Giáo trình kinh tế vĩ mô - Pdf 51

GIÁO TRÌNH
KINH TẾ VĨ MÔ
KINH TẾ HỌC VĨ MÔ
CHƯƠNG 1
ĐẠI CƯƠNG VỀ KINH TẾ HỌC VĨ MÔ VÀ SỰ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ KINH TẾ
I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1. Kinh tế
Ngày nay, từ ktế bao hàm nội dung phong phú hơn nhiều. Đó là:
- Sự làm ra của cải vật chất để thoả mãn nhu cầu.
- Sự hoàn thiện và tối ưu hoá việc tổ chức sử dụng các nguồn lực, tổ
chức lđộng xhội một cách khoa học, có hiệu quả.
- Sự cân đối tích lũy và tiêu dùng để phát triển và đề phòng rủi ro.
Kinh tế là tổng thể một bộ phận các yếu tố sản xuất (vốn, đất đai, kỹ thuật,
thông tin,…) và các quan hệ con người với con người trong quá trình sản xuất trực
tiếp, lưu thông phân phối, trao đổi tiêu dùng của cải vật chất trong một giai đoạn
nhất định của lịch sử, mà mấu chốt của vấn đề là sở hữu và lợi ích”.
2. Nền kinh tế quốc dân
Theo cách tiếp cận hệ thống nền kinh tế được xem như là một hệ thống hay
hệ thống kinh tế vĩ mô bao gồm ba yếu tố: Đầu vào, đầu ra và hộp đen kinh tế vĩ
mô.
- Các yếu tố đầu vào gồm:
+ Những tác động từ bên ngoài, bao gồm chủ yếu các biến số phi kinh tế:
thời tiết, dân số, chiến tranh,...
+ Những tác động từ chính sách, bao gồm các công cụ của Nhà nước nhằm
điều chỉnh hộp đen kinh tế vĩ mô, hướng tới các mục tiêu đã định trước.
- Các yếu tố đầu ra bao gồm: Sản lượng, việc làm, giá cả, xuất- nhập khẩu.
Đó là các kết quả biến do hoạt động của hộp đen kinh tế vĩ mô tạo ra.
- Trong đó yếu tố trung tâm của hệ thống là hộp đen kinh tế vĩ mô, hay còn
gọi là nền kinh tế vĩ mô (Macroeconomy) hoặc là nền kinh tế quốc dân. Hai lực
lượng quyết định sự hoạt động của hộp đen kinh tế vĩ mô là tổng cung và tổng cầu.

- Các thành tựu và tiến bộ về khoa học công nghệ.
d. Về không gian kinh te
Không gian kinh tế được hiểu như là một thực thể kinh tế - xã hội được xác
định bởi tính cân đối, tính mở và tính phát triển của nó. Gồm:
- Phương thức sx (với tư cách là mặt bằng cơ sở, là nền tảng quy định sự
phát triển chung của cả nền kinh tế).
Phương thức sản xuất xã hội là sự thống nhất và tác động qua lại giữa lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xã hội hợp thành.
Để xã hội phát triển thì quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất.
- Cơ cấu kinh tế (mối quan hệ về số lượng và chất lượng giữa các bộ phận,
thành phần tham gia vào sự phân công lao động xã hội và cấu tạo nên nền kinh tế
như tỉ trọng của các khu vực kinh tế, số lượng quy mô các doanh nghiệp trong các
ngành nghề,…).
- Các quá trình kinh tế (sự vận động, tương tác, lưu chuyển, trao đổi các kết
quả kinh tế trong cơ cấu kinh tế và bị chi phối bởi các qui luật kinh tế xã hội như
đầu tư, sản xuất, lưu thông phân phối, tích lũy, tiêu dùng).
- Hệ thống thông tin và luật pháp.
e. Về phương thức quan hệ
Là phương thức thị trường, với nội dung căn bản là mua và bán (quan hệ
cung cầu).
3. Nền kinh tế thị trường
3.1. Thị trường
Đây là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi hàng hóa, trao đổi thông tin và lựa
chọn chuyển dịch đầu tư.
* Vai trò của thị trường:
- Thông tin về cung - cầu, tạo điều kiện để mối quan hệ cung cầu về hàng
hóa được cân đối cả về lượng và chất.
- Tạo điều kiện cho việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ diễn ra thuận lợi.
- Thúc đẩy sự chuyên môn hóa và phân công lao động xã hội: thông qua thị

người nghèo hay không, nên danh nhiều thu nhập cho quan chức hay bác sỹ và
công nhân,…
3.4.1. Nền kinh tế thị trường thuần túy (Market Economy)
Đó là nền kinh tế theo đuổi các mục đích kinh doanh thuần túy.
Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường thuần túy cũng có rất nhiều nhược điểm:
như độc quyền, cá lớn nuốt cá bé, lạm phát và thất nghiệp, dịch vụ công và các lợi
ích công cộng bị bỏ rơi, luôn ở trong tình trạng khan hiếm hoặc thiếu hụt, cuối
cùng là khủng hoảng và tổng khủng hoảng của cả nền kinh tế.
3.4.2. Nền kinh tế chỉ huy (command Economy)
Ngược lại kinh tế thị trường, trong nền kinh tế chỉ huy CP là người quyết
định toàn bộ, điển hình là nền kinh tế Liên Xô cũ. Việt Nam trước đây cũng định
hướng theo mô hình kinh tế chỉ huy. Trong nền kinh tế này, ủy ban kế hoạch nhà
nước là trung tâm điều khiển mọi hoạt động kinh tế đi theo một kế hoạch thống
nhất. Mọi người chỉ cần thực hiện nhiệm vụ của mình theo sự phân công trực tiếp
hay gián tiếp của CP.
Ý tưởng này nảy sinh từ hai nguồn:
- Ước vọng xây dựng một xã hội không có người bóc lột người, một xã hội,
trong đó, “ Một người vì tất cả, tất cả vì một người”.
- Ước vọng thoát khỏi những cuộc khủng hoảng có tính chu kỳ không thể
tránh nổi của nền kinh tế thị trường thuần túy. Điển hình là J. Keynes (1884 -
1946).
Tuy nhiên, nền kinh tế này cũng có rất nhiều nhược điểm:
- Những căn bệnh của nền kinh tế thị trường nêu trên có thể xuất hiện cả lúc
tăng trưởng lẫn lúc suy thoái như khủng hoảng, thất nghiệp, lạm phát,…
- Mục đích tăng GNP không phải là mục đích cuối cùng của sự nghiệp kinh
tế toàn xã hội. Mà mục đích còn là mối quan hệ về lợi ích giữa các tầng lớp nhân
dân trong một chỉnh thể kinh tế - chính trị - xã hội nhất định.
- Trường phái Keynes mới chỉ xem xét phản ứng động thái của doanh
nghiệp, dân chúng trong vấn đề kinh tế ở khía cạnh của giá cả, tiền công, lạm phát,
thất nghiệp. Tức chưa chú trọng đến mặt cung của nền kinh tế, nên chưa xét được

Bảng 1.1: Những khả năng thay thế khác nhau
Phương án sản xuất
Vải Lúa
Lao động Sản lượng Lao động Sản lượng
A 0 0 5 300
B 1 5 4 280
C 2 9 3 240
D 3 12 2 180
E 4 14 1 100
F 5 15 0 0
Từ đó ta xây dựng được đường PPF (Production Posibility Frontier)
Đường PPF có dạng cong lồi ra ngoài so với gốc tọa độ. Hình dáng do quy
luật giảm dần quyết định.
Nếu như năng suất biên tăng dần thì đường PPF cong lõm vào gốc toạ độ.
Nếu như năng suất biên không đổi thì đường PPF là đường thẳng.
4.3. Chi phí cơ hội
Do các nguồn tài nguyên là hạn hẹp, nên xã hội hoặc từng con người luôn
phải lựa chọn xem sẽ tiến hành những hoạt động cụ thể gì trong số những hoạt
Lúa
15
280
H
A
B
C
5
9
12
100
180

KINH TẾ HỌC VĨ MÔ VÀ SỰ QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ
1. Khái niệm và hệ thống các khoa học kinh tế
1.1. Khái niệm kinh tế học
Nếu tiếp cận một cách tổng quát, thì có hai khái niệm kinh tế học vĩ mô
tương đối đầy đủ sau:
“Kinh tế học là tổng thể các khoa học về cách tổ chức và xử lý các quan hệ
giữa người và người trong hoạt động kinh tế để sử dụng một cách tối ưu các
nguồn lực của xã hội, làm thỏa mãn tối đa những nhu cầu hiện tại và tương lai
của con người”
Hay “Kinh tế học (economics) là môn học nghiên cứu xem xã hội sử dụng
như thế nào nguồn tài nguyên khan hiếm để sản xuất ra những hàng hoá cần
thiết và phân phối cho các thành viên của xã hội".
Tùy theo cách thức sử dụng mà kinh tế học được chia thành: Kinh tế học
thực chứng va kinh tế học chuẩn tắc
* Kinh tế học thực chứng (Positive Economics)
Nhằm mô tả và giải thích những hiện tượng thực tế xảy ra trong nền kinh tế.
Nó trả lời câu hỏi: Thế nào? Tại sao?
Ví dụ: Tỷ lệ lạm phát và thất nghiệp năm 2007 là bao nhiêu? Điều gì làm
cho thất nghiệp cao như vậy?
Vì sao giá thịt cá giảm trong khi giá thịt gà tăng.
Mục đích: Giải thích lý do vì sao nền kinh tế hoạt động như vậy? Dự đoán
phản ứng? Tác động thúc đẩy có lợi?
* Kinh tế học chuẩn tắc (Normative Economics)
Nhằm đưa ra quan điểm đánh giá hoặc lựa chọn cách thức giải quyết các vấn
đề kinh tế trong thực tế. Nó trả lời câu hỏi: Tốt hay xấu? Cần hay không? Nên thế
này hay thế kia,....
Ví dụ: Chính phủ tăng kinh phí quốc phòng thì tốt hay xấu? Cần trả lương
cho kỹ sư bằng bao nhiêu công nhân,...
Trong kinh tế học thực chứng, bạn hy vọng sẽ hành động như những nhà
khoa học khách quan, tương tự như những hành động khoa học khác. Còn trong

Kinh tế học áp dụng các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp quan sát (vì khi nghiên cứu cần phải thu thập số liệu).
- Phương pháp phân tích.
- Phương pháp trừu tượng hóa.
- Phương pháp thống kê.
2. Kinh tế học vĩ mô và đặc trưng của nó
2.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của kinh tế học vĩ mô
- Chỉ nghiên cứu mặt quan hệ giữa người và người trong quá trình sản xuất.
Mục đích của mọi sự nghiên cứu nền SX xã hội đều nhằm tìm ra cách tốt
nhất để SX được nhiều của cải vật chất nhất, để SX xã hội có hiệu quả nhất. Bao
gồm 2 cách chính sau:
+ Cách tổ chức con người thành lực lượng tối ưu để tác động có hiệu lực
nhất vào đối tượng sản xuất là thế giới tự nhiên, phân công, hiệp tác,…
+ Cách sử dụng lực tự nhiên để tác động vào tự nhiên một cách có hiệu quả
nhất: sử dụng sức gió, nước,… vào thay sức người trong việc chế ngự thiên nhiên.
- Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu mặt tổ chức con người thành lực lượng tối
ưu để tác động vào giới tự nhiên nhưng chỉ nghiên cứu quan hệ này ở tầm vĩ mô.
- Từ giác độ đó, Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu các vấn đề cơ bản sau và
nghiên cứu mối quan hệ giữa các vấn đề đó:
+ Nghiên cứu cấu trúc tổng thể nền kinh tế, của lực lượng kinh tế toàn xã hội
có liên quan đến việc tạo ra kết quả cuối cùng mà xã hội mong muốn.
+ Nghiên cứu mục tiêu vĩ mô của hoạt động kinh tế (được hiểu là mục tiêu
toàn diện, toàn dân, toàn xã hội của hoạt động kinh tế).
+ Nghiên cứu những quy luật vận động của nền kinh tế quốc dân và kết cục
của các vận động đó như quy luật cung - cầu lao động, tiền tệ, về tích lũy hàng hóa
và dịch vụ,…
- Trên cơ sở các quy luật đó, kinh tế học vĩ mô tìm ra mối quan hệ cân đối ở
tầm vĩ mô cần bảo đảm cho sự vận động kinh tế đạt được các mục tiêu đã nêu.
- Đi sâu hơn nữa, có thể thấy, kinh tế học vĩ mô:
Chỉ ra đích của sự hoạt động của toàn bộ nền kinh tế và con đường cho toàn

trên một thông số và yếu tố đầu vào.
- Kinh tế học vĩ mô có tính tương đối
Theo quan niệm tương đối của kinh tế học vĩ mô, mọi quy luật, xu hướng
của các động thái kinh tế chỉ mang tính phổ biến mà thôi. Bởi vì, không có quy luật
nào là triệt để, không có ngoại lệ. Và kinh tế học nghiên cứu dựa trên quy luật số
đông.
3. Kinh tế học vĩ mô và sự quản lý nhà nước về kinh te
3.1. Vấn đề quản lí nhà nước về kinh tế
* Ưu, nhược điểm của kinh tế thị trường
Nền kinh tế thị trường có nhiều ưu điểm mà nền kinh tế chỉ huy không thể
đạt được như:
- Thị trường giúp cho từng DN sử dụng nguồn tài nguyên một cách có hiệu
quả, bởi vì mọi doanh nghiệp luôn tích cực tìm cách hạ thấp chi phí để gia tăng lợi
nhuận.
- Nhờ yếu tố cạnh tranh, họ tích cực cải tiến, đổi mới, nâng cao chất lượng
sản phẩm.
- Ngoài ra, thị trường cũng giúp cho nền kinh tế SX sản phẩm với số lượng
và cơ cấu phù hợp với yêu cầu của xã hội.
Rõ ràng cơ chế thị trường không phải là một cơ chế hỗn đôn. Thế nhưng thị
trường cũng không phải là một cơ chế hoàn hảo. Bên cạnh những ưu điểm trên, nó
có nhiều nhược điểm trong việc giải quyết 3 vấn đề cơ bản. Có thể kể đến những
nhược điểm chính sau:
- Tạo ra khoảng cách giàu nghèo. Tình trạng đó gọi là sự bất bình đẳng trong
phân phối thu nhập.
- Tự động tạo nên các chu kỳ kinh doanh (business cycle), nếu có các yếu tố
làm hạn chế hiệu quả sẽ làm cho nền kinh tế tăng trưởng chậm.
- Có nhiều tác động ngoại vi (externalities) có hại, như việc thải khí độc,
tiếng ồn, nước nhiễm bẩn làm ô nhiễm môi trường; việc khai thác bừa bãi nguồn
tài nguyên,…
- Thiếu vốn đầu tư cho hàng công cộng (public). Phần lớn các loại hàng hoá

1. Tiếp cận theo yếu tố cấu thành hoạt động kinh tế
Tiền tệ
Chi tiêu
và thuế
Các lực lượng
khác
Lao động
Vốn
Các yếu tố
đầu vào
Tổng
cầu
Tổng
cung
Sản lượng
GNP thực
Công ăn
việc làm và thất
nghiệp
Giá cả và
lạm phát
Tài nguyên
Hộp en kinh tđ ế vĩ mô
Các yếu tố
đầu ra
2. Tiếp cận theo các loại chủ thể hoạt động kinh tế
2.1. Khái niệm
Chủ thể hoạt động kinh tế chính là người mua và bán trên thị trường.
2.2. Các chủ thể kinh tế thị trường
Để phân tích một cách cụ thể hơn vai trò của các thể chế của hệ thống kinh tế

là các thành tựu tiến bộ chung khác của toàn xã hội, tạo nên một xã hội, được gọi
là xã hội phát triển.
Sự tăng trưởng kinh tế được đo bằng các chỉ tiêu sau đây:
Tổng sản phẩm quốc dân (GNP - Gross National Product)
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP - Gross Domestic Product)
Sản phẩm quốc dân ròng (NNP - Net National Product)
Sản phẩm quốc nội ròng ( NDP - Net Domestic Product)
Thu nhập quốc dân ( Y - National Income)
Thu nhập khả dụng (YD - Dispossible Income)
Chúng được chia thành hai nhóm:
Nhóm 1: Theo lãnh thổ là GDP - NDP.
Nhóm 2: Theo quyền sở hữu là GNP - NNP - Y - YD.
1.1. Tổng sản phẩm quốc dân (GNP)
1.1.1. Khái niệm
"GNP là chỉ tiêu phản ánh giá trị bằng tiền của toàn bộ sản phẩm cuối
cùng do công dân một nước SX ra trong khoảng thời gian nhất định, thường là 1
năm".
Sản phẩm trung gian là những loại sản phẩm được dùng làm đầu vào cho sản
phẩm khác và chỉ sử dụng một lần trong quá trình sản xuất.
Sản phẩm cuối cùng là những loại sản phẩm còn lại ngoài sản phẩm trung
gian. Xét về công dụng, những sản phẩm này dùng để đáp ứng nhu cầu cuối cùng
của nền kinh tế, đó là nhu cầu tiêu dùng, đầu tư và xuất khẩu.
Mỗi loại sản phẩm đều có thể đóng vai trò là sản phẩm trung gian hoặc sản
phẩm cuối cùng tuỳ theo mục đích sử dụng của con người. Chẳng hạn, khi dùng cá
tươi, điện,… để làm thành cá đóng hộp thì phần cá, và điện đó là sản phẩm trung
gian. Nhưng nếu cá tươi và điện được dùng để nấu ăn hoặc để xuất khẩu thì phần
cá và điện này lại là sản phẩm cuối cùng của nền kinh tế.
Giá trị sản phẩm cuối cùng:Tổng giá trị sản phẩm hàng hóa và dịch vụ sản
xuất ra được gọi là tổng xuất lượng (Gross Output)
Do giá cả là một thước đo co dãn. Lạm phát thường xuyên đưa mức giá

Lãnh thổ một nước: GDP thể hiện mức SX đạt được do tất cả đơn vị
thường trú ở một nước không phân biệt quốc tịch.
1.2.2. Phương pháp tính GDP
Mục đích: Tìm cách tính GDP theo mức giá của từng năm, và trong
mức giá đó có cả thuế gián thu mà các doanh nghiệp đã cộng và giá
bán sản phẩm.
a. Các khái niệm cơ bản
- Khấu hao (De): Là khoản tiền dùng để bù đắp giá trị hao mòn của TSCĐ.
TSCĐ : Là những loại tài sản có giá trị lớn (>10 triệu VND), được sử dụng
trong thời gian dài (tức sử dụng được nhiều lần).
D
=
GNP
n
GNP
r
x100
Hay GNPr
=
GNPn
D
- Đầu tư (I) : Là lượng tiền mua sắm tư bản mới, gồm: đầu tư cố định vào
kinh doanh, đầu tư cố định vào nhà ở và đầu tư vào hàng tồn kho (như máy móc,
thiết bị, nhà xưởng,… cộng với chênh lệch tồn kho):
Chênh lệch tồn kho = tồn kho cuối năm - tồn kho đầu năm
(Hàng tồn kho hay hàng dự trữ là những hàng hóa hiện được giữ lại để sản
xuất hay tiêu thụ sau này)
- Tiêu dùng(C): Là lượng tiền mà hộ gia đình dùng để mua hàng tiêu dùng
(quần áo, thực phẩm,…).
C được chia thành 3 bộ phận chủ yếu: hàng mau hỏng (như quần áo, thực

- Tiền lương(W): Là lượng thu nhập nhận được do cung cấp sức lao động.
- Tiền thuê (r): Là khoản thu nhập có được do cho thuê đất đai nhà cửa và
các loại tài sản khác.
Thực chất gồm hai phần: Khấu hao tài sản cho thue và phần lợi tức của chủ
sở hữu tài sản. Tuy nhiên, người ta gộp cả lại vì tách hai phần này rất phức tạp.
- Tiền lãi (i): Là thu nhập nhận được do cho vay tính theo một mức lãi suất
nhất định.
- Lợi nhuận (P -
Π
): Là khoản thu nhập còn lại sau khi trừ đi chi phí.
b. Dòng chu chuyển kinh tế
Trong đó:
* Dòng giá trị hàng hóa và dịch vụ
Giá trị gia tăng (VA): Là lượng gia tăng trong giá trị của hàng hoá do kết
quả của quá trình sản xuất.
VA = Giá trị sản lượng của DN - Giá trị sản phẩm trung gian
VA bao gồm: Khấu hao (De), tiền lương (W), tiền thuê (r), tiền lãi (i), thuế
gián thu (Te) và lợi nhuận ( ∏).
* Dòng chi tiêu
- Chi mua hàng hóa và dịch vụ của hộ gia đình(C), trả cho các doanh nghiệp.
- Chi đầu tư của Doanh nghiệp (I): gồm khấu hao(De), đầu tư ròng (In).
- Chi mua của Chính phủ (G): gồm chi cho tiêu dùng(Cg) và chi cho đầu tư
(Ig), không bao gồm các khoản chi chuyển nhượng (TR).
- Chi tiêu của nước ngoài mua hàng hóa sản xuất trong nước (X); chi phí
của người trong nước mua hàng hóa của người nước ngoài (IM).
Tổng chi tiêu = C + I + G + X- IM
* Dòng thu nhập
Thu nhập từ dịch vụ và yếu tố sản xuất
cung hàng hóa, dịch vụ
Cung dịch vụ, yếu tố sản xuất

- Một số khó khăn khi tính GDP ở Việt Nam.
+ Một là, hiện tượng trốn thuế - khai báo giảm về kết quả sản xuất.
+ Hai là, Doanh nghiệp quá nhỏ không có hệ thống sổ sách.
+ Ba là, phải ước tính sản phẩm tự cung cấp nên rất khó chính xác.
+ Bốn là, phương pháp thu thập số liệu không tốt và cán bộ thống kê không
làm hết trách nhiệm,...
d. Ý nghĩa của các chỉ tiêu GDP , GNP, mối quan hệ giữa chúng và cách tính
GNP từ GDP
* Ý nghĩa
Thu nhập của CP
Doanh nghiệp
Doanh thu
Chính phủ
Nộp thuế
gián thu(Te)
Thu nhập DN
Chi trả cho việc sử dụng
nguồn lực phục vụ SX
Hộ gia đình
Thu nhập cho hộ

TSCĐ
Chi bù đắp hao mòn
tài sản(De)
Được giữ lại DN
GDP nói lên hiện thực kinh tế trên lãnh thổ quốc gia, chưa nói đến chủ thể
của hiện thực đó. Qua GDP người ta biết được trên một quốc gia nào đó, thực lực
kinh tế có được bao nhiêu.
Trái lại, GNP nói lên thực thu kinh tế của một nước, khả năng thật về kinh tế
của công dân nước đó, bởi vì GDP không bao gồm kết quả của hoạt động của công

- Thu nhập quốc dân(Y):
Phản ánh mức thu nhập mà công dân một nước tạo ra, không kể phần tham
gia của Chính phủ (chủ yếu dưới dạng thuế gián thu, chiếm khoảng 10%NNP,
phần này tạo ra sự chênh lệch giữa giá người tiêu dùng trả cho hàng hóa và giá mà
doanh nghiệp nhận được. Vì DN không bao giờ nhận được phần chênh lệch về
thuế này, nên nó không phải là thu nhập của DN, vì vậy sau khi đã trừ T
e
khỏi
NNP ta thu được Y)
Y = NNP
mp
- T
e
= GNP - De - Te
Một số nhà kinh tế cho rằng thuế gián thu (Te) chỉ có tác dụng làm tăng giá
sản phẩm. Có khi thu nhập tạo ra là không đổi nhưng do CP tăng thuế làm cho giá
TT tăng và do đó làm tăng NNP theo giá thị trường. Vì vậy, chỉ tiêu NNP theo giá
TT không phản ánh đúng đắn thu nhập do công dân một nước tạo ra. Từ đó hình
thành chỉ tiêu “Thu nhập quốc dân Y”. Y cho biết mọi người trong nền KTQD
kiếm được bao nhiêu thu nhập.
1.5. Thu nhập khả dụng (YD)
Là thu nhập cuối cùng mà dân chúng có toàn quyền sử dụng theo ý thích cá
nhân.
YD = Y - Td + TR
1.6. Tốc độ tăng trưởng cao và ổn định
Tốc độ tăng trưởng là % tăng GDP hoặc GNP hàng năm. Tốc độ đó được
đánh giá trong sự so sánh với:
- Tiềm năng kinh tế của đất nước.
- Tốc độ tăng dân số: Nếu tiềm năng lớn, tốc độ tăng dân số cao thì tốc độ
tăng trưởng phải cao.

cần sử dụng.
- Sự chênh lệch về hệ số sử dụng quỹ thời gian lao động của các loại lao
động xã hội không lớn.
- Tạo được điều kiện làm việc tốt.
3.2. Thực hiện được sự phân phối công bằng
Phân phối công bằng thể hiện ở các mặt sau đây
- Phân phối lợi nhuận công ty giữa các cổ đông
- Phân phối thu nhập tập thể giữa các thành viên cùng lao động.
- Phân phối thu nhập giữa chủ và thợ trong các quan hệ lao động làm thuê.
Chỉ tiêu năm cuối
Chỉ tiêu ở năm đầu
1
x100
V =
(
n
-
1
)
- Phân phối lợi ích giữa người sử dụng công sản với chủ nhân công sản đó là
toàn xã hội, nhà nước là đại diện.
- Phân phối cơ hội làm kinh tế giữa mọi thành viên trong xã hội.
3.3. Góp phần đáng kể cho phúc lợi xã hội
4. Giải quyết tốt vấn đề giá cả
- Sự hợp lý về tỷ giá giữa các loại sản phẩm, dịch vụ.
- Sự bình ổn vật giá
- Sự ổn định tỷ giá hối đoái.
- Cân bằng cán cân thanh toán quốc tế.
III. SỰ CẦN THIẾT CỦA NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC BẢO ĐẢM CÁC
MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN

Hay sản lượng tiềm năng là mức sản lượng mà nền kinh tế sẽ sản xuất
được nếu tất cả các yếu tố sản xuất được sử dụng hết.
Thất nghiệp tự nhiên (Natural Unemployment) bao gồm thất nghiệp cơ học và
thất nghiệp cơ cấu.
2. Các loại tổng cung
2.1. Xét theo tính hiện thực
- Tổng cung khả năng (tiềm năng): đó là khả năng cung ứng tối đa của nền
sản xuất xã hội.
- Tổng cung thực tế: Là cung đã hoặc sẽ xuất hiện do nhu cầu thực tế của thị
trường.
Thông thường AS
r
thường nhỏ hơn AS
p
.
2.2. Xét theo tính sẵn sàng của tổng cung
- Tổng cung trong ngắn hạn (AS
SR
): Đó là toàn bộ công suất thiết kế của nền
sản xuất xã hội.
- Tổng cung dài hạn (AS
LR
- LAS): đó là cung chưa sẵn sàng, nhiều yếu tố
cấu thành cung chỉ mới ở dạng các yếu tố riêng rẽ.
Tổng cung dài hạn là đường thẳng song song với trục tung và cắt trục hoành
ở mức sản lượng tiềm năng. (trên đồ thị là đường LAS).
Về mặt dài hạn, chi phí đầu vào đã điều chỉnh thì các doanh nghiệp không
còn động lực để tăng sản lượng. Giá cả sẽ tăng lên nhanh chóng để đáp ứng với sự
thay đổi của tổng cầu. Hay nói cách khác, trong thời gian dài, mức sản lượng bị


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status