Nghiên cứu thành phần loài và đặc trưng phân bố của lưỡng cư bò sát tại xã sỹ bình, huyện bạch thông, tỉnh bắc kạn - Pdf 51

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

MA NGỌC LINH

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC TRƯNG
PHÂN BỐ CỦA LƯỠNG CƯ - BÒ SÁT TẠI XÃ SỸ BÌNH,
HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN

Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60.42.01.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Hoàng Văn Ngọc

THÁI NGUYÊN - 2015

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của riêng cá nhân tôi. Các số
liệu, kết quả sử dụng trong luận văn là trung thực, do tôi thu thập và xử lí.
Đồng thời, luận văn này chưa từng được bảo vệ trước bất cứ một hội đồng nào
trước đây.
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2015
Tác giả luận văn


Thái Nguyên, tháng 8 năm 2015
Tác giả luận văn

Ma Ngọc Linh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
NGOCii




MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan...................................................................................................... i
Lời cảm ơn ........................................................................................................ ii
Mục lục............................................................................................................. iii
Danh mục các kí hiệu viết tắt ........................................................................... iv
Danh mục các bảng ........................................................................................... v
Danh mục các hình ........................................................................................... vi
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.................................... 4
1.1. Lịch sử nghiên cứu LC, BS ở vùng Đông Bắc ...................................... 4
1.2. Lịch sử nghiên cứu lưỡng cư, bò sát ở vùng nghiên cứu..................... 10
Chương 2. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG
NGHIÊN CỨU............................................................................................... 12
2.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................ 12
2.1.1. Vị trí địa lí ......................................................................................... 12
2.1.2. Địa hình ............................................................................................. 12
2.1.3. Khí hậu - thủy văn............................................................................. 13
2.1.4. Tài Nguyên ........................................................................................ 14

4.3.1. Phân bố theo nơi ở............................................................................. 41
4.3.2. Phân bố theo hệ sinh thái .................................................................. 45
4.4 Các loài lưỡng cư, bò sát quý hiếm ở khu vực nghiên cứu................... 50
4.5 Các nhân tố đe dọa khu hệ LC, BS và đề xuất hướng bảo tồn ............ 52
4.5.1 Các nhân tố đe dọa ............................................................................. 52
4.5.2 Đề xuất hướng bảo tồn ....................................................................... 53
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ ............................................................................ 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 58
PHỤ LỤC

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
N GOCiv




DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Viết tắt

Viết đầy đủ

BS

Bò sát

DC

Dân cư

djk

30/03/2006 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp,
quý, hiếm.

NN

Nông nghiệp

SC

Sinh cảnh

SĐVN

Sách Đỏ Việt Nam, 2007. Phần Động vật.

THCS

Trung học cơ sở

TT

Thứ tự

UBND

Ủy ban nhân dân

iv



là nguồn thực phẩm có giá trị kinh tế cao. Một số bài thuốc cổ truyền và một
số dược liệu được chiết suất hoặc chế biến trực tiếp từ lưỡng cư, bò sát.
Ngoài ra trong tự nhiên, các loài Lưỡng cư, Bò sát còn là thiên địch
của rất nhiều loài sâu bọ phá hoại mùa màng, kể cả một số loài gặm nhấm gây
hại cho con người như chuột... Chúng tham gia đắc lực vào việc giúp con
người chống sâu bệnh, góp phần hạn chế việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
làm giảm ô nhiễm môi trường.
Sỹ Bình là xã vùng cao nằm ở phía bắc huyện Bạch Thông, là khu vực
hiện còn thảm thực vật rừng rất phong phú. Ở đây có nhiều núi đá vôi chiếm
85%, xung quanh là các khe nước, sông suối hẹp và sâu. Điều kiện tự nhiên
như vậy thuận lợi cho lưỡng cư và bò sát sinh sống.
Ở Bắc Kạn chỉ có một số nghiên cứu ở rừng quốc gia Ba Bể, Ngân Sơn
còn những huyện, những xã lân cận thì chưa có nghiên cứu cụ thể nào về
lưỡng cư, bò sát. Do đó, việc nghiên cứu khu hệ Lưỡng cư, Bò sát ở xã Sỹ
Bình, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn là hết sức cần thiết, nhằm đánh giá
tính đa dạng sinh học của khu vực này, làm cơ sở cho chính quyền biết tầm
quan trọng để bảo vệ và phát triển các loài động vật, đặc biệt là Lưỡng cư, Bò
sát.

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: "Nghiên cứu thành phần loài và đặc trưng phân bố của Lưỡng Cư - Bò
Sát tại xã Sỹ Bình, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn”
2. Mục tiêu của đề tài
- Lập danh sách thành phần loài, xác định sự đa dạng của LCBS ở khu
1


vực nghiên cứu.

2

5. Đóng góp của đề tài
- Xây dựng danh sách thành ph ần loài lưỡng cư, bò sát ở khu vực
nghiên cứu.
- Lập danh sách các loài quý hiếm theo các mức độ ở khu vực nghiên
cứu.
- Phát hiện những khu vực phân bố mới của lưỡng cư, bò sát góp phần
bổ sung vào đa dạng khu vực phân bố của tỉnh Bắc Kạn.


Chương 1

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Lịch sử nghiên cứu LC, BS ở vùng Đông Bắc
Việt Nam được biết như một đất nước có tiềm năng đa dạng sinh học
cao và mang tính đặc hữu, đặc biệt là các loài LC, BS. Từ thế kỷ XX đến nay,
việc nghiên cứu đã được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu trong và ngoài
nước. Theo thời gian, việc nghiên cứu ngày càng được quan tâm nhiều hơn và
mở rộng ra nhiều hướng mới, nhiều vùng khác nhau.
Theo Nguyễn Văn Sáng và đtg. (2009), vùng địa lí Đông Bắc của Việt
Nam gồm 11 tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang,
Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Phú Thọ, Bắc Giang, Quảng Ninh.
Những nghiên cứu về lưỡng cư, bò sát của Việt Nam ở thế kỷ trước
(Theo Hoàng Văn Ngọc [17] tác giả Bourret R. từ 1933 đến 1944 đã viết 4
cuốn chuyên khảo về LC, BS Đông Dương (Việt Nam, Lào và Campuchia),
gồm Les Serpents de l’Indochine (Tome I, II) (1936) có mô tả 105 loài rắn ở
miền Bắc Việt Nam, Les Tortues de l’Indochine (1941) có mô tả 17 loài và
phân loài rùa ở miền Bắc Việt Nam và Les Batraciens de l’Indochine (1942) có
mô tả 59 loài và phân loài LC, Les Lézards de l'Indochine (được xuất bản
chính thức năm 2009), gồm 177 loài và phân loài thằn lằn. Đây được coi là
những tài liệu đầy đủ nhất về LC, BS ở giai đoạn trước 1954 của Đông Dương.

Lepolalax sungi ở Tam Đảo và Leptolalax nahangensis ở Tuyên Quang [40]
Năm 2000 Hồ Thu Cúc và đtg mô tả một vài đặc điểm hình thái, tập
tính và phân bố của 10 loài Rhacophorus trong đó có các loài ở vùng Đông Bắc
[2].
Năm 2001 Hồ Thu Cúc và đtg, bổ sung khu phân bố và mô tả một số
loài của giống ếch cây sần Theloderma: Th. gordoni ở K'Bang (Gia Lai),
Fansipan (Lào Cai) và núi Tam Đảo, Th. asperum ở Tam Đảo và Sa Pa, Th.
5


bicolor có ở Sa Pa, đổi tên Rhacophorus leprosus corticalis từng phát hiện ở
Mẫu Sơn (Lạng Sơn) thành Th. corticale phát hiện lại ở núi Tam Đảo [3].
Năm 2001, Nikolai L. Orlov và đtg đã công bố đa dạng họ Ếch cây
Rhacophoridae ở vùng núi Hoàng Liên, (đỉnh fansipan, huyện Sa Pa, Tỉnh
Lào Cai), có tổng số 4 giống, và 20 loài góp phần nâng tổng số loài ếch cây ở
Việt Nam ở thời điểm này lên 5 giống, 40 loài [51].
Từ Năm 2004 đến nay có rất nhiều nghiên cứu LC, BS ở khu vực vùng
Đông Bắc của các nhà khoa học trong nước và nước ngoài, từ đó số lượng loài
lưỡng cư và bò sát ở Việt Nam được phát hiện và tăng lên nhanh qua các năm.
Lê Nguyên Ngật và đtg (2004), đã công bố thành phần loài ở Hồ Núi
Cốc gồm 18 loài LC, 44 loài BS trong đó có 13 loài ghi trong Sách Đỏ Việt
Nam 2000, 3 loài trong Danh lục Đỏ IUCN 2000 [10].
Năm 2004 Đặng Huy Phương và đtg, thống kê ở khu vực núi Tây Côn
Lĩnh, Hà Giang có 18 loài BS, 33 loài LC [21], Cùng năm 2004, Raoul H. Bain
và đtg, công bố ở Hà Giang có 36 loài LC, 16 loài BS; so với nghiên cứu năm
2004 của Đặng Huy Phương bổ sung thêm 14 loài LC, 8 loài BS; trong đó mô
tả 2 loài mới Rana iriodes và Rana tabaca, đưa ra ghi nhận vùng mới của 8
loài và phân loài ở Hà Giang và phía đông sông Hồng gồm (Bombina
microdeladigitora,


loài vào danh sách Hồ Núi Cốc; đồng thời xác định 31 loài ở khu vực khu vực
Thần Sa- Phượng Hoàng. Qua bài báo đã bổ sung 16 loài cho danh sách LC,
BS ở Thái Nguyên[11].
Năm 2006 Nguyễn Quảng Trường và đtg đã ghi nhận 67 loài LC, BS
(trong đó có 35 loài ếch nhái thuộc 7 họ, 2 bộ và 32 loài BS thuộc 10 họ, 2
bộ), bổ sung 4 loài LC, 6 loài BS so với trước đó; trong đó có 15 loài ếch nhái
và bò sát quý hiếm

ở Hà Giang, ghi nhận một số loài hiếm gặp như:

Paramesotriton deloustali ở Đá Đin, huyện Xí Mần, Tylototriton asperrimus,
Bombina

microdeladigitora

(=B.

maxima),

Amolops

chapaensis,

Rhacophorus hoanglienensis và Ophisaurus harti ở Tây Côn Lĩnh [31]
Năm 2007, Lê Nguyên Ngật và đtg đã thống kê ở 3 huyện Chiêm Hóa,
Nà Hang, Sơn Dương của Tuyên Quang có 97 loài LC, BS (trong đó 43 loài
LC thuộc 8 họ, 3 bộ và 54 loài BS thuộc 14 họ, 2 bộ) với 22 loài quý, hiếm;
bổ sung 48 loài so với danh lục 2005 [12]; thống kê Hà Giang có 86 loài, gồm
49 loài LC, 37 loài BS (bổ sung 8 loài LC, 23 loài BS cho Hà Giang so với
danh lục 2005) [13].

Tất cả mẫu thu được đều ở độ cao từ 500-700m, ở núi đá vôi, kiểu rừng mưa
nhiệt đới. Mẫu thu vào ban đêm, nhiệt độ từ 22-240C [52].
Năm 2010 Nguyễn Quảng Trường và đtg đã nghi nhận một loài mới
Tropidophorus boehmei ở núi Fansipan, Sa Pa và Văn Bàn (Lào Cai) [43]
Cùng năm 2010 Nguyễn Quảng Trường và đtg ghi nhận vùng phân bố
mới và loài mới cho giống Scincella. Đó là công bố ghi nhận vùng phân bố
mới và mô tả loài thằn lằn Scincella monticola (Squamata: Scincidae) lần đầu
tiên ghi nhận ở Mẫu Sơn, Lạng Sơn, Việt Nam mà trước đó chỉ được biết đến
ở Thiểm Tây, Tứ Xuyên, và Vân Nam ở Trung Quốc [46], và công bố loài
Scincella apraefrontalis , mẫu vật được thu thập bởi Nguyễn Văn Sáng và
Nguyễn Quảng Trường tại vườn quốc gia Hữu Liên, Hữu Lũng, Lạng Sơn
[44].

8


Năm 2010 Rösler Herbert và đtg, công bố và mô tả loài mới Gekko
canhi ở Hữu Liên-Lạng Sơn và Sa Pa-Lào Cai [53]
Năm 2010, Nikolai L. Orlov và đtg ghi nhận lại và mô tả lại hai loài rắn
Oligodon lacroixi và Maculophis bellus chapaensis đã từng được nghi nhận
ở Fansipan - Sa Pa - Lào Cai năm 1930 [49].
Năm 2011, Lê Nguyên Ngật và đtg (2011), dựa vào các nghiên cứu
trước ở Hồ Núi Cốc tỉnh Thái Nguyên năm 2003 – 2004, vùng ven biển Thái
Bình - Nam Định năm 2002 – 2004, … đã thống kê số loài LC, BS ở một số
vùng đất ngập nước được 126 loài thuộc 23 họ, 4 bộ, trong đó có 29 loài LC
thuộc 19 giống, 7 họ, 2 bộ và 97 loài BS thuộc 63 giống, 16 họ, 2 bộ. trong đó
có 25 loài có giá trị bảo tồn ở các mức độ khác nhau cho ra kết luận những
loài bị suy giảm mạnh cần được ưu tiên bảo tồn gồm: Rắn hổ chúa, Trăn gấm,
Trăn đất, Kỳ đà hoa, Rắn ráo trâu, Rắn cặp nong, Rắn hổ mang Trung Quốc,
Rùa rang, Rắn sọc dưa, Rùa đất lớn và Quản đồng [15]

Nam. Nâng tổng số 76 loài LC, BS ở khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yến Tử,
trong đó có 1 loài thuộc bộ không chân, 1 loài thuộc bộ có đuôi, 34 loài thuộc
bộ không đuôi, 18 loài thằn lằn và 22 loài rắn[54].
9


Năm 2013 Nikolai L. Orlov và đtg đã môn t ả loài mới loài
Azemiops kharini ở Tam Đảo, Vĩnh Phúc và bàn luận về lịch sử tự nhiên
của giống Azemiops.[50].
Thomas Ziegler và dtg (2014), dựa trên các cuộc khảo sát tiến hành giữa
tháng 12 năm 2006 và tháng 5 năm 2008 trong rừng Tùng Vải - Quản Bạ - Hà
Giang đã ghi nhận được 8 loài lưỡng cư mới cho Hà Giang đó là:
Hyla

annectans,

Babina

chapaensis,Odorrana

cf.jingdongensis,

O.

junlianensis, Gracixalus cf. jinxiuensis, Rhacophorus duboisi, R. feae, and R.
robertingeri) and twelve reptile species (Gekkocf. palmatus, Sphenomorphus
indicus, Cyclophiops major, C. multicinctus, Euprepiophis mandarinus,
Lycodon meridionalis, Oligodon chinensis, Oreocryptophis porphyraceus,
Orthriophis taeniurus, Pseudoxenodon macrops, Rhabdophis subminiatus, and
Sinomicrurus macclellandii, đồng thời nâng tổng số danh sách loài LC, BS

(2009) đã thống kê được 39 loài rắn và 18 loài thằn lằn, được ghi nhận ở Ba
Bể, Chợ mới, Chợ Đồn, Ngân Sơn, Linh Thông, Xuân Lạc [47].
Vũ Tiến Thịnh (2013) xác định được 11 loài BS quý hiếm ở KBT loài
và SC Nam Xuân Lạc (Bắc Kạn) gồm: Tắc kè Gekko gecko, Kỳ đà hoa
Varanus salvator, Rắn ráo thường Ptyas korros, Rắn hổ mang Naja atra, Rắn
cạp nong Bungarus fasciatus, Rắn cạp nia bắc Bungarus multicinctus, Rùa
đất spengle Geoemyda spengleri và đặc biệt quý hiếm là Trăn đất Python
molorus, Rắn hổ mang chúa Ophiophagus hannah, Rùa đầu to Platystemon
megacephalum, Rùa sa nhân Cuora mouhoti [24].
Chính vì vậy nội dung nghiên cứu của đề tài là cần thiết, có ý nghĩa
khoa học đồng thời bổ sung số loài mới cho Bắc Kạn nói chung và khu vực
nghiên cứu Sỹ Bình nói riêng.

12


[[

Chương 2

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU
2.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1. Vị trí địa lí
Khu vực nghiên cứu là xã Sỹ Bình, thuộc huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc
Kạn (Bản đồ trang ..). Sỹ Bình được thành lập năm 1964, là xã vùng cao nằm
phía Bắc huyện Bạch Thông, là vùng đặc biệt khó khăn, theo báo cáo của
Đảng ủy xã Sỹ Bình có diện tích tự nhiên là 2713 ha, núi đá vôi chiếm 85%
diện tích của xã [4] [5].
Vị trí địa lí: Nằm vùng Đông Bắc huyện Bạch Thông, cách trung tâm
huyện lị 10 km, có tọa độ địa lí là 22015’13’’B 105055’31’’Đ.

2.1.3. Khí hậu - thủy văn
2.1.3.1. Khí hậu
Thời tiết ở Sỹ Bình chia làm 4 mùa: Xuân, hạ, thu, đông. Mùa hè nóng
ẩm. mưa nhiều, mùa đông rét và ít mưa, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông
Bắc. Có thể chia hai mùa rõ rệt:
+ Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 - 9, M ùa khô kéo dài từ tháng 10 đến
tháng 3 năm sau.
Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình hàng năm là 220C; Nhiệt độ tháng
thấp nhất xuống tới 16,40C vào tháng 1; nhiệt độ cao nhất lên đến 27,90C vào
tháng 7
Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm là 1586 mm, mỗi năm
có 134 ngày mưa, lượng mưa cao nhất vào tháng 6- 7 (trung bình khoảng
188,7 mm); lượng mưa thấp nhất vào tháng 11-12. Vào mùa mưa do địa hình
cao, độ dốc lớn thường gây ra lũ cuốn làm xói mòn, lở đất của dãy đồi núi.
Vào mùa hè thời tiết hanh khô, hạn hán. Vào mùa đông tiết trời giá rét, nhiều
14


khi có sương muối. Sự chênh lệch nhiệt độ giữa hai mùa nóng - lạnh tương

15


đối lớn. Tính chất khí hậu như vậy tạo thuận lợi để phát triển nền nông nghiệp
với sự đa dạng các giống loài cây trồng, vật nuôi. Thích hợp với cây trồng ôn
đới và cận nhiệt đới.
- Nắng: Trung bình năm là 1554,7 giờ. Tháng 8 có số giờ nắng cao nhất
là 187,4 giờ, tháng 2 có số giờ nắng thấp nhất là 54,6 giờ.
- Độ ẩm không khí cao nhất từ tháng 7 – 10, từ 84% -> 86%, thấp nhất
là 79% từ tháng 12 đến tháng 1 năm sau. Nhìn chung, độ ẩm không khí trên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status