Sáng kiến kinh nghiệm một số biện pháp phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa cho học sinh lớp 5 - Pdf 51

Đề tài:
Một số biện pháp phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa cho học sinh lớp 5.
======
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài.
1.1, Cơ sở lí luận:
Đặc điểm tâm lí tiêu biểu của trẻ tiểu học là chóng nhớ, chóng thuộc nhưng
nhanh quên; các em thường dễ dàng ghi nhớ những kiến thức dạng hình ảnh và cụ
thể. Những kiến thức trừu tượng phức tạp thường làm cho các em dễ nhầm lẫn hay
mắc rối; đặc biệt là những kiến thức về ngữ pháp – từ ngữ trong chương trình
Tiếng Việt lớp 5.
Một trong những mục tiêu cơ bản của dạy Tiếng Việt là dạy học thông qua giao
tiếp và phục vụ giao tiếp. Các hoạt động giao tiếp, đặc biệt giao tiếp bằng ngôn
ngữ là công cụ cơ bản để học sinh tiếp cận, rèn luyện và phát triển khả năng sử
dụng từ Tiếng Việt. Do đó, việc đưa học sinh vào các hoạt động học tập trong giờ
Tiếng Việt cần được giáo viên đặc biệt quan tâm, chú ý. Ngôn ngữ Tiếng Việt có
nhiều khía cạnh khó, một trong những nội dung khó đó là phần nghĩa của từ.
Trong chương trình Tiếng Việt lớp 5, phân môn luyện từ và câu được phân bố
đều mỗi tuần 2 tiết. Trong đó, các bài về từ ngữ được học ngay từ tuần thứ nhất.
Đây là những kiến thức về ngữ nghĩa được sắp xếp từ đơn giản đến phức tạp. Mặc
dù độ khó của những kiến thức này chưa yêu cầu phải huy động quá trình phân tích
tư duy nhưng rất cần sự nhạy bén so sánh và phân biệt. Song, việc so sánh và phân
biệt hai mảng kiến thức từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là vấn đề không mấy dễ dàng
đối với hầu hết học sinh lớp 5, vì đây là các mảng kiến thức có nhiều điểm tương
đồng và không rõ ràng về ranh giới. Vậy mục tiêu dạy học dạy học hai mảng kiến
thức này là học sinh phân biệt được từ đồng âm và từ nhiều nghĩa. Để phân biệt
được hai loại từ này học sinh cần có căn cứ khoa học.
2.1, Cơ sở thực tiễn:
Từ ngữ là mảng kiến thức thiết thực đối với học sinh tiểu học. Từ là đơn vị để
tạo câu, là nền tảng của mỗi văn bản. Để hiểu được, viết được một câu văn, một
đoạn văn, học sinh cần có một khả năng sử dụng từ ngữ tương đối vững chắc; điểu

đồng âm và từ nhiều nghĩa cho học sinh lớp5”
Đây là một vấn đề đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu, song chỉ đề cập ở
mức độ hàn lâm chuyên sâu vào phương pháp mà không chú trọng đến đối tượng
học sinh. Vấn đề hết sức nhạy cảm, bức thiết, phù hợp với xu thế hiện tại của giáo
dục hiện nay là dạy học gắn với đối tượng học sinh. Nếu đề tài này được nghiên
cứu một cách nghiêm túc và ứng dụng kịp thời, thì có thể giải quyết cơ bản tình
trạng khó phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa, đồng thời khả năng sử dụng
ngôn ngữ kém chính xác của một bộ phận không nhỏ học sinh tiểu học hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu.
Nhằm nâng cao chất lượng dạy học từ ngữ ở lớp 5, phát triển kĩ năng sử dụng
từ ngữ phù hợp và linh hoạt hơn. Hình thành ý thức sử dụng ngôn ngữ chính xác,
chặt chẽ giàu giá trị biểu cảm và có trách nhiệm với lời nói của mình. Qua đó, học
sinh có ý thức giữ gìn trong sáng tiếng Việt.
Cung cấp con đường, cách thức học tập giúp học sinh có công cụ tìm kiếm và
sử dụng kiến thức là mục tiêu cao nhất của quá trình dạy học. Có được các giải
pháp sẽ tạo sự thuận lợi cho người giáo viên truyền thụ kiến thức về từ đồng âm và
Trang 2

2


từ nhiều nghĩa; giải quyết phần nào những khó khăn mắc phải trong quá trình dạy
học mảng kiến thức này. Vì vậy, việc đưa ra hệ thống các giải pháp phân biệt từ
đồng âm và từ nhiều nghĩa phù hợp với đối tượng học sinh là việc làm tối ưu cần
thiết, giúp người giáo viên nắm được bản chất vấn đề giúp HS cũng nắm được bản
chất ấy nâng cao được chất lượng học tập.
3. Phương pháp tiến hành nghiên cứu
Đề tài kết hợp nhiều phương pháp:
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu.

Trang 3

3


Trong quá trình dạy học các bài học này, mỗi giáo viên đều làm đúng vai trò
hướng dẫn, tổ chức cho học sinh. Tuy nhiên, do thời lượng 1 tiết học có hạn nên
giáo viên chưa lồng ghép, liên hệ, phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa trong
các bài học. Do đó, sau các bài học đó học sinh chỉ nắm được kiến thức về nội
dung học một cách tách bạch. Đôi khi giảng dạy nội dung này, giáo viên còn khó
khăn khi lấy thêm một số ví dụ cụ thể ngoài sách giáo khoa để minh hoạ phân biệt
từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.
2. Về học sinh.
Học sinh tiểu học là đối tượng tiếp xúc với hoạt động học tập chưa lâu, kinh
nghiệm sống còn ít, điều này cho thấy vốn ngôn ngữ của các em chưa phong phú.
Mặt khác, học sinh tiểu học ở vùng nông thôn được tiếp xúc với các phương tiện
thông tin chưa hiện đại, các đối tượng giao tiếp thường có trình độ ở mức thấp
khiến cho môi trường học tập của các em thu hẹp trong phạm vi nhà trường. Thời
gian học tập ở trường không nhiều so với thời gian lao động và sinh hoạt ở nhà. Đó
là những lí do khiến cho vốn ngôn ngữ của các em càng nghèo nàn, không đáp ứng
kịp với yêu cầu chương trình sách giáo khoa đã xây dựng. Qua tiếp xúc với các em
tôi nhận thấy hầu hết các em có thể hiểu vấn đề, nhưng khi trình bày một vấn đề lại
thiếu ngôn ngữ nên thường ấp úng hoặc không nói được theo ý muốn. Khi đưa ra
một từ mới, đặc biệt là từ đồng âm và từ nhiều nghĩa thì các em không hiểu nghĩa
hoặc giải nghĩa theo cách nêu thành ví dụ cụ thể, mà không thể nói chính xác được
nghĩa của từ đó.
Bên cạnh việc nghèo nàn về ngôn ngữ, học sinh tiểu học vùng nông thôn rất
thiếu khả năng khái quát nghĩa từ. Việc sắp xếp các nhóm từ có cùng trường nghĩa
là việc làm khó khăn đối với các em. Các bài tập kiểu này các em chỉ có thể làm
được sau rất nhiều gợi ý. Hầu hết học sinh lớp 5 khi học các tiết luyện từ và câu về

nhau: “bàn” (1) là danh từ chỉ một đồ vật có mặt phẳng, chân đứng để đồ đạc hoặc
làm việc, “bàn” (2) là động từ chỉ sự trao đổi ý kiến.
Ví dụ 2: Từ nhiều nghĩa: “bàn”(1) trong “cái bàn” và “bàn”(2) trong “bàn
phím”. Hai từ “bàn” này, về hình thức ngữ âm hoàn toàn giống nhau còn nghĩa thì
“bàn” (1) là danh từ chỉ một đồ vật có mặt phẳng, có chân dùng để đi kèm với ghế
làm đồ nội thất; “bàn”(2) là bộ phận tập hợp các phím trong một số loại đàn hoặc
máy tính. bàn” trong “cái bàn” và “bàn” trong “bàn công việc” đều mang nghĩa
gốc, VD2 “bàn” trong “cái bàn” mang nghĩa gốc còn “bàn” trong “bàn phím”
mang nghĩa chuyển.
*Thứ hai: Trong chương trình Tiếng Việt 5 chưa có dạng bài tập phối hợp cả hai
kiến thức về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa để học sinh rèn kĩ năng phân biệt.
*Thứ ba: HS còn chưa phân biệt nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ nhiều nghĩa.
*Thứ tư: Vốn ngôn ngữ nghèo nàn, khả năng giải nghĩa phổ thông của học sinh
không vững.
II. NHỮNG GIẢI PHÁP PHÂN BIỆT TỪ ĐỒNG ÂM VÀ TỪ NHIỀU NGHĨA
1. Cơ sở để xây dựng giải pháp.
Căn cứ vào đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học về ngôn ngữ, chú ý, trí nhớ, ý
chí, tình cảm dẫn tới phát triển tư duy, nhận thức. Từ đó có thể vận dụng khả năng
tư duy, nhận thức và nhu cầu ngôn ngữ để phục vụ giao tiếp. Nhận thức được vai
trò của ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp thường ngày, giúp học sinh tích cực
hơn trong việc rèn luyện ngôn ngữ.
Thực tiễn trong dạy học, chất lượng học tập phụ thuộc nhiều vào điều kiện xã hội
từng vùng. Trong các điều kiện xã hội, điều kiện kinh tế, văn hóa có vai trò chủ
Trang 5

5


yếu tạo nên vốn ngôn ngữ địa phương. Học sinh tiểu học vùng nông thôn đa số ít
được tiếp xúc với điều kiện kinh tế, văn hóa thuận lợi. Điều kiện học tập của các

d, lưng núi - đau lưng
Bài 3: Trong các từ in đậm dưới đây, những từ nào có quan hệ đồng âm, những từ
nào có quan hệ nhiều nghĩa với nhau?
Vàng: - Giá vàng nước ta tăng đột biến.
- Tấm lòng vàng.
- Ông tôi mua một bộ vàng lưới để chuẩn bị cho vụ đánh bắt hải sản.
Trang 6

6


2.2; Cung cấp cách nhận dạng từng dấu hiệu của mỗi lớp từ theo yêu cầu của
bài tập trên cơ sở loại suy.
Dù trên phương diện âm hình thì từ đồng âm và từ nhiều nghĩa có vẻ giống nhau,
nhưng xét về nghĩa lại hoàn toàn khác nhau. Vì vậy, mỗi lớp từ có những dấu hiệu
nhận dạng rất cụ thể. Để học sinh có thể nhận dạng mỗi lớp từ này, giáo viên cung
cấp cho các em những dấu hiệu nhận dạng theo yêu cầu của bài tập, từ đó loại suy
ra các từ không cùng bản chất. Căn cứ vào yêu cầu của các bài tập chúng ta có thể
chia ra ba loại yêu cầu sau:
a. Tìm từ đồng âm trong các tổ hợp từ.
Đối với dạng yêu cầu này, nên dựa vào dấu hiệu của từ đồng âm để lựa chọn, tổ
hợp từ nào không có dấu hiệu đồng âm thì loại ra. Cụ thể là: các tổ hợp từ nào mà
nghĩa của mỗi từ độc lập, không có bất cứ mối quan hệ nào về nghĩa với nhau thì
nó là những từ đồng âm. Ví dụ: Nhóm từ nào sau đây có quan hệ đồng âm?
a, cái thang; hình thang, thang máy
b, hoa mơ, giấc mơ, sáng tinh mơ
c, máy in, in sách, giống như in
Trong các nhóm từ trên, từ “mơ” có nghĩa độc lập nên nhóm b chính là các từ
đồng âm, loại ra các nhóm còn lại.
b. Tìm từ nhiều nghĩa trong các tổ hợp từ.

sang sản phẩm được làm ra từ nguyên liệu đó. Ví dụ: bạc giấy bạc (chỉ giá trị);
đồng một nghìn đồng...
Để xác định được từ nhiều nghĩa, khâu quan trọng nhất là xác định được nghĩa
gốc. Theo sự phát triển của từ như trên, nghĩa gốc của từ được xác định để gọi tên
sự vật, đối tượng, hiện tượng, hoạt động, đặc điểm. Các từ mang nghĩa gốc thì nêu
được nghĩa khác nhau nhưng phải bằng cách diễn giải. Còn phần nhiều các từ
mang nghĩa chuyển thì nêu nghĩa bằng cách thay thế bằng một từ khác (mang
nghĩa phụ). Ví dụ: Nhóm từ nào sau đây có quan hệ nhiều nghĩa?
a, lịch sử; lịch sự, sơ yếu lí lịch
b, thê thiếp, ngủ thiếp đi, thiếp mời
c, mặt trời, mặt giấy, đối mặt
c. So sánh từ đồng âm và từ nhiều nghĩa (xác định mỗi lớp từ).
Với dạng yêu cầu này, nên dựa vào dấu hiệu của từ đồng âm để lựa chọn và sắp
xếp các nhóm từ cho phù hợp, bởi vì dấu hiệu về từ đồng âm là đơn giản hơn; khi
không tìm thấy dấu hiệu quan hệ về nghĩa là từ đồng âm. Ví dụ: Trong các từ phát
âm giống nhau dưới đây, những từ nào có quan hệ đồng âm, những từ nào có quan
hệ nhiều nghĩa với nhau?
a. Nhóm nhạc năm dòng kẻ.
b. Viết khoảng năm dòng là hết nội dung.
c. Dòng sông Đà tuôn dài như một áng tóc trử tình...
d. Trai tân mà lấy gái nạ dòng.
Trong bài tập này ta thấy từ “dòngd” không có quan hệ với từ “dònga,b,c” nên nó là
từ đồng âm với các từ còn lại.
3.2; Coi trọng việc dạy các tiết học về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa.
a. Nắm vững kiến thức về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa:
* Từ đồng âm: Là những từ giống nhau về âm nhưng khác nhau về nghĩa (theo
SGK TV5 - tập 1 - trang 51)
Ví dụ: - bò trong kiến bò. chỉ hoạt động di chuyển ở tư thế áp bụng xuống nền
bằng cử động của toàn thân hoặc những cái chân ngắn.
- bò trong trâu bò: chỉ loài động vật nhai lại, sừng ngắn, lông thường có màu

trùng với từ có sẳn (hụt mất hai ly, cái ly, hai ký, chữ ký...). Trong giao tiếp cần chú
ý đầy đủ đến ngữ cảnh để tránh hiểu sai nghĩa của từ hoặc dùng với nghĩa nước đôi
do hiện tượng đồng âm.
* Từ nhiều nghĩa: là từ có một nghĩa gốc và một hay một số nghĩa chuyển. Các
nghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ cũng có mối liên hệ với nhau. (SGK Tiếng Việt 5
- trang 67)
Ví dụ: - Đôi mắt của bé mở to (bộ phận quan sát của con người ở trên mặt)
- Từ “mắt” trong câu “quả na mở mắt” là nghĩa chuyển.
Đối với giáo viên có thể hiểu: Một từ có thể gọi tên nhiều sự vật hiện tượng,
biểu thị nhiều khái niệm (khái niệm về sự vật, hiện tượng) trong thực tế khách
quan thì từ ấy được gọi là từ nhiều nghĩa. Các nghĩa trong từ nhiều nghĩa có mối
liên hệ mật thiết với nhau.
Muốn hiểu rõ hơn khái niệm về từ nhiều nghĩa ta có thể so sánh từ nhiều nghĩa
với từ một nghĩa. Từ nào là tên gọi của một sự vật, hiện tượng biểu đạt một khái
niệm thì từ ấy chỉ có một nghĩa.Từ nào là tên gọi của nhiều sự vật, hiện tượng, biểu
thị nhiều khái niệm thì từ ấy là từ nhiều nghĩa.
Nhờ vào quan hệ liên tưởng tương đồng (ẩn dụ) và tương cận (hoán dụ) người
ta liên tưởng từ sự vật này đến sự vật kia trên những đặc điểm, hình dáng, tính chất
Trang 9
9


giống nhau hay gần nhau giữa các sự vật ấy. Từ chỗ gọi tên sự vật, tính chất, hành
động này (nghĩa 1) chuyển sang gọi tên sự vật, tính chất, hành động khác (nghĩa 2),
quan hệ đa nghĩa của từ nảy sinh từ đó.
Ví dụ: Chín: (1) chỉ quả đã qua một quá trình phát triển, đạt đến độ phát triển cao
nhất, hoàn thiện nhất, độ mềm nhất định, màu sắc đặc trưng.
(2) Chỉ quá trình vận động, quá trinh rèn luyện từ đó, khi đạt đến sự phát
triển cao nhất. (Suy nghĩ chín, tình thế cách mạng đã chín, tài năng đã chín)
(3) Sự bối rối mất tự nhiên trước người khác làm thay đổi màu da trên


10


phải giải nghĩa một số từ thông qua các câu văn, các cụm từ cụ thể, xác định được
nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ, phân biệt từ nhiều nghĩa với từ đồng âm, tìm
được một số ví dụ về sự chuyển nghĩa của từ, đặt câu với các nghĩa của từ nhiều
nghĩa (hiểu từ qua văn cảnh).
b. Nắm vững phương pháp dạy từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
Bài học về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là loại bài khái niệm. Giáo viên tổ
chức các hình thức dạy học để giải quyết các bài tập ở phần nhận xét, giúp học sinh
phát hiện các hiện tượng về từ ở các bài tập, từ đó rút ra được những kiến thức về
từ đồng âm và từ nhiều nghĩa. Bước tiếp theo giáo viên tổng hợp và rút ra kiến
thức như nội dung phần ghi nhớ. Đến đây, nếu là HS khá, giỏi, GV có thể cho các
em lấy ví dụ về hiện tượng đồng âm, nhiều nghĩa giúp các em nắm sâu và chắc
phần ghi nhớ. Chuyển sang phần luyện tập, giáo viên tiếp tục tổ chức các hình thức
dạy học để giúp học sinh giải quyết các bài tập phần luyện tập. Sau mỗi bài tập
giáo viên lại củng cố, khắc sâu kiến thức liên quan đến nội dung bài học, liên hệ
thực tế và liên hệ (tích hợp) với các kiến thức đã học của phân môn LTVC nói
riêng và tất cả các môn học nói chung.
Trong quá trình dạy học các bài về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa, giáo viên cần sử
dụng đồ dùng dạy học, tranh ảnh minh hoạ nhằm giúp học sinh dễ dàng phân biệt
nghĩa của từ. Ví dụ:

hòn đá

đá bóng

Tóm lại khi dạy khái niệm về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa, cần thực hiện theo
quy trình các bước:

có thuộc song còn ấp úng, ngắc ngứ.
* Giúp học sinh hiểu đúng nghĩa của các từ phát âm giống nhau
Điều đặc biệt của từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là phát âm giống nhau (nói đọc
giống nhau viết cũng giống nhau). Ta thấy rõ ràng là “đường 1” trong “đường rất
ngọt”, “đường2” trong “đường dậy điện thoại” và “đường3” trong “ngoài đường xe
cộ đi lại nhộn nhịp” đều phát âm, viết giống nhau. Vậy mà “đường 1” với “đường2”
và “đường1” với “đường3” lại có quan hệ đồng âm, còn “đường 2” với “đường3” lại
có quan hệ nhiều nghĩa.
Để có được kết luận trên đây, trước hết học sinh phải hiểu rõ nghĩa của các từ
đường1, đường2, đường3 là gì?
Đường1: (đường rất ngọt): chỉ một chất kết tinh có vị ngọt
Đường2: (đường dây điện thoại): chỉ dây dẫn, truyền điện thoại phục vụ cho
việc thông tin liên lạc
Đường3: (ngoài đường, xe cộ đi lại nhộn nhịp) chỉ lối đi cho các phương tiện
giao thông, người, động vật
Để có thể giải nghĩa chính xác các từ “đường” như trên, các em phải có vốn từ
phong phú, có vốn sống. Vì vậy trong dạy học tất cả các môn, giáo viên luôn chú
trọng trau dồi, tích lũy vốn từ cho học sinh, nhắc học sinh có ý thức tích lũy cho
mình vốn sống và yêu cầu mỗi học sinh nên có một cuốn từ điển Tiếng Việt, biết
cách tra từ điển Tiếng Việt đồng thời nắm được một số biện pháp giải nghĩa từ.

Trang 12

12


Tiếp đó học sinh căn cứ vào định nghĩa, khái niệm về từ đồng âm, từ nhiều
nghĩa để xác định mối quan hệ giữa các từ “đường”.
Xét nghĩa của 3 từ “đường” trên ta thấy:
Từ đường1 và từ đường2 có nghĩa hoàn toàn khác nhau không liên quan đến

về nhà tiếp tục suy nghĩ trả lời, giải thích về hiện tượng từ “đi” trong các câu văn
đã cho.

Trang 13

13


Trong bài dạy “từ nhiều nghĩa” giáo viên có thể lấy thêm một số trường hợp về
từ nhiều nghĩa, sau đó quay lại lấy một ví dụ về từ đồng âm cho học sinh nhận định
về các từ trong ví dụ.
VD: từ “chỉ” trong các trường hợp sau là từ đồng âm hay nhiều nghĩa? Vì sao?
Cái kim sợi chỉ – chiếu chỉ – chỉ đường – một chỉ vàng. Ở câu hỏi này, giáo
viên yêu cầu học sinh giải thích lí do lựa chọn để khẳng định kiến thức và khả năng
nhận diện, phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa. Sau khi học sinh trả lời, giáo
viên chốt lại từ “chỉ” trong các trường hợp trên có quan hệ đồng âm, vì nghĩa của
từ “chỉ” trong mỗi trường hợp khác nhau, không có quan hệ với nhau.
Nội dung trên giáo viên cũng tiến hành trong khoảng 2-3 phút, dành thời gian
cho các em làm bài tập phần luyện tập. Cuối tiết học giáo viên nhấn mạnh: các em
cần lưu ý phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa, tránh nhầm lẫn đáng tiếc giữa
hai hiện tượng này.
5.2; Dựa vào yếu tố từ loại để giúp học sinh phân biệt được từ đồng âm và từ
nhiều nghĩa.
Biện pháp này thực ra ít khi tôi vận dụng, bởi nếu học sinh đã hiểu đúng nghĩa
của từ, thuộc được ghi nhớ thì không cần thiết phải dùng đến cách dựa vào yếu tố
từ loại. Tuy nhiên, đối với một số học sinh trung bình và yếu thì giáo viên có thể
kết hợp cả 3 biện pháp.
Trong thực tế hàng ngày, học sinh có thể bắt gặp hiện tượng một từ nào đó phát
âm gần nhau nhưng xét về từ loại khác nhau thì kết luận đó là hiện tượng đồng âm.
Chẳng hạn khi chơi đùa học sinh hò reo đồng thanh để cổ vũ cho một học sinh

sau đều là động từ: đi bộ - đi chơi - đi ngủ - đi máy bay.
Vì vậy, gặp những từ có cùng vỏ âm thanh giống nhau thì học sinh không được
vội vàng phán quyết ngay hiện tượng đồng âm hay nhiều nghĩa mà phải suy nghĩ
thật kĩ, giải nghĩa chính xác các từ đó trong văn cảnh, tìm ra điểm khác nhau hoàn
toàn hay giữa chúng có sự liên hệ với nhau về nghĩa. Trong một số bài tập bồi
dưỡng học sinh giỏi, có một số trường hợp giống nhau về âm thanh nhưng khó
phân biệt hiện tượng đồng âm hay nhiều nghĩa.
VD: Các từ trong mỗi nhóm dưới đây có quan hệ như thế nào?
a) Đánh cờ, đánh giặc, đánh trống
b) Trong veo, trong vắt, trong xanh
c) Thi đậu, xôi đậu, chim đậu trên cành
Xét về từ loại thì nhóm (c) các từ “đậu” có quan hệ đồng âm với nhau vì “đậu”
“trong thi đậu” là tính từ (đỗ, trúng tuyển) “đậu” trong “xôi đậu” là danh từ (chỉ
một loại quả, củ dùng làm lương thực, thức ăn), “đậu” trong “chim đậu trên cành”
là động từ “nghỉ tạm dừng lại”. Ở nhóm (a), các từ “đánh” đều là động từ nhưng
xét về nghĩa các từ “đánh cờ” (một trò chơi), “đánh giặc” (chiến đấu với kẻ thù
bằng nhiều cách) và “đánh trống” (dùng đùi hoặc tay gõ vào mặt trống cho phát ra
âm thanh) thì nghĩa của chúng có liên quan đến nhau, đều tác động đến một sự vật
khác, làm cho sự vật đó có sự thay đổi, vì vậy các từ “đánh” ở nhóm (a) có quan hệ
nhiều nghĩa. Tuy nhiên, các từ “trong” ở nhóm (b) cũng là các từ có cùng từ loại
(tính từ). Song chúng lại có quan hệ đồng nghĩa với nhau.
Trong quá trình dạy có sự nâng cao nhằm bồi dưỡng học sinh giỏi, để giúp học
sinh làm tốt các bài tập như trên, giáo viên yêu cầu các em luôn nắm chắc nghĩa
của từ và suy xét kĩ lưỡng nghĩa của các từ đó, không được vội vàng ngộ nhận
hoặc mới chỉ hiểu nghĩa mang máng mà đã vội kết luận mối quan hệ giữa các từ.
6.2; Tìm ra dấu hiệu chung nhất để phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.

Trang 15

15

“chân” mang nghĩa chuyển?
Chân: a. Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân.
b. Ông bị đau chân.
c. Hồng Sơn là chân sút nổi tiếng của một thời.
Đối với bài tập trên giáo viên yêu cầu học sinh nêu được nghĩa của từ “chân”
trong mỗi câu và xác định nghĩa chuyển, nghĩa gốc “chân” trong câu a chỉ một bộ
phận làm trụ đỡ của cái kiềng – nghĩa chuyển, “chân” trong câu b một bộ phận của
cơ thể đỡ và di chuyển cơ thể – nghĩa gốc, chân trong câu c chỉ vị trí, mức độ tài
năng của một cầu thủ bóng đá.
Dạng 2: Đặt câu để phân biệt các từ đồng âm hoặc nhiều nghĩa
* Đối với từ đồng âm
Đặt câu để phân biệt các từ đồng âm: bàn, cờ, nước, chân, đường... Ở bài tập
này giáo viên hướng dẫn học sinh với mỗi từ các em cần đặt ít nhất là hai câu, các
từ đó có quan hệ đồng âm với nhau.
VD: Bàn: - Bố mua cho em một cái bàn mới.
- Tối thứ bảy, bố mẹ lại bàn về chuyện học tập của chúng em.
* Đối với từ nhiều nghĩa
VD. Đặt câu để phân biệt nghĩa của từ “đứng”
Đứng: Nghĩa 1: ở tư thế chân thẳng, chân đặt trên mặt nền.
Trang 16
16


Nghĩa 2: Ngừng chuyển động.
Giáo viên có thể gợi ý, nghĩa 1 nói tới một tư thế của người hoặc động vật.
Nghĩa 2 nói tới trạng thái của một đồ vật hiện tượng, dựa vào gợi ý đó học sinh có
thể đặt câu.
Nghĩa 1: Trong lúc chào cờ, chúng em đứng nghiêm trang.
Nghĩa 2: Kim đồng hồ đứng hẳn lại
Dạng 3: Phân biệt quan hệ đồng âm, quan hệ nhiều nghĩa

1. Bé chạy lon ton trên sân
a. Hoạt động của máy móc
2. Tàu chạy băng băng trên đường ray b. Khẩn trương tránh những điều
3. Đồng hồ chạy đúng giờ
không may sắp xảy đến
4. Dân làng khẩn trương chạy lũ
c. Sự di chuyển nhanh của phương tiện
giao thông
d. Sự di chuyển nhanh bằng chân
Đáp án: 1-d, 2-c, 3-a, 4-b
Đối với những bài tập trên, giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận để nối
những cụm từ hoặc câu với nghĩa thích hợp ở những trường hợp dễ nhận thấy
trước. Trường hợp khó còn lại nếu học sinh chưa hiểu nghĩa các em có thể vận
dụng cả phương pháp loại trừ.
Trang 17

17


Ở cả từ đồng âm và từ nhiều nghĩa đều có mặt cả bốn dạng bài tập trên. Bên
cạnh đó, mỗi nội dung lại có một số dạng bài tập riêng.
* Đối với từ đồng âm có dạng bài tập đố vui (chơi chữ):
Trùng trục như con chó thui
Chín mặt, chín mũi, chín đuôi, chín đầu
(Là con gì?)
Hoặc dạng bài tập chỉ ra từ đồng âm được dùng để chơi chữ trong các câu sau:
a. Bác bác trứng, tôi tôi vôi
b. Con ngựa đá con ngựa đá, con ngựa đá không đá con ngựa.
Với bài tập này ngoài việc chỉ ra các từ đồng âm, đối với học sinh khá giỏi, giáo
viên nên yêu cầu các em nêu cách hiểu của mình về các câu trên.

Trang 18
18


- Nhà đơn người, chỉ có một mẹ một con
- Bé Mai bị đơn không đi học được.
e. mai
- Nếu miền bắc có hoa đào thì miền nam có hoa mai
- Rùa, mực, cua là các con vật có mai
- Nay đây mai đó
g. lồng
- Con ngựa đang đứng bỗng lồng lên
- Mua được con chim, mà không có lồng để nhốt.
- Máy vừa lồng đất được hai vòng thì hết dầu.
Một số trường hợp dùng từ đồng âm để chơi chữ:
h. chèo
- Ăn no rồi lại nằm khoèo
Nghe giục trống chèo bế bụng đi xem
(ca dao)
- Kể chi tuổi tác già mua
Chống chèo xin cứ thi đua đến cùng
(Mẹ Suốt – Tố Hữu)
- Lỗ mộng bị chèo nên không vào được.
i. lợi
- Bà già ra chợ cầu Đông
Xem một quẻ bói lấy chồng lợi chăng?
Thầy bói gieo quẻ nói rằng:
Lợi thì có lợi nhưng răng không còn.
- Làm ăn thời buổi chúng ta
Lợi mình thì phải bằng ba lợi người.

- Đồng hồ này chạy chậm
- Mưa ào xuống, không kịp chạy lúa vào nhà
- Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi
- Con đường mới mở chạy qua làng tôi
b. lá
- Lá bàng đang đỏ ngọn cây (Tố Hữu)
- Lá khoai anh ngỡ lá sen (ca dao)
- Lá cờ thêu sáu chữ vàng căng lên trong gió (Nguyễn Huy Tưởng)
- Này là lá thư nghiêng nghiêng nét chữ cô em học trò (bài hát)
c. quả
- Quả dừa - đàn lợn con nằm trên cao
- Quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân
- Trăng tròn như quả bóng
- Quả đất là ngôi nhà chung của chúng ta
- Quả hồng như thể quả tim giữa đời
d. cứng
- Lúa đã cứng cây
- Lí lẽ rất cứng
- Học lực vào loại cứng
- Cứng như thép, vững nho đồng.
- Thanh tre cứng quá, không uốn cong được
- Quai hàm cứng lại, chân tay tê cứng
- Cách giải quyết hơi cứng, thái độ cứng quá
e. sườn
- Nó hích vào sườn tôi
- Con đèo chạy ngang sườn núi
- Tôi đi qua phía sườn nhà
- Dựa vào sườn của bản báo cáo để trình bày…
g. xuân
- Mùa xuân là tết trồng cây

1. Kết quả ứng dụng.
Sau khi nghiên cứu và đưa đề tài vào vận dụng để dạy học phân biệt từ đồng âm
và từ nhiều nghĩa, tôi nhận thấy lớp học có nhiều biến chuyển, cụ thể là: học sinh
sử dụng từ ngữ tương đối chính xác; trình bày về một vấn đề trôi chảy hơn; các em
có ý thức giữ gìn ngôn ngữ trong sáng... điều đó chứng tỏ các em đã có vốn ngôn
ngữ và biết cách sử dụng nó một cách linh hoạt.
Ứng dụng đề tài vào công tác giảng dạy, tôi thấy có kết quả rõ rệt. Lớp học trở
nên sôi nổi và có chất lượng thể hiện sau ba lần kiểm tra thử nghiệm như sau:
- Lần thứ nhất kiểm tra sau khi học xong bài luyện tập về từ nhiều nghĩa: (Tuần 8)
Sĩ số
Điểm 9, 10
Điểm 8, 9
Điểm 5, 6
Điểm dưới 5
25
3 = 12 %
8 = 32%
10 = 40%
4 = 16%
- Lần thứ hai kiểm tra sau khi học xong tiết ôn luyện về từ đồng âm và từ nhiều
nghĩa: (Tuần 9)
Sĩ số
Điểm 9, 10
Điểm 8, 9
Điểm 5, 6
Điểm dưới 5
25
5 = 20 %
10 = 40%
9 = 36%

Nội dung của đề tài được trình bày khoa học, dễ hiểu; các luận điểm, luận cứ và
thông số có tính chính xác. Hệ thống lí thuyết đúng đắn, có sức thuyết phục.
Những kết quả được lấy từ thực tế, chính xác để chứng minh vấn đề, đáp ứng được
quan điểm dạy học – giáo dục tích cực đang đặc biệt chú trọng hiện nay.
Đề tài được áp dụng có hiệu quả trong quá trình dạy học của giáo viên và học
sinh. Nó đáp ứng một phần của việc đổi mới phương pháp dạy học trong nhà
trường phổ thông hiện nay. Đặc biệt đề tài chú trọng phát huy vai trò tích cực, chủ
động của người học, đề cập tính tự giác của người học trong dạy học – giáo dục.
Tính tự giác của người học không những là một yếu tố tạo ra hiệu quả của quá
trình học tập và rèn luyện mà còn là mục tiêu của dạy học – giáo dục. Giúp học
sinh có khả năng phát triển tư duy, rèn luyện kĩ năng sống để đáp ứng nhu cầu phát
triển xã hội, hòa nhịp cùng sự phát triển của thế giới hiện đại.
Dạy các nội dung về nghĩa của từ thực sự không đơn giản, nhất là phân biệt từ
đồng âm với từ nhiều nghĩa. Trong quá trình giảng dạy, tổ chức cho học sinh nắm
được kiến thức, bản thân tôi cũng đã cố gắng nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi và và lựa
chọn phương pháp sao cho học sinh nắm kiến thức mới và vận dụng trong học tập
cũng như trong cuộc sống một cách hiệu quả.
3. Những đề xuất.
Bên cạnh việc rèn luyên kĩ năng giao tiếp và tăng thêm vốn từ cho học sinh,
chúng ta cần đổi mới phương pháp dạy học nhằm tạo điều kiện cho các em bộc lộ
năng lực của mình, qua đó có thể tìm ra những hạn chế của các em và sửa đổi bổ
sung kịp thời. Giáo viên không nên chỉ chú trọng vào việc truyền thụ kiến thức
Trang 22

22


mang tính áp đặt mà phải căn cứ vào nhu cầu của học sinh để kích thích tinh thần
tự học hỏi và sửa đổi của các em.
Muốn học sinh tiến bộ, một trong những việc hết sức cần thiết là giáo viên phải

Đề mục
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Phương pháp nghiên cứu
B. NỘI DUNG
I. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ

Trang 23

Trang
2
2
3
4
4
4
23


7
8
9
10

1. Về giáo viên
2. Về học sinh
3. Nguyên nhân của những khó khăn

11

19
20
21
22
23
24
25

II. NHỮNG GIẢI PHÁP PHÂN BIỆT TỪ ĐỒNG ÂM VÀ TỪ NHIỀU
NGHĨA

Trang 24

4
5
6
6
6
6
6
7
9
13
14
16
16
18
21
21
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status