PHÁP LUẬT CHỐNG HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH vực QUẢNG cáo - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRỊNH THỊ LIÊN HƯƠNG

PHÁP LUẬT CHỐNG HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG
LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC QUẢNG CÁO

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 6038 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Bùi Ngọc Cường

HÀ NỘI - 2010


MC LC
1

Lời nói đầu
Chương 1
1.1
1.1.1
1.1.2
1.1.2.1
1.1.2.2

15

1.2.2

Pháp luật của một số quốc gia trên thế giới

18

Pháp luật của Liên minh Châu Âu
Pháp luật của một số nước Châu á

18
21

1.2.2.1
1.2.2.2
Chương 2

Thực trạng pháp luật Việt Nam về chống hành vi cạnh tranh

24

không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo
2.1
2.2

Khái quát về thực trạng hoạt động quảng cáo ở Việt Nam
Các quy định của pháp luật hiện hành về chống hành vi

24

2.3.3

Xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh
vực quảng cáo
Xử lý theo pháp luật cạnh tranh
Xử lý vi phạm hành chính về quảng cáo trong các văn bản
khác
Bồi thường thiệt hại

48
48
50
52


2.3.4

Xử lý hình sự

53

2.3.5

Khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh

53

Chương 3

Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật chống hành vi


57

lành mạnh
3.2.2.1
3.2.2.2

Điều chỉnh khái niệm cạnh tranh không lành mạnh
Điều chỉnh các quy định về quảng cáo nhằm cạnh tranh

58
59

không lành mạnh
3.2.2.3

Hoàn thiện thủ tục, trình tự xử lý các vụ việc cạnh tranh

62

3.2.3

Điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của cơ quan cạnh tranh

64

3.2.4

Các giải pháp khác



1

LI NểI U
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Sau gần 20 năm nước ta thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển toàn diện nền
kinh tế xã hội, cơ chế thị trường tại Việt Nam đã dần được định hình, phát triển hướng
theo các quy luật khách quan, trong đó quy luật cạnh tranh là nền tảng cho sự vận
hành của các hoạt động thị trường. Hàng trăm ngàn doanh nghiệp thuộc các thành
phần kinh tế góp mặt và hoạt động kinh doanh đã từng bước tạo nên một môi trường
cạnh tranh với những biểu hiện đa dạng và sôi động. Tuy nhiên, cơ chế thị trường
phát triển đến một mức độ nhất định cũng bắt đầu bộc lộ những mặt trái tiêu cực có
thể ảnh hưởng xấu đến lợi ích của Nhà nước, các tổ chức, cá nhân và toàn xã hội. Đáp
ứng yêu cầu xây dựng cơ chế quản lý cạnh tranh trong nền kinh tế, Luật Cạnh tranh
đã được Quốc hội khoá IX thông qua tại kỳ họp 6 tháng12/2004 và có hiệu lực từ
ngày 01/7/2005, với quy định điều chỉnh các hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh
không lành mạnh, chức năng và nhiệm vụ của cơ quan cạnh tranh. Luật Cạnh tranh ra
đời góp phần quan trọng trong việc tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, bảo vệ
hoạt động kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp, quyền và lợi ích chính đáng của
người tiêu dùng, thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế cũng như tiến trình hội nhập.
Trong các hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định trong Luật
Cạnh tranh thì hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo là một
vấn đề phức tạp với nhiều biểu hiện đa dạng trong nền kinh tế hiện nay. Luật điều
chỉnh các hành vi quảng cáo so sánh, quảng cáo bắt chước, quảng cáo gian dối hoặc
gây nhầm lẫn, và các hoạt động quảng cáo bị pháp luật cấm khác. Trước khi Luật
Cạnh tranh được ban hành, đã tồn tại nhiều văn bản pháp luật khác điều chỉnh hoạt
động quảng cáo như Pháp lệnh Quảng cáo 2001, Pháp lệnh Bảo vệ người tiêu dùng
1999, Luật Thương mại 1997 và 2005 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật,
Pháp lệnh. Sự trùng lặp và chồng chéo về nội dung giữa các văn bản này gây khó
khăn cho việc tổ chức thực thi pháp luật thống nhất trên thực tế. Trong khi đó, cùng


nay; Luận văn thạc sĩ Luật học năm 2006 của tác giả Nguyễn Vũ Quỳnh Lâm:
Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở

Việt Nam- Lý luận và thực tiễn. Ngoài ra còn có các bài viết, chuyên khảo, sách
nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Như Phát, Đặng Vũ Huân, Phạm Duy Nghĩa...
trong đó có đề cập đến nội dung điều chỉnh cạnh tranh không lành mạnh. Nhiều bài
viết xuất hiện trên các tạp chí khoa học và trong các cuộc hội thảo nhằm làm rõ các
khía cạnh khác nhau của pháp luật cạnh tranh. Tuy nhiên, theo tìm hiểu của người
viết, hiện chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về hành vi cạnh tranh không lành


3
mạnh trong hoạt động quảng cáo, đặc biệt là trên góc độ luật thực định. Công tác tổ
chức thực thi các quy định của Luật Cạnh tranh trong thực tiễn đang đòi hỏi có sự tập
trung nghiên cứu chuyên sâu, nhằm tạo cơ sở lý luận cho việc hoàn thiện khung điều
chỉnh và cơ chế áp dụng pháp luật cạnh tranh. Trên cơ sở kế thừa những giá trị của
các công trình nghiên cứu trước đây, luận văn tiếp tục đi sâu, phát triển nhằm hoàn
thiện hơn nữa chế định pháp luật cạnh tranh của Việt Nam.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Luận văn đặt vấn đề nghiên cứu pháp luật chống hành vi cạnh tranh không
lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo. Từ việc xác định đối tượng nghiên cứu này,
phạm vi nghiên cứu của Luận văn bao gồm những vấn đề lý luận chung về hành vi
cạnh tranh không lành mạnh và hoạt động quảng cáo; các quy định của Luật Cạnh
tranh và các văn bản pháp luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam chống hành vi
cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo; thực tiễn thi hành các quy
định đó. Luận văn cũng thực hiện nghiên cứu so sánh pháp luật về cạnh tranh không
lành mạnh liên quan đến quảng cáo của một số quốc gia nhằm đề xuất bài học kinh
nghiệm tham khảo.
4. Phương pháp nghiên cứu

luật chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo và cơ chế
thực thi pháp luật có hiệu quả.
7. Cơ cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu cụ thể như sau:
Lời nói đầu
Chương 1: Những vấn đề lý luận về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh
vực quảng cáo.
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về chống hành vi cạnh tranh không
lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về
chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo.
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo


5
CHNG I
NHNG VN Lí LUN V CNH TRANH KHễNG LNH MNH
TRONG LNH VC QUNG CO
1.1. Lý luận về hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hoạt động quảng cáo

1.1.1 Khái quát về cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Ngày nay, cạnh tranh trở thành một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong
nhiều lĩnh vực khác nhau. Cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua giành ưu thế giữa
những người hoạt động trong cùng một lĩnh vực hoặc có chung một mục đích. Dưới
góc độ kinh tế, cạnh tranh là hành vi của các doanh nghiệp, thương nhân hoạt động
trên thị trường nhằm đạt được hiệu quả cao nhất, thu được nhiều lợi nhuận nhất trong
phạm vi kinh doanh của mình. Theo từ điển kinh doanh, xuất bản ở Anh năm 1992
thì cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường


lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh.
+ Cạnh tranh lành mạnh: là hình thức cạnh tranh đẹp và trong sáng, cạnh tranh
bằng những tiềm năng vốn có của doanh nghiệp. Đó là những hoạt động nhằm thu
hút khách hàng mà pháp luật không cấm và phù hợp với tập quán thương mại và đạo
đức kinh doanh truyền thống như: đăng kí nhãn hiệu thương phẩm, hạ giá bán hàng
hóa trên cơ sở đổi mới công nghệ, giảm chi phí sản xuất, chi phí lưu thông, nâng cao
chất lượng phục vụ khách hàng, liên tục đổi mới phương thức giao tiếp với khách
hàng.
+ Cạnh tranh không lành mạnh: là những hành vi cụ thể của một chủ thể kinh
doanh nhằm mục đích cạnh tranh, luôn thể hiện tính không lành mạnh (chứ không
chỉ là trái pháp luật) và vô tình hay cố ý gây thiệt hại cho một đối thủ cạnh tranh hay
bạn hàng cụ thể.
Chiếu theo một trong những định nghĩa về cạnh tranh không lành mạnh được
phổ biến rộng rãi nhất tại Điều 10 bis Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp, được bổ sung vào Công ước năm 1990 và được sửa đổi lần cuối theo Văn bản
Stockholm 1967, bất kỳ hành vi cạnh tranh nào đi ngược lại các thông lệ trung thực,

thiện chí trong công nghiệp hoặc trong thương mại đều là hành vi cạnh tranh không
lành mạnh. Việc sử dụng các tiêu chí về tập quán, đạo đức, hay như trong trường hợp
này là các thông lệ trung thực, hợp lý để xác định phạm vi một khái niệm pháp lý
sẽ đưa đến những điểm không rõ ràng. Thực tế Điều 10 bis đã có ý bỏ ngỏ khái niệm
này cho pháp luật quốc gia của các nước thành viên Công ước tự định đoạt. Tuy nhiên
đến cấp độ quốc gia, mọi nỗ lực nhằm bao quát trong một định nghĩa tất cả các hoạt
động cạnh tranh hiện tại và tương lai, có thể đồng thời xác định mọi hành vi bị ngăn
cấm và linh hoạt đủ để thích nghi với những thông lệ thị trường mới, cho đến nay vẫn


7
thất bại [30]. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là không thể có phạm vi điều chỉnh
đối với cạnh tranh không lành mạnh. Nhìn chung, thông qua thực tiễn thương mại,

lành mạnh được biểu hiện thông qua những hành vi như bán phá giá, nói xấu đối thủ,


8
quảng cáo gây nhầm lẫn trái với pháp luật, đạo đức và tập quán kinh doanh truyền
thống.
Do được bảo hộ bởi các nguyên tắc về quyền tự do kinh doanh, tự do khế ước
và tự do lập hội và lợi nhuận nên thực trạng của thương trường thường diễn ra theo
hướng không lành mạnh. Sự không lành mạnh của các thủ thuật cạnh tranh đã một
mặt làm hạn chế khả năng cạnh tranh vốn có của các đối thủ cạnh tranh hoặc hạn chế
cũng như triệt tiêu cạnh tranh và như vậy cũng có nghĩa là triệt tiêu động lực phát
triển kinh tế, xâm hại lợi ích của cả cộng đồng và xã hội- những giá trị mà Nhà nước
cần đại diện và bảo vệ. Như vậy, dù tính không lành mạnh của hành vi cạnh tranh
được nhằm vào những đối thủ cụ thể hay nhằm vào lợi ích của trật tự kinh tế thì đều
cần phải được ngăn cản và trừng trị. Đây chính là một trong những tiền đề để pháp
luật cạnh tranh ra đời.

1.1.2 Khái niệm, các hình thức quảng cáo
1.1.2.1 Khái niệm quảng cáo
Quảng cáo với tư cách là một hoạt động kinh tế xã hội được nhìn nhận dưới
nhiều góc độ khác nhau, qua đó thể hiện những sắc thái khác nhau.
- Theo cách tiếp cận về mặt xã hội học, quảng cáo là quá trình truyền tin có
định hướng tới người mua để kích thích họ hành động mua sản phẩm và dịch vụ mà
quảng cáo đã giới thiệu và đề xuất.
- Theo cách tiếp cận của kinh tế học, quảng cáo là cách trình bày cho đông đảo
khách hàng có được những hiểu biết cần thiết về hàng hóa, dịch vụ và uy thế của
doanh nghiệp bằng các phương tiện thông tin đại chúng.
- Theo cách tiếp cận về mặt hành vi, quảng cáo là việc sử dụng phương tiện
thông tin để truyền tin về sản phẩm dịch vụ tới các phần tử trung gian hoặc tới các
khách hàng cuối cùng trong một khoảng thời gian và không gian nhất định.

đề cập đến hoặc đề cập với cách thức giảm nhẹ, sơ sài. Đây là một vấn đề cốt lõi đặt
ra cho pháp luật điều chỉnh hoạt động quảng cáo, nhằm mục đích cân bằng giữa
mong muốn định hướng thông tin của nhà quảng cáo và quyền được thông tin đầy
đủ của người tiếp nhận quảng cáo.
+ Thông tin thể hiện trong nội dung quảng cáo không giống các dạng thông tin
phổ biến thể hiện qua ngôn ngữ lời nói hoặc chữ viết. Thông tin trong quảng cáo là sự
kết hợp của nhiều yếu tố thể hiện khác nhau: ngôn ngữ, hình ảnh, màu sắc, âm thanh,
ánh sáng Tùy thuộc vào từng loại hình quảng cáo mà thành phần và vai trò của các
yếu tố này có thể khác nhau.
+ Đặc điểm cuối cùng và quan trọng nhất thể hiện ở chỗ quảng cáo là thông tin
được trả tiền. Nhà quảng cáo phải trả một khoản chi phí nhất định để thông tin quảng
cáo đến được với đối tượng mình mong muốn. Nhà quảng cáo trả tiền để có thể cung


10
cấp thông tin một cách chọn lọc, không đầy đủ như ý muốn của họ và thông qua đó
đạt được mục đích định hướng hành động cho đối tượng tiếp nhận thông tin. Có thể
định nghĩa quảng cáo là hình thức đặc biệt của thông tin xã hội được trả tiền, nhằm

mục đích thay đổi cơ cấu nhu cầu, mối quan tâm của con người và thúc đẩy họ tới
hành động mà nhà cung cấp quảng cáo mong muốn [13, tr.15].
Đặc điểm trả tiền để cung cấp thông tin nói trên của quảng cáo chính là yếu tố
nền tảng cho tính chất đặc biệt trong thông tin quảng cáo; giúp quảng cáo có được
bản chất thứ hai mà các hình thức thông tin tuyên truyền khác không có, đó là bản
chất thương mại.
- Bản chất thương mại của hoạt động quảng cáo:
Quảng cáo ngày càng gắn liền với thương mại và trở thành một trong những
hoạt động thương mại điển hình. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay còn đang có nhiều
quan điểm khác nhau về bản chất thương mại của quảng cáo trong một số cơ quan
hành pháp và lập pháp, chủ yếu do sự tồn tại của loại hình quảng cáo phi lợi nhuận.

những giúp bù đắp chi phí quảng cáo cũng như các chi phí sản xuất kinh doanh khác
mà còn đem lại lợi nhuận thực tế cho nhà quảng cáo. Ngược lại, khoản chi phí mà các
thương nhân dành cho quảng cáo chính là một nguồn thu đáng kể, quan trọng của các
phương tiện thông tin đại chúng như báo viết, đài phát thanh, đài truyền hìnhDoanh
thu từ quảng cáo thương mại đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại của các công cụ
quảng cáo.
+ Xét về mặt xã hội, từ quảng cáo được xã hội hiện nay gắn liền và gần như
đồng nghĩa với quảng cáo thương mại. Các hình thức quảng cáo chính trị hay quảng
cáo xã hội hiện nay dần được coi là hoạt động tuyên truyền, thông tin đơn thuần
nhằm phục vụ chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước hay các tổ chức khác.
Do những phân tích nói trên, trong khuôn khổ luận văn này, quảng cáo được
hiểu và được dùng trong giới hạn là quảng cáo thương mại, một hành vi thương mại
do thương nhân thực hiện nhằm giới thiệu hoạt động kinh doanh của mình cho khách
hàng.
1.1.2.2 Các hình thức quảng cáo
Trong thực tiễn thương mại đa dạng, hoạt động quảng cáo cũng rất đa dạng với
nhiều loại hình khác nhau. Người ta sử dụng nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại
quảng cáo.
- Căn cứ vào nội dung của quảng cáo, người ta chia thành quảng cáo tổ chức,

quảng cáo sản phẩm và quảng cáo thương hiệu.
+ Quảng cáo tổ chức giới thiệu những thông tin về doanh nghiệp, thương nhân.
Loại hình quảng cáo này không trực tiếp kêu gọi hành động mua hàng hóa, dịch vụ
của đối tượng mà nhằm phổ biến tên tuổi, nâng cao uy tín của tổ chức kinh doanh,
qua đó gián tiếp thúc đẩy công việc kinh doanh của nhà quảng cáo.


12
+ Quảng cáo sản phẩm trực tiếp hướng khách hàng đến hành động mua hàng.
+ Quảng cáo thương hiệu trong một số trường hợp thể hiện đặc tính của quảng


13
tuổi của mình. Với phương tiện này, nội dung quảng cáo sản phẩm rất ít xuất hiện,
chủ yếu là quảng cáo tổ chức và quảng cáo thương hiệu.
+ Quảng cáo trên sản phẩm: là hình thức quảng cáo thể hiện trên bao bì, nhãn
mác và cả bề mặt bên ngoài của sản phẩm, đi kèm hoặc gắn liền với sản phẩm khi bán.

1.1.3 Mối quan hệ giữa hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hoạt động
quảng cáo
ảnh hưởng của quảng cáo đến cơ chế cạnh tranh nói chung của thị trường rất
mạnh mẽ và đa dạng. Xét một cách khái quát, trong nền kinh tế thị trường, quyền
quyết định trong các hoạt động thị trường được phi tập trung hóa và chia cho vô vàn
những người mua, người bán riêng lẻ, khiến cho toàn bộ cơ chế này có thể phản ứng
linh hoạt và nhanh chóng đối với mọi thay đổi, biến động. Quảng cáo với tư cách là
luồng thông tin chủ yếu và mạnh mẽ nhất trên thị trường giúp các chủ thể thị trường,
cả người mua và người bán, thực hiện quyền quyết định của họ. Chính vì vậy, khi
luồng thông tin thị trường này không chính xác, gian dối hoặc sai lệch, nó sẽ làm sai
lệch sự vận hành của cả cơ chế. Do đó, các thiết chế bảo vệ nền kinh tế thị trường một
mặt khuyến khích hoạt động quảng cáo, mặt khác rất chú trọng ngăn ngừa những
quảng cáo chứa đựng thông tin sai lệch nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Có thể thấy rằng, hoạt động quảng cáo tiềm ẩn nguy cơ cạnh tranh không lành
mạnh rất cao. Điều này xuất phát từ những đặc điểm, chức năng của quảng cáo nói
chung, đó là tính chất thông tin một chiều, không đầy đủ, nội dung do nhà quảng cáo
trả tiền để chi phối, mục đích là dẫn dắt tiêu dùng của khách hàng hướng tới sản
phẩm, dịch vụ của mình Về mặt thông tin, quảng cáo không phải là thông tin đơn
thuần như thông tin báo chí, dù có thể sử dụng chung các phương tiện thông tin để
tiếp cận công chúng, do đó không thể điều chỉnh nó bằng các quy định về tính trung
thực, chính xác của thông tin báo chí. Về mặt thương mại, các nội dung đưa ra trong
quảng cáo cũng không thể áp dụng các quy định về nghĩa vụ theo cam kết trong chào
hàng hay hợp đồng để buộc thương nhân trung thành với những thông điệp phát đi từ

tranh và pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh.
- Pháp luật chống hạn chế cạnh tranh hướng tới hành vi của các chủ thể thị
trường nhằm thủ tiêu sức ép cạnh tranh, độc quyền hóa hoặc tạo dựng quyền lực thị
trường một cách bất chính, cũng như lạm dụng quyền lực thị trường để độc quyền
hóa và xâm hại tới lợi ích người tiêu dùng. Với mục đích chung là giảm thiểu, trốn
tránh áp lực do cạnh tranh đem lại, các hành vi hạn chế cạnh tranh có thể xảy ra dưới
hình thức như thỏa thuận, câu kết giữa các đối thủ kinh doanh, mua bán, sáp nhập
giữa các doanh nghiệp hoạt động trong cùng lĩnh vực để tạo vị thế thống lĩnh thị
trường, hoặc các doanh nghiệp hiện đã thống lĩnh thị trường lạm dụng sức mạnh để
duy trì vị thế của mình. Mục đích lớn nhất của pháp luật chống hạn chế cạnh tranh là


15
bảo vệ cơ cấu, tương quan cạnh tranh trên thị trường, khiến cho cạnh tranh có thể chi
phối và đem lại lợi ích cho sự vận hành của cơ chế thị trường.
- Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh: có thể hình dung nếu như hành
vi hạn chế cạnh tranh là những hành vi đẩy lùi cạnh tranh, làm cạnh tranh vận hành
dưới mức bình thường, dẫn đến triệt tiêu cạnh tranh, thì cạnh tranh không lành mạnh
là những hành vi đẩy cạnh tranh lên quá mức, khiến nó vận hành quá nóng, vượt khỏi
các giới hạn có thể chấp nhận được của thị trường và xã hội. Cạnh tranh không lành
mạnh rất đa dạng, được xem xét chung là hành vi của các chủ thể kinh doanh nhằm
mục đích cạnh tranh, được thực hiện bằng các thủ đoạn không trung thực, đi ngược
lại với các quy tắc xử sự chung được xã hội thừa nhận trong kinh doanh, có thể là quy
tắc pháp lý, cũng có thể là quy tắc đạo đức, tập quán, gây thiệt hại cho người tiêu
dùng và các đối thủ cạnh tranh khác. Do hoạt động cạnh tranh rất đa dạng, pháp luật
sẽ chỉ can thiệp khi hành vi cạnh tranh xâm phạm đến quyền lợi của chủ thể khác trên
thị trường.
Các quy định về quảng cáo trong pháp luật cạnh tranh truyền thống được xếp
vào nhóm chế định về cạnh tranh không lành mạnh. Tính chất cạnh tranh không lành
mạnh của các hành vi quảng cáo sai trái cũng đồng nhất với cách nhìn nhận chung về

05/12/1998 sửa đổi, bổ sung Thông tư 37/1995/VHTT-TT (nội dung liên quan đến
quảng cáo thuốc lá);
- Luật Thương mại 1997;
- Nghị định 32/1999/NĐ-CP ngày 05/5/1999 của Chính Phủ về khuyến mại,
quảng cáo thương mại và hội chợ, triển lãm thương mại;
- Thông tư 85/1999/TT-BVHTT ngày 19/6/1999 của Bộ Văn hóa thông tin
hướng dẫn thực hiện một số điểm về hoạt động quảng cáo quy định tại Nghị định
194/CP ngày 31/12/1994, Nghị định 87/CP ngày 12/12/1995, Nghị định
32/1999/ngày 05/5/1999 của Chính Phủ.
- Nghị định 31/2001/NĐ-CP ngày 26/6/2001 của Chính Phủ về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa- thông tin.
Trước khi có Nghị định 194/CP, trên thực tế cũng đã xuất hiện một số văn bản
đề cập đến hoạt động quảng cáo, trong đó có thể kể đến Chỉ thị số 738/VP ngày
19/8/1990 của Bộ Văn hóa - Thông tin- Thể thao và Du lịch về công tác quảng cáo và
Thông tư số 1191/LB ngày 29/6/1991 của liên Bộ ủy ban khoa học Nhà nước và Bộ
Văn hóa- Thông tin - Thể thao và Du lịch quy định về quản lý nhãn và quảng cáo sản
phẩm hàng hóa. Tuy nhiên, Nghị định 194/CP là văn bản cấp Nhà nước đầu tiên quy
định một cách toàn diện về hoạt động quảng cáo. Nghị định 194/CP đưa ra khái niệm
pháp lý về hoạt động quảng cáo bao gồm việc giới thiệu và thông báo rộng rãi về

doanh nghiệp, hàng hóa, dịch vụ, nhãn hiệu hàng hóa, tên gọi, biểu tượng theo nhu
cầu hoạt động của các cơ sở sản xuất- kinh doanh- dịch vụ. Các hoạt động thông tin


17

của các cơ quan Đảng, Nhà nước, các đoàn thể xã hội nhằm tuyên truyền, phổ biến
đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật không thuộc phạm vi điều chỉnh của
Nghị định này. Như vậy, Nghị định 194/CP đã khẳng định bản chất thương mại của
hoạt động quảng cáo, coi quảng cáo trùng với khái niệm quảng cáo thương mại được


18
chế cạnh tranh); các thiết chế nhà nước cần thiết và phương thức hoạt động của chúng
trong quá trình thực thi pháp luật cạnh tranh. Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh
trong pháp luật Việt Nam lần đầu tiên được Luật Cạnh tranh đưa ra tại Khoản 4 Điều
3: Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong

quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh,
gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp
pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng. Hành vi cạnh tranh không lành
mạnh được quy định tại Điều 39 của Luật Cạnh tranh bao gồm: Chỉ dẫn gây nhầm
lẫn; Xâm phạm bí mật kinh doanh; ép buộc trong kinh doanh; Gièm pha doanh
nghiệp khác; Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác; Quảng cáo nhằm
cạnh tranh không lành mạnh; Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh; Phân
biệt đối xử của hiệp hội; Bán hàng đa cấp bất chính
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo được quy định
cụ thể tại Điều 45 của Luật Cạnh tranh.
Nhìn chung, quy định của Luật Cạnh tranh về hành vi cạnh tranh không lành
mạnh trong lĩnh vực quảng cáo là tương đối đầy đủ, cụ thể, phù hợp với pháp luật
quốc tế. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng vào thực tiễn, đã bộc lộ nhiều hạn chế,
thiếu sót nhất định. Luận văn sẽ đi vào nghiên cứu vấn đề này một cách chi tiết ở
Chương sau.

1.2.2 Pháp luật của một số quốc gia trên thế giới
1.2.2.1 Pháp luật của Liên minh Châu Âu
Với lịch sử hoạt động thương mại lâu đời, các quốc gia Châu Âu cũng đã sớm
phát triển các cơ chế điều chỉnh thị trường, trong đó có pháp luật chống cạnh tranh
không lành mạnh. Đối với pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong
lĩnh vực quảng cáo, Hội đồng Châu Âu đã ban hành Chỉ thị 84/450/EEC ngày
10/9/1984 về quảng cáo gây nhầm lẫn [37]. Đến năm 1997, Nghị viện Châu Âu và

quảng cáo; những giải thưởng và danh hiệu của người quảng cáo. Như vậy, pháp luật
Châu Âu xem xét tác động của quảng cáo không lành mạnh trên cả hai phương diện
đối với người tiêu dùng và đối với các đối thủ cạnh tranh.
Ngược lại với quảng cáo gian dối, quảng cáo so sánh được Chỉ thị cho phép ở
một giới hạn nhất định xét trên quan điểm giúp cho các thương nhân và người tiêu
dùng có quyền lựa chọn tốt hơn trên thị trường. Theo định nghĩa tại Điều 2(c), quảng
cáo so sánh là bất cứ quảng cáo nào mà xác định một cách chính xác hoặc ngụ ý về
một đối thủ cạnh tranh hoặc hàng hóa, dịch vụ mà đối thủ cạnh tranh cung ứng.
Quảng cáo so sánh được phép thực hiện một cách hạn chế khi đáp ứng những điều
kiện sau:

- Không phải là sự gây nhầm lẫn (bao gồm quảng cáo gây nhầm lẫn nêu trên
và sự bỏ sót mang tính gây nhầm lẫn);


20

- So sánh những hàng hóa, dịch vụ cùng thỏa mãn những nhu cầu giống nhau
hoặc được dùng cho những mục đích như nhau;
- So sánh một cách khách quan một hoặc nhiều đặc điểm thích hợp, liên
quan, có thể xác minh và tiêu biểu của những hàng hóa, dịch vụ này; có thể bao
gồm cả giá cả;
- Không làm mất uy tín hoặc gièm pha nhãn hiệu, thương hiệu, tên thương
mại, những dấu hiệu phân biệt khác về hàng hóa, dịch vụ, những hoạt động hoặc thực
trạng tài chính của đối thủ cạnh tranh;
- Đối với hàng hóa có sự định rõ về xuất xứ, nguồn gốc thì trong mỗi trường hợp,
quảng cáo so sánh gắn liền những sản phẩm có sự định rõ nguồn gốc giống nhau;
- Không lợi dụng thiếu lành mạnh sự nổi tiếng của thương hiệu, tên thương
mại hoặc các dấu hiệu phân biệt khác của đối thủ cạnh tranh hoặc sự chỉ định về
nguồn gốc của những sản phẩm cạnh tranh;

thi pháp luật cạnh tranh thống nhất trên toàn quốc, đồng thời giúp chính phủ xây
dựng và thực thi chính sách cạnh tranh. Trước đây, trong một thời gian dài khi các
quốc gia Đông á thực thi chính sách phát triển kinh tế dựa vào các tập đoàn lớn, tính
chất độc quyền hóa và sự lũng đoạn của các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị
trường trong nền kinh tế của các quốc gia này rất cao. Pháp luật cạnh tranh và cơ
quan cạnh tranh thời kỳ này có vai trò mờ nhạt. Kể từ sau khủng hoảng kinh tế khu
vực những năm 1997-1998, khi một loạt quốc gia tiến hành cải cách và cơ cấu lại nền
kinh tế, cạnh tranh dần được đề cao và tiếng nói của các ủy ban Thương mại lành
mạnh cho đến nay trở nên có trọng lượng trong hệ thống chính quyền.
Tại Nhật Bản, các quy định của pháp luật cạnh tranh nằm trong nhiều văn bản
khác nhau, như Luật Cấm độc quyền hóa tư nhân và duy trì cạnh tranh lành mạnh,
Luật về Thầu phụ, Luật về Quà thưởng và quảng cáo, Luật về Xóa bỏ và ngăn chặn
việc thông đồng trong đấu thầu, trong đó văn bản đầu tiên thường được gọi ngắn gọn
là Luật Chống độc quyền, được ban hành từ năm 1947 theo mô hình của Mỹ, có vai
trò quan trọng nhất. Trong pháp luật cạnh tranh của Nhật Bản tồn tại khái niệm cạnh
tranh không lành mạnh khác với khái niệm truyền thống, bao gồm các hành vi hạn
chế cạnh tranh ở mức ít nghiêm trọng, chủ yếu liên quan đến lạm dụng vị trí thống
lĩnh thị trường [40]. Quy định riêng về quảng cáo nằm tại Điều 4 của Luật về Quà
thưởng và quảng cáo, theo đó hành vi giới thiệu về chất lượng và các điều kiện liên
quan khác của hàng hóa, dịch vụ; giá cả và các điều kiện liên quan khác của giao dịch
tốt hơn thực tế hay tốt hơn của các đối thủ cạnh tranh khác trái với thực tế hoặc gây
nhầm lẫn cho khách hàng nói chung, đều bị coi là lôi kéo khách hàng bất chính và
cản trở cạnh tranh lành mạnh. Như vậy, điều khoản này không có sự phân biệt cụ thể
giữa quảng cáo gây nhầm lẫn và quảng cáo so sánh, và áp dụng cùng một phương


22
thức điều chỉnh. ủy ban Thương mại lành mạnh Nhật Bản khi phát hiện vi phạm sẽ
mở phiên điều trần và ra quyết định đình chỉ và chấm dứt hành vi vi phạm [39].
Tại Hàn Quốc, các hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status