Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái về thành phần thức ăn của hai loài đặc hữu thuộc giống thạch sùng mí goniurosaurus tại việt nam và đề xuất một số biện pháp bảo tồn - Pdf 51

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM THÙY LINH

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI
VỀ THÀNH PHẦN THỨC ĂN CỦA HAI LOÀI ĐẶC HỮU THUỘC
GIỐNG THẠCH SÙNG MÍ GONIUROSAURUS TẠI VIỆT NAM
VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP BẢO TỒN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Thái Nguyên - 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM THÙY LINH

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI
VỀ THÀNH PHẦN THỨC ĂN CỦA HAI LOÀI ĐẶC HỮU THUỘC
GIỐNG THẠCH SÙNG MÍ GONIUROSAURUS TẠI VIỆT NAM
VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP BẢO TỒN
Ngành: Sinh thái học
Mã số: 8 42 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Hoàng Văn Ngọc


Long, Ban quản lý vịnh Hạ Long đã cung cấp thông tin và tạo điều kiện thuận
lợi cho tôi trong quá trình khảo sát thực địa.
Xin được tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân và bạn bè đã động
viên và ủng hộ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu này.
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả

Phạm Thuỳ Linh

ii


MỤC LỤC
Lời cam đoan ........................................................................................................ i
Lời cảm ơn ........................................................................................................... ii
Mục lục ...............................................................................................................iii
Danh lục chữ viết tắt ........................................................................................... iv
Danh mục bảng .................................................................................................... v
Danh mục hình .................................................................................................... vi
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU ................................. 4
1.1. Tổng quan về nghiên cứu bò sát ở Việt Nam ............................................... 4
1.1.1 Đa dạng loài bò sát ở Việt .......................................................................... 4
1.1.2 Các nghiên cứu về bò sát ở vùng Đông Bắc............................................... 4
1.1.3 Nghiên cứu về đặc điểm dinh dưỡng, thành phần thức ăn của các loài
bò sát .................................................................................................................... 6
1.2. Tổng quan về khu vực nghiên cứu ............................................................... 6
1.2.1 Vườn quốc gia Bái Tử Long ....................................................................... 6
1.2.2 Vịnh Hạ Long ............................................................................................. 9
1.3. Tổng quan về đối tượng nghiên cứu: .......................................................... 12

loài Thạch sùng mí ............................................................................................ 46
3.3.1 Đánh giá các mối đe doạ đến loài thạch sùng mí ..................................... 46
3.3.2 Các vấn đề bảo tồn.................................................................................... 48
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ......................................................................... 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 54

iv


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CS

Cộng sự

DTSQ

Dự trữ sinh quyển

GPS

Hệ thống định vị toàn cầu (Global Positioning System)

HST

Hệ sinh thái

IEBR

Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật


rộng (W) và chỉ số quan trọng (I) của các dạng thức ăn của loài
Thạch sùng mí cát bà ......................................................................... 37

v


DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Số lượng các loài bò sát được ghi nhận ở Việt Nam qua các năm ......... 4
Hình 1.2. Ảnh chụp Bản đồ hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp VQG Bái
Tử Long - tỉnh Quảng Ninh............................................................... 7
Hình 1.3. Vị trí Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh (Nguồn: Phòng Nghiệp
vụ - Nghiên cứu, Ban Quản lý Vịnh Hạ Long) ............................... 10
Hình 1.4. Phân bố của các loài thuộc giống Thạch sùng mí ở Việt Nam ......... 14
Hình 1.5. Loài Thạch sùng mí lichtenfer (Goniurosaurus lichtenfelderi) ........ 15
Hình 1.6. Loài Thạch sùng mí cát bà (Goniurosaurus catbaensis)................... 16
Hình 2.1. A, B. Sinh cảnh Vườn Quốc Gia Bái Tử Long; C, D. Sinh cảnh
Vịnh Hạ Long .................................................................................. 20
Hình 2.2. A, B. Khảo sát thực địa tại VQG Bái Tử Long và Vịnh Hạ Long ....... 21
Hình 2.3. Xác định giới tính dựa trên đặc điểm hình thái ................................. 22
Hình 2.4. A. Thụt dạ dày mẫu Thạch sùng mí cát bà ngoài thực địa; B.
Thụt dạ dày mẫu Thạch sùng mí lichtenfer ..................................... 23
Hình 2.5. Xác định và đo đếm kích thước mẫu thức ăn dưới kính lúp soi
nổi Leica S6E .................................................................................. 24
Hình 3.1. A. Phân tích PCA (PC1) so sánh về kích thước giữa các cá thể
đực và cái của loài Thạch sùng mí lichtenfer; B. Đánh giá ảnh
hưởng của các chỉ số đo tới sự khác biệt về hình thái giữa giới
tính bằng chỉ số PC1 loading........................................................... 30
Hình 3.2. A. Phân tích PCA (PC1) so sánh về kích thước giữa các cá thể
đực và cái của loài Thạch sùng mí cát bà; B. Đánh giá ảnh
hưởng của các chỉ số đo tới sự khác biệt về hình thái giữa giới

Bà; C. Xả rác bừa bãi tại Vịnh Hạ Long; D. Tổ chức sinh nhật
tại hang động của Vịnh Hạ Long .................................................... 48
Hình 3.12. A. Cá thể Thạch sùng mí lichtenfer; B. Cá thể Thạch sùng mí
cát bà nuôi nhốt tại Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh .................... 50
Hình 3.13. Hình ảnh Poster giới thiệu về loài Thạch sùng mí cát bà tại
Vịnh Hạ Long .................................................................................. 51

vii


MỞ ĐẦU
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và có địa hình phức
tạp tạo nên sự đa dạng về sinh cảnh ở cả vùng đồng bằng, trung du, vùng núi và
vùng đất liền hải đảo nên phù hợp cho sự phát triển của động vật nói chung và
các loài bò sát nói riêng. Khu hệ bò sát của nước ta rất đa dạng với khoảng hơn
465 loài hiện đã được ghi nhận Uetz & Hošek, 2018 [60]. Số lượng các loài bò
sát được nghiên cứu ở Việt Nam không ngừng tăng trong những năm gần đây,
với hàng trăm loài mới và ghi nhận mới được phát hiện, đặc biệt là các nhóm còn
ít được nghiên cứu như các loài thuộc họ Tắc kè (Gekkonidae) [49]. Bò sát là
một mắt xích quan trọng trong mạng lưới thức ăn của quần xã sinh vật, với số
lượng loài rất phong phú và đa dạng, đã góp phần quan trọng tạo nên tính đa
dạng sinh học và giữ trạng thái cân bằng sinh học trong quần xã sinh vật. Trong
đời sống và phát triển kinh tế - xã hội của con người, bò sát cũng có một vai trò
rất quan trọng như nguồn thực phẩm, nguồn dược liệu sử dụng trong một số bài
thuốc dân gian, nuôi làm cảnh, vật liệu kỹ nghệ da, hàng mỹ nghệ. Ngoài
tự nhiên, các loài bò sát còn là thiên địch của rất nhiều loài sâu bọ phá hoại mùa
màng, kể cả một số loài gặm nhấm gây hại cho con người. Chúng tham gia đắc
lực vào việc giúp con người chống sâu bệnh, góp phần hạn chế việc sử dụng
thuốc bảo vệ thực vật làm giảm ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, quần thể của
các loài bò sát trong tự nhiên đang bị suy giảm nghiêm trọng, nhiều loài đang

rộng loài phân bố tại các đảo nhỏ thuộc Vịnh Hạ Long (Ngo và cs) [39]. Nghiên
cứu của Ngo và cs (2016) [42] bước đầu đã ước tính được kích cỡ quần thể và
ghi nhận một số đặc điểm sinh học, sinh thái cũng như xác định những mối đe
dọa tới quần thể loài Thạch sùng mí cát bà tại đảo Cát Bà. Trên cơ sở đó, Nguyen
và cs (2016) [46] đưa loài Thạch sùng mí cát bà vào trong Danh lục đỏ thế giới
xếp hạng Nguy cấp (EN) và nhận định các loài Thạch sùng mí có nguy cơ tuyệt
chủng cao, trong đó bao gồm cả loài Thạch sùng mí lichtenfer. Một số chương
trình nghiên cứu nhân nuôi sinh sản với mục đích bảo tồn các loài Thạch sùng
mí đang được thực hiện tại trạm Đa dạng sinh học Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc
Ziegler và cs, 2016 [70]. Để đưa ra được quy trình nhân nuôi đảm bảo cho sự

2


sinh trưởng và phát triển của các loài Thạch sùng mí, đòi hỏi phải có những thông
tin cần thiết từ các nghiên cứu điều tra thực tế về cấu trúc quần thể, đặc điểm
sinh thái và thành phần dinh dưỡng của loài ngoài tự nhiên. Tuy nhiên, ngoài
nghiên cứu ghi nhận với số lượng nhỏ mẫu thành thức ăn của loài Thạch sùng
mí cát bà tại đảo Cát Bà, chưa ghi nhận bất kể nghiên cứu nào về thành phần
thức ăn của các loài Thạch sùng mí. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài: “Nghiên cứu
một số đặc điểm sinh thái về thành phần thức ăn của hai loài đặc hữu thuộc
giống Thạch sùng mí Goniurosaurus tại Việt Nam và đề xuất một số biện pháp
bảo tồn”, được thực hiện để tìm hiểu một số đặc điểm sinh thái dinh dưỡng,
thành phần thức ăn của các loài bò sát trên phục vụ công tác bảo tồn nhân nuôi
và các quần thể ngoài tự nhiên. Kết quả của đề tài là cơ sở để phát triển hướng
nghiên cứu về thành phần dinh dưỡng của loài hai loài Thạch sùng mí đặc hữu
Goniurosaurus catbaensis và G. lichtenfelderi nói riêng và các loài bò sát nói
chung tại Việt Nam và phục vụ công tác bảo tồn sau này.

3

(2009) [10] ghi nhận 39 loài rắn và 18 loài thằn lằn ở Ba Bể, Chợ mới, Chợ Đồn,
Ngân Sơn, Linh Thông, Xuân Lạc. Hoàng Văn Ngọc (2010) [9] đã ghi nhận 101
loài bò sát ở 3 tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang và Hà Giang. Nguyen và cs
(2011) [45] khảo sát và ghi nhận 40 loài bò sát tại VQG Cát Bà. Vũ Tiến Thịnh
(2013) [11] xác định được 11 loài bò sát quý hiếm ở khu bảo tồn loài loài và sinh
cảnh Nam Xuân Lạc (Bắc Kạn). Hecth và cs (2014) [24] thống kê ở vùng núi
Tây Yên Tử (tỉnh Bắc Giang) có 40 loài Bò sát. Gawor và cs (2016) [19] đã ghi
nhận 51 loài bò sát tại VQG Bái Tử Long.
Về mô tả loài mới và ghi nhận mới cho Việt Nam: Le & Ziegler (2003)
[31] lần đầu tiên ghi nhận loài Shinisaurus crocodilurus ở Việt Nam. Darevsky
và cs (2004) [17] mô tả loài mới Sphenomorphus devorator ở Quảng Ninh.
Böhme và cs (2005) [14] mô tả mới loài Tylototriton vietnamensis ở Bắc Giang.
Vu và cs (2006) [61] ghi nhận bổ sung loài Goniurosaurus luii cho khu hệ bò sát
của Việt Nam. Ziegler và cs (2008) [69] mô tả mới Goniurosaurus catbaensis ở
đảo Cát Bà. Ziegler và cs (2008) [69] phát hiện loài mới Opisthotropis
tamdaoensis ở Tam Đảo. Năm 2009, Orlov và cs [53] mô tả loài rắn mới
Protobothrops trungkhanhensis với mẫu chuẩn thu tại tỉnh Cao Bằng. Nguyen
và cs (2010) [47] mô tả loài mới Scincella apraefrontalis tại tỉnh Lạng Sơn.
Roesler và cs (2010) [58] mô tả loài Gekko canhi thu tại tỉnh Lạng Sơn. David
và cs (2012) [18] mô tả mới loài Oligodon nagao tại tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng.
Nguyen và cs (2012) [48] ghi nhận bổ sung loài Sphenomorphus incognitus cho
khu hệ bò sát của Việt Nam với mẫu vật thu tại tỉnh Bắc Giang. Orlov và cs
(2013) [54] mô tả loài mới Azemiops kharini với mẫu vật thu tại các tỉnh Cao

5


Bằng, Lạng Sơn và Vĩnh Phúc. Nguyen và cs (2013) [43] đã công bố và mô tả
loài mới Hemiphyllodactylus zugi ở Hạ Lang, Cao Bằng. Loài rắn đặc hữu
Opisthotropis voquyi gần đây được phát hiện duy nhất phân bố tại vùng núi Tây

tích 15.783 ha (Hình 1.2). VQG Bái Tử Long thuộc Vịnh Bái Tử Long, nằm
trong vịnh Bắc Bộ, phía Tây nam giáp Vịnh Hạ Long, phía Đông gáp biển, phía
Tây giáp đất liền với thành phố Cẩm Phả và phía Đông bắc giáp huyện đảo Cô
Tô. Vịnh Bái Tử Long bao gồm hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ và trong đó có nhiều
đảo lớn và có dân sinh sống. Các đảo thuộc vườn quốc gia bao gồm: Ba Mùn,
Trà Ngọ Lớn, Trà Ngọ Nhỏ, Sậu Nam, Sậu Động, Đông Ma, Hòn Chính, Lò Hố,
Máng Hà Nam, Máng Hà Bắc, Di To, Chầy Cháy, Đá Ẩy, Soi Nhụ,… (Lê văn
Lanh, 2011) [7].

Hình 1.2 Ảnh chụp Bản đồ hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp VQG
Bái Tử Long - tỉnh Quảng Ninh
(Nguồn: VQG Bái Tử Long)
7


1.2.1.2 Khí hậu
VQG Bái Tử Long chịu ảnh hưởng chung của vùng nhiệt đới gió mùa cận
chí tuyến Bắc có mùa đông lạnh từ tháng 10 tới tháng 3 năm sau và mùa hè nắng
nóng từ tháng 5 tới tháng 8, tháng 4 và tháng 9 là thời kỳ chuyển tiếp với khí hậu
ôn hoà.
Nhiệt độ không khí theo số liệu quan trắc của 4 trạm Khí tượng khu vực
xung quanh (trạm Móng Cái, Tiên Yên, Cô Tô, Cửa Ông) trong thời gian 1956 2003 cho thấy nhiệt độ trung bình năm trong khoảng 22,4 - 22,8°C, trong khoảng
thời gian nóng nhất vào các tháng 6 - 8 và đặc biệt vào tháng 7.
Lượng mưa trung bình năm của khu vực VQG Bái Tử Long trong khoảng
1693,8 - 2679,6mm.
Độ ẩm tương đối của không khí khu vực trung bình khoảng 83 - 85% [7].
1.2.1.3 Đa dạng sinh học
- Hệ sinh thái Vịnh Bái Tử Long:
Vịnh Bái Tử Long bao gồm VQG Bái Tử Long do có cấu tạo địa hình, địa
chất đa dạng nên HST rất đa dạng: HST rừng lá rộng thường xanh nhiệt đới trên

động vật có xương tại VQG Bái Tử Long ghi nhận 08 loài ếch nhái thuộc 06 họ
và 19 loài bò sát thuộc 11 họ. Nguyen và cs. (2009) [49] ghi nhận 40 loài bò sát
tại VQG Bái Tử Long. Gần đây, Gawor và cs. (2016) [19] đã bổ sung và ghi
nhận một số loài bò sát và ếch nhái, tăng số lượng các loài ếch nhái thành 14 loài
và số lượng các loài bò sát tăng lên tới 51 loài. Đa dạng các loài bò sát ếch nhái
tại VQG Bái Tử Long ghi nhận 04 loài trong Danh lục Đỏ IUCN 2018 [27], 08
loài trong Sách đỏ Việt Nam (2007) , 05 loài có tên trong Nghị định 32/NĐ-CP
(2006), 05 loài có tên trong Công ước quốc tế về buôn bán các loài động, thực
vật hoang dã nguy cấp (CITES-2016) và 01 loài đặc hữu tại Việt Nam là loài
Thạch sùng mí lichtenfer (Goniurosaurus lichtenfelderi).
1.2.2 Vịnh Hạ Long
1.2.2.1 Vị trí địa lý
Vịnh Hạ Long thuộc Vịnh Bắc Bộ nằm ở khu vực Đông Bắc Việt Nam,
thuộc địa phận tỉnh Quảng Ninh (Hình 1.3). Vịnh Hạ Long hai lần được

9


UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm 1994 với giá trị ngoại hạng mang
tính toàn cầu về cảnh quan thiên nhiên, và năm 2000 với giá trị đặc biệt về địa
chất - địa mạo; ngoài ra vịnh Hạ Long còn là 1 trong 7 kỳ quan thiên nhiên của
thế giới do NOWC bầu chọn vào năm 2011. Khu vực di sản thế giới Vịnh Hạ
Long được công nhận có diện tích rộng 434km2, gồm 775 hòn đảo trong đó 411
đảo có tên, được xác định trong tọa độ: 106 059'24” - 107020'30” kinh độ Đông
và 20043'24”-20056'12” vĩ độ Bắc, giới hạn bởi 3 điểm: Đảo Đầu Gỗ (phía Tây),
đảo Đầu Bê (phía Nam) và đảo Cống Tây (phía Đông) [3].

Hình 1.3 Vị trí Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
(Nguồn: Ban Quản lý Vịnh Hạ Long)
1.2.2.2. Khí hậu

- Đa dạng các loài bò sát, ếch nhái tại Vịnh Hạ Long:
Tuy có ranh giới tiếp giáp với VQG Cát Bà và VQG Bái Tử Long tuy
nhiên thành phần các loài bò sát và ếch nhái tại Vịnh Hạ Long không đa dạng.
Những nghiên cứu điều tra đa dạng chung ghi nhận chỉ với 08 loài bò sát và 04
loài ếch nhái tại các đảo nhỏ thuộc Vịnh Hạ Long. Gần đây, nghiên cứu của Ngo
và cs. (in press - gửi đăng tạp chí) đã phát hiện và ghi nhận mới 01 loài đặc hữu
và quý hiếm Thạch sùng mí cát bà (Goniurosaurus catbaensis), mở rộng vùng
phân bố của loài tại các đảo nhỏ thuộc Vịnh Hạ Long [3].

11


1.3. Tổng quan về đối tượng nghiên cứu:
1.3.1 Phân loại giống Thạch sùng mí Goniurosaurus:
Theo Nguyen và cs (2009) [49] giống Thạch sùng mí (Goniurosaurus)
thuộc họ Tắc kè mí (Eublepharidae), bộ Có vảy (Squamata), lớp Bò sát
(Reptilia).
Hiện nay, trên thế giới đã ghi nhận 19 loài thuộc giống Thạch sùng mí
(Orlov và cs, 2008; Ziegler và cs, 2008; Yang và cs, 2015, Honda & Ota, 2017,
Zhou và cs, 2018 ) [26], [55], [65], [66], [68]. Trong các năm 2014 - 2018, có 04
loài mới được mô tả với mẫu vật thu ở Nam Trung Quốc gồm: G. zhelongi
(Wang, Jin, Li & Grismer, 2014), G. kadoorieorum (Yang & Chan, 2015), G.
kwangsiensis (Yang & Chan, 2015) và G. Zhoui (Zoui, Wang, Chen & Liang),
2018 [64], [65], [66]. Các loài thạch sùng mí phân bố ở Đông Nam châu Á, ghi
nhận ở vùng Đông Bắc Việt Nam (kể cả các đảo trong Vịnh Hạ Long), Nam
Trung Quốc (kể cả đảo Hải Nam) và quần đảo Ryukyu của Nhật Bản (Ziegler và
cs, 2008; Nguyen và cs, 2009; Yang và cs, 2015) [49], [65], [68].
Các loài thuộc giống Thạch sùng mí được phân thành 4 nhóm:
 Nhóm G. lichtenfelderi bao gồm loài G . lichtenfelderi Mocquard, 1897
[35] phân bố ở Đông Bắc Việt Nam và loài G. hainanensis Barbour, 1908 phân

chỉ ghi nhận phân bố tại đảo Cát Bà thuộc VQG Cát Bà, các đảo nhỏ thuộc Vịnh
Hạ Long; loài Thạch sùng mí hữu liên (G. huuliensis) phân bố tại Khu bảo tồn
thiên nhiên Hữu Liên, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; loài Thạch sùng mí
lichtenfer (G. lichtenfelderi) phân bố tại VQG Bái Tử Long, tỉnh Quảng Ninh và
vùng núi Yên Tử thuộc địa phận tỉnh Quảng Ninh, Bắc Giang và Hải Dương.
Trong khi đó 2 loài còn lại ghi nhận phân bố ở Việt Nam và Trung Quốc (Nguyen
và cs. 2009; Ziegler và cs, 2008; Orlov và cs, 2008). [49], [55], [68].

13


Hình 1.4 Phân bố của các loài thuộc giống Thạch sùng mí ở Việt Nam
(Nguồn: Ngô Ngọc Hải)
1.3.3 Loài Thạch sùng mí Lichtenfer (Goniurosaurus lichtenfelderi):
Loài Thạch sùng mí Lichtenfer Goniurosaurus lichtenfelderi (Mocquard,
1897) [35] được ghi nhận lần đầu tiên ghi nhận ở Việt Nam tại khu vực rừng trên
đảo thuộc Vườn Quốc Gia Bái Tử Long, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh (Hình
1.5). Loài này sau đó được ghi nhận mở rộng tại huyện Chí Linh - Hải Dương
(Nguyen et al. 2009) [49]; Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử (huyện Sơn
Động - Bắc Giang); rừng Quốc gia Yên Tử (thành phố Uông Bí - Quảng Ninh).
Trên thế giới, trước đây loài G. lichtenfelderi được ghi nhận tại Quảng Tây và
Hải Nam của Trung Quốc (Nguyen et al. 2009) [49] nhưng các tài liệu công bố
gần đây khẳng định loài này chỉ phân bố ở Việt Nam và loài ở Trung Quốc là
loài Thạch sùng mí hải nam G. hainanensis.

14


Hình 1.5 Loài Thạch sùng mí lichtenfer (Goniurosaurus lichtenfelderi)
Đặc điểm nhận dạng: SVL 77 - 104,3mm; cơ thể chắc mập; 5 - 6 vảy quanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status