DẠY học đọc HIỂU văn bản THƠ TRỮ TÌNH TRONG TRƯỜNG TRUNG học PHỔ THÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG lực học SINH - Pdf 51

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐẶNG THỊ NGUYỆT

DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THƠ TRỮ
TÌNH TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC HỌC SINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Thừa Thiên Huế, năm 2017
1


ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐẶNG THỊ NGUYỆT

DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THƠ TRỮ
TÌNH
TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG
LỰC HỌC SINH

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Văn - tiếng Việt
Mã số: 60 14 01 11

dạy lớp Cao học Lý luận và phương pháp dạy học Văn - Tiếng Việt
khóa 24 cùng tất cả các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, Phòng đào
tạo sau đại học của trường Đại học sư phạm Huế đã tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập.
Xin cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô trong tổ Ngữ văn của
trường THPT Thạnh Đông đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt
khóa học. Xin cảm ơn các bạn đồng nghiệp và các em học sinh đã
giúp đỡ tôi rất nhiệt tình trong phần thực nghiệm sư phạm.
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến các chị, em lớp Cao học lý
luận và phương pháp dạy học Văn - Tiếng Việt khóa 24 đã hết lòng
giúp đỡ: cảm ơn người thân, bạn bè đã động viên tôi suốt qúa trình
học tập và thực hiện luận văn.
TT Huế, tháng 8 năm 2017
Tác giả

Đặng Thị Nguyệt

iii

4


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa..............................................................................................................i
Lời cam đoan............................................................................................................. ii
Lời cảm ơn...............................................................................................................iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT

Trang

6


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Giáo dục phổ thông nước ta hiện nay đang thực hiện bước chuyển từ
chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học,
nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng
được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện thành
công việc chuyển từ PPDH theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách
vận dụng kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành năng lực và phẩm chất; đồng
thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang
kiểm tra đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề, coi trọng cả kiểm
tra, đánh giá kết quả học tập với kiểm tra trong quá trình học tập để có thể tác động
kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động dạy học và giáo dục.
1.2. Đổi mới PPDH đọc hiểu văn bản theo hướng phát huy tính tích cực,
chủ động, phát triển tiềm năng, khả năng sáng tạo, tự học của chủ thể HS như một
khâu đột phá. Dạy đọc hiểu văn bản theo tinh thần đổi mới, như trên đã nói, là
nhấn mạnh yêu cầu giáo dục đào tạo trí năng, phát triển năng lực, kĩ năng văn cho
HS chứ không chỉ coi trọng giáo dục tri thức. Giờ dạy học đọc hiểu văn bản tuyệt
nhiên không phải là giờ truyền thụ cho HS kết quả cảm thụ, phân tích của GV
hoặc của một ai khác. Tuy nhiên, hiện nay ở trường THPT vẫn còn khá phổ biến
tình hình dạy học TP theo lối truyền thụ kiến thức một chiều mà coi nhẹ hình
thành, phát triển kĩ năng, năng lực đọc hiểu cho HS. Vì vậy, việc tìm tòi đổi mới
PPDH đọc hiểu văn bản theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, phát triển
tiềm năng, khả năng sáng tạo, tự học của chủ thể HS là một đòi hỏi cấp bách, như
một khâu đột phá nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học văn,
hiện đang giảm sút một cách đáng lo ngại.

hiểu văn bản thơ trữ tình trong trường Trung học phổ thông theo định hướng phát
triển năng lực HS” nhằm hướng tới việc phát triển phẩm chất, năng lực, để HS tự trở
thành chủ thể tiếp nhận, chiếm lĩnh văn bản qua đó hình thành, phát triển năng lực, kĩ
năng đọc hiểu các văn bản cùng loại cũng như các văn bản khác.
2. Lịch sử vấn đề
Cùng với việc xậy dựng mục tiêu, nội dung chương trình và SGK, vấn đề đổi
mới PPDH cũng có tầm quan trọng không kém trong tiến trình nâng cao chất lượng
giáo dục Việt Nam, nhất là trong dạy học môn Ngữ văn. Dạy học đọc hiểu là một trong

8


những nội dung cơ bản của đổi mới PPDH Ngữ văn trong việc tiếp nhận văn bản. Và
việc định hướng phát triển năng lực HS trong giờ dạy đọc hiểu văn bản nói chung và
đọc hiểu văn bản thơ trữ tình nói riêng là vô cùng cần thiết, nhiều vấn đề liên quan
được đưa ra bàn luận, tìm hiểu, và đã có nhiều ý kiến, chuyên luận, các công trình
nghiên cứu của các nhà khoa học giáo dục, các nhà sư phạm về vấn đề này.
Bàn về đọc hiểu, năm 1995, hai tác giả Taffy E. Raphaer và Efrieda H.
Hiebert trong cuốn Phương pháp dạy đọc hiểu văn bản đã đưa ra quan điểm: “Cần
phải bắt đầu từ việc đọc từ, hiểu văn bản, xem xét các ý nghĩa khác nhau của văn
bản và cuối cùng là đánh giá văn bản theo quan điểm cá nhân”.
Năm 2006, trong cuốn Tăng tốc đọc hiểu để thành công. Tác giả Tony Buzan
phân loại có 7 bước đọc hiệu quả, trong đó đọc hiểu được xem là một thao tác của
đọc hiệu quả: “Đọc hiểu là quá trình kết hợp toàn bộ các phần thông tin đang đọc
với tất cả các phần tương thích khác mà chưa bao hàm việc phân tích, phê bình,
đánh giá”.
Theo quan niệm của PISA, đọc hiểu là một năng lực, theo đó phải hình thành
được cho người đọc “Việc hiểu nghĩa, nghĩa rộng, hẹp, nghĩa tường minh và hàm ý
từ bài đọc”.
Ở Việt Nam, theo tác giả Nguyễn Thái Hòa trong bài viết Vấn đề đọc hiểu và

hình thức, biện pháp nghệ thuật ngôn từ, các thông điệp tư tưởng, tình cảm, thái độ
của ngôn ngữ viết và cả những giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật. Đọc văn
theo tinh thần đó là toàn bộ quá trình tiếp nhận, giải mã văn bản” [37, tr.26-28].
Như vậy, đọc hiểu là hoạt động đọc và giải mã các tầng ý nghĩa của văn bản thông
qua khả năng tiếp nhận của HS. Đọc hiểu là tiếp xúc với văn bản, hiểu được nghĩa
hiển ngôn, nghĩa hàm ẩn, các biện pháp nghệ thuật, thông hiểu các thông điệp tư
tưởng, tình cảm của người viết và giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật.
Theo Trần Đình Sử, “Bản thân việc đọc đã có nhiều mức độ từ đọc thông,
đọc thuộc, không vấp váp về ngữ âm, nghĩa từ, biết ngừng giọng đúng chỗ là một
trình độ. Bước hai là đọc kĩ, đọc sâu để biết được cách hành văn, sắp xếp ý, dụng ý
trong dùng từ, ngắt câu, chơi chữ lại là một trình độ khác. Bước thứ ba là đọc hiểu
cái thông điệp mà văn bản gửi đến cho người đọc là một mức rất cao. Nhưng đọc
văn là để cảm, đế sống, để thưởng thức, để dùng, để tự phát triển bản thân, cho nên
đọc sáng tạo và đọc sử dụng là khâu cao nhất. Người đọc phải tìm được cái nghĩa
mà người đọc trước chưa thấy, thậm chí hiểu cái nghĩa ngoài tầm kiểm soát của tác
giả. Đó đã là đọc sáng tạo. Trong các khâu đọc đó, đọc hiểu là khâu cơ bản nhất, nó
bắt đầu từ hiểu từ, hiểu câu, hiểu đoạn, hiểu liên kết, hiểu nghĩa toàn bài. Có hiểu
đúng thì mới nói chuyện hiểu sáng tạo”.

10


Trần Đình Sử đã chia quá trình này thành các công đoạn đọc thông, đọc
thuộc, đọc kĩ, đọc sâu, đọc hiểu, đọc sáng tạo và đọc sử dụng “trong các khâu đó,
đọc hiểu là khâu cơ bản nhất” [32]. Đến bài viết Đọc hiểu văn bản là thế nào? [33]
tác giả đã đi vào chi tiết từng thao tác đọc và hiểu, đưa ra các luận điểm về đọc hiểu
và đề nghị: dạy đọc hiểu văn bản là dạy HS năng lực biết xuất phát từ chỉnh thể văn
bản của tác giả mà kiến tạo nên văn bản của mình. Theo tác giả, “Đọc hiểu văn bản
như một khâu đột phá trong việc đổi mới dạy học và thi môn Ngữ văn, là yêu cầu
bức thiết đối với việc đào tạo nguồn nhân lực mới cho đất nước tiến theo các nước

văn bản cùng loại, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn ở trường THPT.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
1) Xác lập, luận giải cơ sở lí luận của đề tài.
2) Khảo sát thực trạng dạy học đọc hiểu văn bản thơ trữ tình theo định hướng
phát triển năng lực HS.
3) Đề xuất những định hướng và tổ chức hoạt động dạy học đọc hiểu văn bản
thơ trữ tình theo hướng phát triển năng lực HS.
4) Thực nghiệm sư phạm.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản thơ trữ
tình trong trường THPT theo định hướng phát triển năng lực HS.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Thơ trữ tình trong chương trình, SGK Ngữ văn THPT.
Thực nghiệm sư phạm ở khối lớp 11 (chương trình chuẩn).
5. Phương pháp nghiên cứu
1) Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp này được sử dụng trong việc thu thập nguồn tư liệu về PPDH
TP văn chương, cụ thể là công trình lí luận, các chuyên luận, giáo trình về dạy học
đọc hiểu văn bản thơ trữ tình, để phân tích, tổng hợp các quan điểm, luận điểm khoa
học làm tiền đề lí luận cho việc định hướng và tổ chức đọc hiểu văn bản thơ trữ tình
theo hướng phát triển năng lực cho HS.
2) Phương pháp điều tra, khảo sát
Phương pháp này được sử dụng để khảo sát TP thơ trữ tình trong SGK Ngữ
văn THPT; quan sát, phỏng vấn, thăm dò ý kiến, kiểm tra bằng các bảng hỏi, qua đó
nắm bắt thực trạng dạy học đọc hiểu văn bản thơ trữ tình trong trường THPT theo
định hướng phát triển năng lực HS nhằm xác lập cơ sở thực tiễn của đề tài; tìm ra

12


Chương 3. Thực nghiệm sư phạm

13


Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lí luận của đề tài
1.1.1. Khái niệm và đặc trưng thi pháp tác phẩm trữ tình
1.1.1.1. Thuật ngữ tác phẩm trữ tình
Trữ tình là phương thức tái hiện đời sống, bên cạnh hai phương thức khác
là tự sự và kịch. Các phương thức này được dùng làm cơ sở để phân loại TPVC:
TP trữ tình, TP trữ tình và TP kịch.
Khác với TP trữ tình phản ánh hiện thực trong toàn bộ tính khách quan của
nó, qua bức tranh đời sống trong không gian, thời gian, qua các sự kiện, biến cố và
hành vi con người được nhà văn kể lại, tả lại, làm cho TP trữ tình trở thành một
câu chuyện về ai đó, hay về một cái gì đó, TP trữ tình tái hiện hiện thực qua những
cảm xúc, tâm trạng, suy tưởng của con người, qua sự cảm nhận chủ quan về nó.
Phạm vi của TP trữ tình rất rộng, nó có thể được viết bằng văn xuôi hoặc
văn vần. Trong đó, thơ trữ tình (văn vần) là thể loại tiêu biểu nhất và biểu hiện tập
trung nhất những đặc điểm chung của TP trữ tình.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, thơ trữ tình là “thuật ngữ chỉ chung các
thể thơ thuộc loại trữ tình trong đó những cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của
nhân vật trữ tình trước các hiện tượng đời sống được thể hiện một cách trực tiếp.
Tính chất cá thể hóa của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hóa của sự thể hiện là
những dấu hiệu tiêu biểu của thơ trữ tình. Là tiếng hát của tâm hồn, thơ trữ tình có
khả năng thể hiện những biểu hiện phức tạp của thế giới nội tâm, từ các cung bậc
của tình cảm cho tới những chính kiến, những tư tưởng triết học.” [9, 269].
Tùy theo truyền thống văn học cụ thể, người ta có thể phân loại thơ trữ tình
theo nhiều cách khác nhau:

trữ tình công dân và ngược lại. Ở đây, sự phân loại cũng chỉ là một cách nhìn chú
ý nét ưu trội của kiểu trữ tình nào đó trong những TP cụ thể, giúp người đọc nhận
ra cảm hứng chủ đạo, và dựa vào đặc điểm loại hình này để cảm thụ và phân tích
TP đúng đắn hơn.
1.1.1.2. Một số đặc điểm thi pháp của tác phẩm trữ tình
a) Tác phẩm trữ tình biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của con người
Văn học nghệ thuật là tiếng nói tình cảm, là sự biểu hiện thế giới chủ quan
của con người trước cuộc đời. Tuy nhiên, do kiểu tái hiện đời sống, phương thức

15


tổ chức và sự giao tiếp nghệ thuật khác nhau nên sự biểu hiện đó ở những loại
TPVC cũng khác nhau. Trong TP trữ tình, tình cảm, cảm xúc, tâm trạng, suy
nghĩ... được trình bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ yếu của TP. Nói cách
khác, bộc lộ cảm xúc một cách trực tiếp mà không cần kèm theo bất cứ một sự
miêu tả biến cố, sự kiện nào, hay một mâu thuẫn, xung đột nào, đó là phương thức
phản ánh và biểu hiện của loại TP trữ tình. Ở TP trữ tình, người đọc cảm nhận
trước hết là thế giới nội tâm, là thái độ xúc cảm và tâm trạng của nhân vật trữ tình
đối với con người, cuộc đời và thiên nhiên. Ðiều này chứng tỏ sự biểu hiện trực
tiếp thế giới chủ quan của tác giả là đặc điểm tiêu biểu, đầu tiên của TP trữ tình.
Chẳng hạn, bài thơ của Á Nam Trần Tuấn Khải (sau này nhiều người cho là
ca dao) thể hiện rõ đặc điểm này:
“Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương
Nhớ ai dãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.”
Bốn câu thơ là tiếng nói tình cảm, là nỗi niềm, sự nhớ nhung của người ra
đi đối với quê hương, đối với người thương lúc xa xôi cách trở... Ngoài những tình
cảm, nỗi niềm đó, người đọc không biết gì cụ thể hơn về chàng trai và cô gái, về

người cảm nhận đời sống mãnh liệt nhất và tế vi nhất. Cho nên, TP trữ tình biểu
hiện trực tiếp thế giới chủ quan của con người nhưng thế giới riêng tư ấy cũng
không thoát ly khỏi mối quan hệ giữa con người và hiện thực khách quan. Nói
cách khác, nhà thơ thông qua việc phản ánh thế giới khách quan để biểu hiện thế
giới chủ quan của mình. Do đó, hiện tượng cuộc sống vẫn được phản ánh trong TP
trữ tình nhưng nội dung thể hiện chủ yếu và trước hết là tiếng nói tâm tình, là lẽ
ưu tư trước cuộc đời. Lê Quý Ðôn cũng xem tình là điều đầu tiên trong ba điều
chính: “Thơ có ba điều chính: một là tình, hai là cảnh, ba là sự”. Như vậy, trong
TP trữ tình các sự vật, hiện tượng trong đời sống khách quan có thể được miêu tả
bằng các chi tiết chân thật, sinh động nhưng chức năng chủ yếu của nó là nhằm
biểu hiện những cảm xúc tâm trạng, suy tư trải nghiệm mà tác giả muốn bày tỏ,
trang trải, sẻ chia với người đọc.
Chẳng hạn, trong bài Ðây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, chúng ta bắt gặp
những nét chấm phá về một bức tranh thiên nhiên với những vẻ đẹp nhẹ nhàng,
tinh tế, huyền ảo... nhưng bao trùm toàn bộ bài thơ là tâm trạng và cảm xúc của
nhà thơ:

17


“Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà.”
Cũng có những bài thơ có ít nhiều sự kiện, biến cố khá liên tục của câu
chuyện được kể lại một cách ngắn gọn, cô đọng. Những sự kiện, biến cố ấy không
được miêu tả một cách chi tiết, tỉ mỉ và cũng không phải là cái làm nên nội dung
trữ tình nhưng có sức khêu gợi những cảm xúc, tình cảm sâu sắc, suy tư mới mẻ.
Chẳng hạn, qua bài Quê hương của Giang Nam, người đọc có thể kể một số nét
chính về mối quan hệ giữa chàng trai và cô gái một cách khá liên tục nhưng nội

Trãi, niềm trăn trở day dứt của Nguyễn Du, tiếng cười tự trào của Tú Xương, nỗi
ưu sầu nhân thế của Huy Cận, nỗi thống khổ nhân gian của Đỗ Phủ… vẫn sẽ còn
làm nhói lòng bao bạn đọc hôm nay và mai sau.
Tóm lại, trong TP trữ tình, nhà thơ trực tiếp bộc lộ những tình cảm yêu
thương, căm giận, những đau khổ và hạnh phúc của mình trước cuộc đời. Nhưng
để làm nên giá trị của TP, nỗi niềm riêng tư của nhà thơ phải trở thành tình cảm
điển hình, thành tiếng lòng đồng vọng đánh động tình người, sự suy tư trăn trở của
một lớp người, một thời đại nhất định… Đến lượt mình, người đọc tìm trong TP
những tâm trạng khái quát, điển hình, phù hợp với cảm xúc riêng của mình để trải
nghiệm sẻ chia, tri âm đồng điệu...
d) Nhân vật trữ tình trong tác phẩm trữ tình
Nội dung TP trữ tình gắn liền với hình tượng nhân vật trữ tình (có người
gọi là chủ thể trữ tình). Ở đây, cần phân biệt rõ hai khái niệm: nhân vật trữ tình và
nhân vật trong TP trữ tình. Khác với nhân vật trong TP trữ tình là con người được
nhà văn miêu tả tỉ mỉ, sinh động, nhân vật trong TP trữ tình là đối tượng để nhà
thơ kí thác tâm tình, cảm xúc, suy tư của mình, là đối tượng trực tiếp khơi gợi
nguồn cảm hứng cho thi sĩ.
Trong TP trữ tình, nhân vật trữ tình không phải là đối tượng để nhà thơ
miêu tả mà chính là người đứng ra bộc lộ những cảm xúc, ý nghĩ, tình cảm, tâm
trạng, suy tư... về cuộc đời và con người. Khi đọc một bài thơ, qua cái nhìn bên
trong, người đọc không chỉ thấy hiện lên những cảnh sắc thiên nhiên, con người
mà còn cảm nhận niềm vui, nỗi buồn, khát vọng, lí tưởng được thể hiện qua hình
tượng của một ai đó đang ngắm nhìn, rung động, suy tư về cuộc đời. Hình tượng
ấy chính là nhân vật trữ tình. Trong TP trữ tình, nhân vật trữ tình thường không

19


được miêu tả một cách trọn vẹn mà chỉ hiện ra dưới dạng “phiến đoạn”, ở cái
nhìn, cách nhận thức và các trạng thái cảm xúc đối với thế giới và con người.



Dĩ nhiên, cái tôi trữ tình không chỉ mang bản chất chủ quan cá nhân (trong
mối liên hệ với tác giả) mà còn mang bản chất xã hội (trong mối quan hệ với cái ta
cộng đồng) và có tính thẩm mĩ (trung tâm sáng tạo và tổ chức văn bản). Chính các
phương diện này của cái tôi trữ tình làm nên sự phong phú vô hạn của nội dung
thơ ca. Và chính sự khác nhau của những cái tôi trữ tình góp phần quyết định tạo
nên những tiếng nói thơ ca khác nhau.
e) Lời văn trong tác phẩm trữ tình
Khác với lời văn trong tác phẩm tự sự chủ yếu là lời kể , lời tả, lời độc
thoại, đối thoại, lời phân tích, bình luận, lời văn trong TP trữ tình chủ yếu là lời
bộc lộ, giãi bày tình cảm, cảm xúc, suy tư của nhân vật trữ tình.
Người ta thường nói đến đặc điểm của ngôn ngữ văn học là có tính chính
xác, hàm súc, tính đa nghĩa, tính hình tượng và biểu cảm. Tuy nhiên, lời thơ cũng
có những đặc điểm riêng do ngôn ngữ thơ được tổ chức khá đặc biệt. Điểm đặc
biệt dễ nhận thấy nhất là ngôn ngữ thơ được phân dòng. Có người cho rằng sự
phân dòng của thơ làm cho nó có nhiều “khoảng trắng” hơn và các “khoảng trắng”
này tạo nên chỗ “lặng” của thơ; nhờ đó mà cảm xúc thơ có khả năng lan tỏa và gợi
mở. Có lẽ cũng vì thế, thơ có thể nói được những điều hết sức lắng đọng, kết tinh
mà nhiều khi văn xuôi không nói được.
Lời văn trong TP trữ tình là lời của chủ thể, thường bộc lộ trực tiếp những tình
cảm, cảm xúc mạnh mẽ, trực tiếp thể hiện sự đánh giá, nhận xét về đối tượng, sự ca
ngợi, khẳng định hoặc phê phán, phủ định. Vì vậy, để làm cho nội dung cảm xúc, thái
độ đánh giá, sự đồng cảm hoặc phê phán của chủ thể trở nên nổi bật, ở TP trữ tình chủ yếu là trong thơ, tác giả phải tìm cho mình những lời văn, lời thơ phù hợp với
yêu cầu gây ấn tượng mạnh, không phải chỉ bằng ý nghĩa của từ mà còn bằng cả âm
thanh, nhịp điệu của từ ngữ, bằng các phương thức tu từ. Cho nên, ngôn ngữ thơ
thường xuất hiện những từ ngữ cảm thán, hô gọi, những câu hỏi tu từ và sử dụng phổ
biến các phương thức tu từ như so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, tượng trưng...
Một đặc điểm hết sức quan trọng của lời văn trong TP trữ tình - nhất là
trong thơ - mà nhiều người khẳng định, đó là nhạc tính. Do đặc điểm ngôn ngữ

vậy, tứ thơ phải là ý thơ được hóa thân trong một hình tượng cụ thể, sáng tạo, phải
hoà quyện vào tình, ý, hình ảnh làm nên sinh thể bài thơ, nghĩa là có giá trị thẩm
mĩ cao.
Một tứ thơ độc đáo, thú vị, thể hiện rõ tài năng sáng tạo của nhà thơ và liên

22


quan trực tiếp đến hiệu quả thẩm mĩ của bài thơ. Nếu không có tứ thơ chỉ đạo, dẫn
dắt, ý thơ sẽ tản mạn. Tứ thơ vận động nhờ khả năng liên tưởng tinh tế, phong
phú, độc đáo, giàu tính sáng tạo của nhà thơ. Liên tưởng thơ cần nhất sự tự nhiên,
phóng khoáng và bất ngờ. Kết thúc các bài thơ hay thường bất ngờ, nâng bài thơ
lên một tầm cao mới về ý nghĩa khái quát cũng như hiệu quả thẩm mĩ.
Theo Hà Minh Đức, tứ thơ cũng nói lên tầm suy nghĩ khái quát của nhà thơ.
Tứ thơ là ý tưởng của bài thơ trong vóc dáng cụ thể của nó. Tứ chỉ đạo trực tiếp
hướng vận động và phát triển của cảm xúc, suy nghĩ và xây dựng hình ảnh. Khi
nắm được tứ của một bài thơ ta sẽ hiểu được hướng phát triển của bài thơ [8, 141142]. Như vậy, cấu tứ là cách/nghệ thuật tổ chức tứ theo dụng ý của nhà thơ để
mạch thơ vận động và phát triển xuyên suốt, tạo nên hiệu quả nghệ thuật cao nhất.
Nói cách khác, cấu tứ là một vấn đề thuộc về suy tưởng và xúc động của tâm hồn
thơ. Nó thể hiện quá trình suy ngẫm của tác giả để định hình, tổ chức cả hai mặt
nội dung và nghệ thuật một bài thơ. Cấu tứ là một phương diện của tư duy hình
tượng vừa biểu hiện tư tưởng, quan niệm nghệ thuật về con người và cuộc sống
của chủ thể sáng tạo, vừa thể hiện tài năng thi ca và tạo nên phong cách nghệ thuật
của tác giả. Hay nói như nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm: “Cấu tứ là hoạt động tư duy để
sáng tạo ra hình tượng nghệ thuật, đó là cây đời xanh tươi duy nhất do nhà thơ “lai
tạo” giữa hình ảnh sống động và ý nghĩa thơ.” [43]. Có thể nói, cấu tứ là linh hồn
của một bài thơ; nó cung cấp cho độc giả một thế đứng, thế nhìn, cách cảm nhận
để thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của TP.
Như vậy, trong sáng tạo thi ca, cấu tứ có một vai trò hết sức quan trọng,
như là một thách thức sáng tạo mà thi sĩ cần phải vượt qua, nếu không bài thơ khó

hình nghệ thuật sáng tạo cao nhất, gồm: khác thường, đột biến, bất ngờ và ẩn dụ.
Theo tác giả, “Ba yếu tố Khác thường - Đột biến - Bất ngờ có thể uyển chuyển đổi
thay, nhưng yếu tố thứ tư ẩn dụ nói thế này để hiểu ra thế khác thì thường là quán
xuyến tất thẩy. (1+4; 2+4; 3+4; n+4…)”. Nhà thơ cũng nói về bốn hình thức cấu
tứ: chủ đề, cảm giác, định đề và phản đề. Thể hiện nhất quán một chủ đề rất chặt
chẽ, đó là cấu tứ chủ đề. Cấu tứ cảm giác đòi hỏi mỗi câu, hay cặp câu phải là một
chi tiết độc đáo, hay ý tưởng sâu sắc mới lạ, có khả năng đứng riêng biệt đủ để
người ta dừng lại nghĩ suy, chiêm nghiệm. Từ một ý tưởng có sẵn gần với triết học
hoặc chính là triết học, nhà thơ tìm chi tiết thích hợp diễn đạt sao cho sinh động,
hấp dẫn và thơ, đó là con đường của cấu tứ định đề. Phủ định điều này để khẳng
định điều kia; hoặc tưởng như phủ định, nhưng thực ra là để khẳng định mạnh mẽ

24


hơn, đó là thế mạnh của cấu tứ phản đề [43].
Như vậy, cấu tứ là một nghệ thuật (gọi là nghệ thuật cấu tứ) thể hiện rõ
dụng ý của nhà thơ. Nó là phương tiện để khái quát hiện thực và biểu đạt tư tưởng,
cảm xúc, tạo nên giá trị thẩm mĩ và sức hấp dẫn của hình tượng. Nghệ thuật cấu tứ
phản ánh quá trình tư duy, tài năng, sáng tạo của người nghệ sĩ và là một trong
những yếu tố tạo nên phong cách nhà thơ.
Tóm lại, thi pháp TP trữ tình với sự phân tích cấu trúc TP như một hệ thống
các yếu tố, các liên hệ trong chỉnh thể nghệ thuật giúp chúng ta nắm bắt những đặc
điểm và sự tổ chức các yếu tố trong cấu trúc văn bản, từ đó có công cụ để tiếp cận,
thâm nhập vào TP cũng như nâng cao năng lực cảm thụ, phân tích. Vì vậy, nắm
bắt đặc trưng thi pháp TP trữ tình là cơ sở khoa học cho việc tổ chức dạy học đọc
hiểu thơ trữ tình theo định hướng phát triển năng lực cho HS.
1.1.2. Một số vấn đề về đọc hiểu văn bản và năng lực đọc hiểu văn bản thơ trữ tình
1.1.2.1. Quan niệm về đọc hiểu
Nghiên cứu sự đọc đã có lịch sử hơn một trăm năm qua. Tuy nhiên, giáo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status