là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng
đất đai của một vùng với những phương thức quản lí sản xuất trong các điều
kiện KT - XH và kỹ thuật được xác định[9]
Trên thế giới, học thuyết về LHSDĐĐ đã được Duddley Stamp (thế kỷ
XIX) xây dựng và sau này được Kostrowiky và các đồng sự của ông phát
triển. Gần đây Beek và Bennerma đã hoàn chỉnh và được Brinkman và
Smyth sử dụng trong đề cương đánh giá đất đai[3]. Loại hình sử dụng có thể
hiểu theo nghĩa rộng là các LHSDĐĐ chính dùng trong đánh giá khái quát.
Ví dụ: nông nghiệp nhờ nước trời, nông nghiệp có tưới, đồng cỏ, rừng...
hoặc có thể mô tả chi tiết hơn là kiểu sử dụng đất đai. Kiểu sử dụng đất là
một LHSDĐĐ được mô tả chi tiết theo các thuộc tính nhất định để đánh giá
các yếu tố cần sử dụng đất của nó và để lập kế hoạch đầu tư cần thiết. Ví dụ:
trồng mía quy mô nhỏ, quảng canh hoặc trồng mía quy mô lớn có thâm
canh, trồng cà phê gia đình bán thâm canh... Đôi khi, người ta không phân
thể. Trong đó, chủ thể là yêu cầu KT - XH như các công trình kỹ thuật, các
ngành kinh tế, bản thân con người và xã hội; khách thể là tài nguyên đất đai.
Khi đánh giá tốt hay xấu, thích hợp hay không thích hợp là kết quả sự so
sánh giá trị tự nhiên của đất đai đối với một yêu cầu cụ thể của con người.
Một điều kiện của tự nhiên không thích hợp với hoạt động này
nhưng lại có thể thích hợp với các hoạt động khác[20]. Thông thường
một thành phần của tự nhiên là đa trị, còn đối với một hoạt động KT – XH là
đơn trị. Vì vậy, một thành phần của tự nhiên có giá trị đối với hoạt động KT
- XH này nhưng là hạn chế đối với hoạt động KT – XH khác (và ngược lại).
Đối với đánh giá tài nguyên đất đai và quy hoạch sử dụng tài nguyên đất đai
thì đánh giá chính là xác định mức độ thích hợp của các điều kiện tự nhiên
23
và KT - XH cho các LUT đồng thời kết quả của nó là tiền đề cho các định
hướng, đề xuất quy hoạch sản xuất NLN theo hướng sử dụng đất đai hợp lí
có hiệu quả.
1.1.4. Đơn vị đất đai (Land Units)
Theo FAO[23], thuật ngữ đơn vị đất đai dùng để chỉ một diện tích đất đai
với những điều kiện môi trường đặc trưng riêng, được phân biệt nhờ các
thuộc tính như đặc điểm đất đai và chất lượng đất đai. ĐVĐĐ được xem là
đơn vị tự nhiên cơ sở để đánh giá đất đai, ĐVĐĐ không phụ thuộc vào tỷ lệ
bản đồ và kiểu loại bản đồ.
Theo Hội Khoa học đất Việt Nam[3], ĐVĐĐ được hiểu là những vùng
đất trên thực tế, tương ứng với các khoảnh đất trên bản đồ có sự đồng nhất
tương đối về các chỉ tiêu, đó là các tính chất, đặc điểm đất đai cơ bản thuộc về
tự nhiên (đất, nước, khí hậu...) và cả KT - XH. Một vùng đất có cùng khả
năng sử dụng, với cùng một mức độ thích hợp cho một LUT nào đó được xác
định là một ĐVĐĐ. ĐVĐĐ là đơn vị cơ sở để tiến hành đánh giá, phân hạng,
chăm sóc, quản lí;
Ví dụ: Hàm lượng dinh dưỡng đất, khả năng điều tiết nước.
Chỉ tiêu phân loại khả năng đất đai chủ yếu dựa vào các hạn chế lâu dài
như độc dốc, độ dày tầng đất, độ ngập lụt... Chỉ tiêu này cũng khác nhau tuỳ
quốc gia; Ví dụ, ở các nước Liên Xô cũ, giới hạn độ dốc để canh tác cây hàng
năm là < 50; các nước vùng Caribê là < 100; Indonesia là < 220...
1.1.5.2. Phân loại khả năng sử dụng đất đai
Phân loại khả năng sử dụng đất đai là phân loại, xây dựng các chỉ tiêu cơ
bản về đất đai cho loại hình sử dụng, làm cơ sở cho việc quy hoạch và sử dụng
đất đai trong sản xuất NLN, bảo vệ đất, chống thoái hoá và xói mòn đất.
Theo Nguyễn Ngọc Nhị[19], các đặc điểm chính của đất đai được chú
trọng phân tích khi phân loại khả năng sử dụng gồm có:
- Độ dốc địa hình ảnh hưởng lớn đến sử dụng đất đai và quyết định các
25