BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT
LÀNG NGHỀ CƠ KHÍ PHÙNG XÁ, HUYỆN THẠCH THẤT,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI TỚI CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN QUỲNH HOA
HÀ NỘI, NĂM 2018
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT
LÀNG NGHỀ CƠ KHÍ PHÙNG XÁ, HUYỆN THẠCH THẤT,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI TỚI CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN QUỲNH HOA
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ: 8440301
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. TS. NGUYỄN HÙNG MINH
2. PGS.TS. LÊ THỊ TRINH
HÀ NỘI, NĂM 2018
Khoa Môi trường, trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã giúp đỡ và tạo
điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi cũng đã nhận được sự giúp đỡ và tạo điều
kiện thuận lợi nhất từ Ban giám đốc Trung tâm, các cán bộ Phòng Quan trắc và Phân
tích tài nguyên môi trường, phòng Thông tin và Hợp tác quốc tế thuộc Trung tâm
Quan trắc Tài nguyên và Môi trường – Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội. Tôi xin
trân trọng cám ơn.
Tôi cũng xin trân trọng cám ơn chính quyền xã Phùng Xá, Ban quản lý điểm
công nghiệp Phùng Xá, Trạm y tế xã Phùng Xá và người dân địa phương đã nhiệt tình
hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã động viên, tạo điều
kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày
tháng 10 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Quỳnh Hoa
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................................1
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................................. ii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT ..................................................... v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU...................................................................................vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ ..................................................................... viii
3.1.4. Đánh giá sức ép tới môi trường .......................................................................38
3.2. Hiện trạng môi trường làng nghề cơ khí Phùng Xá, Thạch Thất, Hà Nội .............42
3.2.1. Đánh giá về chất lượng môi trường không khí................................................42
3.2.2. Đánh giá về chất lượng môi trường nước........................................................ 46
3.2.3. Đánh giá về chất lượng môi trường đất ........................................................... 59
3.3. Tác động của hoạt động sản xuất tới môi trường và sức khỏe người dân ..............61
3.3.1. Rủi ro môi trường ............................................................................................ 61
3.3.2. Tác động của hoạt động sản xuất làng nghề cơ khí Phùng Xá tới sức khỏe
người dân ................................................................................................................... 69
3.4. Hiện trạng công tác quản lý môi trường tại làng nghề Phùng Xá .......................... 74
3.5. Đề xuất các giải pháp quản lý môi trường làng nghề cơ khí Phùng Xá, huyện
Thạch Thất, Hà Nội .......................................................................................................76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ....................................................................................... 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................. 82
iv
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
BTNMT : Bộ Tài nguyên và Môi trường
BVMT
: Bảo vệ môi trường
BYT
: Bộ Y tế
EPA
Bảng 2.3. Vị trí các điểm lấy mẫu đất ...........................................................................25
Bảng 2.4. Các chỉ tiêu phân tích mẫu khí và phương pháp phân tích ........................... 26
Bảng 2.5. Các chỉ tiêu phân tích mẫu nước mặt và phương pháp phân tích .................27
Bảng 2.6. Các chỉ tiêu phân tích mẫu nước thải và phương pháp phân tích .................27
Bảng 2.7. Các chỉ tiêu phân tích mẫu nước dưới đất và phương pháp phân tích ..........28
Bảng 2.8. Các chỉ tiêu phân tích mẫu đất và phương pháp phân tích ........................... 29
Bảng 2.9.Thải lượng ô nhiễm trung bình do 1 người thải ra trong 1 ngày theo phương
pháp Aveirala .................................................................................................................31
Bảng 2.10. Hệ số phát thải do đốt than..........................................................................32
Bảng 3.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã Phùng Xá giai đoạn 2015-2017 ................... 33
Bảng 3.2. Một số sản phẩm chủ yếu của làng nghề cơ khí Phùng Xá .......................... 34
Bảng 3.3. Khối lượng nguyên nhiên liệu sử dụng trong sản xuất của làng nghề theo
tháng .............................................................................................................................. 34
Bảng 3.4.Tải lượng ô nhiễm do đốt than tại làng nghề .................................................39
Bảng 3.5. Tải lượng một số chất ô nhiễm trong NTSH của làng nghề năm 2017 ........40
Bảng 3.6. Kết quả phân tích không khí xung quanh làng nghề đợt 1 ........................... 42
Bảng 3.7. Kết quả phân tích không khí xung quanh làng nghề đợt 2 ........................... 43
Bảng 3.8.Kết quả phân tích nước mặt làng nghề đợt 1 .................................................46
Bảng 3.9. Kết quả phân tích nước mặt làng nghề đợt 2 ................................................46
Bảng 3.10. Kết quả phân tích nước dưới đất làng nghề đợt 1 .......................................51
Bảng 3.11. Kết quả phân tích nước dưới đất làng nghề đợt 2 .......................................51
Bảng 3.12. Kết quả phân tích nước thải làng nghề đợt 1 ..............................................53
Bảng 3.13. Kết quả phân tích nước thải làng nghề đợt 2 ..............................................54
Bảng 3.14. Kết quả phân tích đất làng nghề đợt 1 ........................................................ 59
Bảng 3.15. Kết quả phân tích đất làng nghề đợt 2 ........................................................ 59
Bảng 3.16. Kết quả tính toán rủi ro theo hệ số RQ đối với không khí làng nghề .........61
Bảng 3.17. Kết quả tính toán rủi ro theo hệ số RQ đối với nước mặt làng nghề ..........63
vi
Hình 3.18. Biểu đồ hệ số rủi ro đối với nước dưới đất đợt 1 của làng nghề .................66
Hình 3.19. Biểu đồ hệ số rủi ro đối với nước dưới đất đợt 2 của làng nghề .................66
Hình 3.20. Biểu đồ hệ số rủi ro đối với đất đợt 1 của làng nghề ...................................68
Hình 3.21. Biểu đồ hệ số rủi ro đối với đất đợt 2 của làng nghề ...................................69
Hình 3.22.Tình hình sức khỏe người dân làng nghề thông qua phiếu điều tra .............71
Hình 3.23. Khu vực sinh hoạt của công nhân bố trí ngay cạnh khu vực sản xuất ........72
Hình 3.24. Thực trạng trang bị và tần suất sử dụng bảo hộ của người lao động ..........72
Hình 3.25. Thực trạng sử dụng trang bị bảo hộ lao động của công nhân...................... 73
Hình 3.26. Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố trong hoạt động sản xuất cơ khí tới sinh
hoạt của người dân.........................................................................................................73
viii
MỞ ĐẦU
Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hoá phát triển với quy mô dân số đô thị ngày
càng cao, cùng với phát triển cơ sở hạ tầng, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và làng
nghề được đẩy mạnh nhưng thiếu bền vững, chưa có quy hoạch bảo vệ môi trường là
những mối đe doạ đối với môi trường hiện nay.
Theo số liệu thống kê, đến hết năm 2014, số làng nghề và làng có nghề nước ta là
5.096, trong đó số làng nghề truyền thống được công nhận theo tiêu chí làng nghề hiện
nay của Chính phủ là 1.748. Các làng nghề trên cả nước thu hút khoảng 10 triệu lao
động, tạo công ăn việc làm và góp phần tăng trưởng kinh tế [1]. Tuy nhiên, song hành
cùng những lợi ích về kinh tế, hoạt động sản xuất tại các làng nghề cũng có nhiều tác
động tiêu cực đến môi trường, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người lao động
và người dân sinh sống xung quanh.
Theo quy hoạch phát triển nghề, làng nghề thành phố Hà Nội đến năm 2020, tầm
nhìn đến năm 2030, hiện nay Hà Nội có khoảng 1.350 làng nghề và làng có nghề. Hoạt
động sản xuất làng nghề của Hà Nội với gần 1 triệu lao động tham gia sản xuất với
hơn 700.000 lao động thường xuyên, chiếm hơn 64% tổng số lao động trong độ tuổi
của làng và chiếm hơn 42% tổng số lao động sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công
với tiếng ồn, bụi kim loại. Làng nghề cơ khí Phùng Xá là một trong 80 làng nghề có
trong Phụ lục 1 của Quyết định 6136/QĐ-UBND ưu tiên tiến hành rà soát đánh giá,
phân loại làng nghề có nguy cơ gây ô nhiễm để đề xuất danh sách làng nghề gây ô
nhiễm nghiêm trọng và danh mục các dự án xử lý ô nhiễm cho từng loại hình sản xuất
tại làng nghề giai đoạn 2017-2020.
Do vậy, việc xác định các áp lực đối với môi trường cũng như đánh giá tác động
của hoạt động sản xuất tới môi trường làng nghề cơ khí Phùng Xá là rất cần thiết, góp
phần hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Từ đó, học viên đã lựa chọn đề tài:
“Đánh giá tác động của hoạt động sản xuất làng nghề cơ khí Phùng Xá, huyện
Thạch Thất, thành phố Hà Nội tới chất lượng môi trường” để tiến hành nghiên cứu.
Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường và xác định các áp lực đối với môi
trường tại khu vực nghiên cứu;
- Đánh giá tác động của hoạt động sản xuất của làng nghề cơ khí Phùng Xá,
huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội tới môi trường tự nhiên và sức khỏe người dân;
- Đánh giá hiện trạng công tác quản lý môi trường tại khu vực và đề xuất giải
pháp quản lý phù hợp.
Nội dung nghiên cứu
- Thu thập thông tin, số liệu về điều kiện tự nhiên-kinh tế xã hội và hoạt động sản
xuất của làng nghề cơ khí Phùng Xá, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội;
- Quan trắc và phân tích chất lượng môi trường xung quanh (không khí, nước,
đất) làng nghề cơ khí Phùng Xá, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội và đánh giá
nguồn tác động;
- Điều tra, đánh giá ảnh hưởng của hoạt động sản xuất làng nghề cơ khí Phùng
Xá, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội tới môi trường và sức khỏe cộng đồng;
- Điều tra, đánh giá công tác quản lý môi trường tại khu vực nghiên cứu;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu tác động của hoạt động sản xuất đến
môi trường và nâng cao công tác quản lý môi trường tại làng nghề cơ khí Phùng Xá,
huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
Cắt
Đổ vào khuôn
Hàn, dập, cán, kéo
Thành phẩm
Sản phẩm
Hình 1.1. Quy trình tái chế kim loại tại các làng nghề [5]
3
Trong các làng nghề này tuy có thể khác nhau về quy trình sản xuất, quy trình
công nghệ nhưng đều có một số đặc điểm chung sau:
- Các làng nghề phần lớn có quy mô vừa và nhỏ, nằm xen kẽ với khu dân cư,
hình thành chủ yếu trên cơ sở hộ gia đình, kinh nghiệm được truyền từ thế hệ này sang
thế hệ khác.
- Công nghệ sản xuất và thiết bị ở các làng nghề phần lớn lạc hậu, chắp vá. Máy
móc thiết bị sử dụng trong các làng nghề phần lớn là loại cũ, mua từ Trung Quốc hoặc
mua thanh lý từ các nhà máy của Việt Nam, một số là sản phẩm tự tạo. Các thiết bị
này có nguyên tắc làm việc đơn giản, được thiết kế tùy theo quy mô và điều kiện kinh
tế của từng hộ sản xuất nên vấn đề bảo vệ môi trường hầu như chưa được quan tâm.
Lò đốt tại các làng nghề tái chế kim loại chủ yếu là loại lò đốt thủ công lạc hậu,
tuy nhiên các lò này đã được nâng cấp cải tiến phù hợp với yêu cầu của sản phẩm hiện
nay. Đối với một số cơ sở sản xuất lớn, các công ty TNHH được doanh nghiệp tư nhân
xây dựng tại các làng nghề lâu năm như Đa Hội, Vân Chàng...đã có cải tiến lớn về
công nghệ, xây dựng và lắp đặt một số lò nung hiện đại cho phép nung được các sản
phẩm chất lượng cao, độ dày mỏng khác nhau...giảm được ô nhiễm nhiệt và khí thải ra
3
Liễu Nội
Lò so, chân chống xe đạp, xe máy, khoá dây…
4
Rùa Hạ
Bản lề, cửa hoa, cửa sếp, phụ tùng xe đạp, đồ điện…
5
Rùa Thượng
Đinh, bản lề, đồ điện, chi tiết xe đạp, xe máy…
Nguồn:Nguyễn Trần Điện, 2016 [6]
4
Làng nghề rèn thôn Đa Sỹ quận Hà Đông có nghề rèn truyền thống đã hình thành
và phát triển hàng trăm năm nay. Trước năm 1996, cả làng chỉ có hơn 300 lò rèn, sản
lượng trung bình hàng năm chỉ hơn 2 triệu sản phẩm/năm. Những sản phẩm này được
một số gia đình khá giả làm nhiệm vụ thu gom và tiêu thụ khắp cả nước. Đến năm
2017, làng có khoảng 900 hộ làm nghề rèn với số lượng lao động địa phương và lân
cận khoảng 5.000 người. Sản phẩm rèn tập trung vào hai mặt hàng chính là dao và
kéo, đa dạng về chủng loại, kiểu dáng, kích thước. Đa số các hộ gia đình đã đưa máy
móc vào sản xuất. Nhờ vậy, đời sống nhân dân đã được cải thiện, sản phẩm làm ra tạo
được uy tín với người tiêu dùng trên cả nước [5].
Làng nghề cơ khí thôn Rùa Hạ, với hơn 80% số hộ sản xuất, quy mô sản xuất thành
nhà xưởng, các dây chuyền sản xuất khép kín, làng nghề ngày càng phát triển. Sản
phẩm rất đa dạng gồm: bản lề, cửa hoa, cửa xếp, phụ tùng xe đạp, đồ điện gia
dụng…có chất lượng cao, thích ứng với thị trường trong nước [8].
1.1.2. Một số loại nguồn thải cơ bản trong hoạt động sản xuất cơ khí
a) Bụi và khí thải
Hoạt động sản xuất cơ khí phát sinh bụi, khí thải từ các hoạt động như: vận
chuyển nguyên vật liệu, gia công kim loại, nấu, cán...
Quá trình vận chuyển nguyên vật liệu tới các làng nghề phát sinh bụi từ khói thải
của xe chuyên chở. Ngoài ra một phần bụi bám trên bề mặt kim loại do chứa các tạp
chất đất đá… cũng phát tán vào môi trường không khí. Hàm lượng cao của bụi trong
không khí có tác động tiêu cực đến môi trường sống của con người và hệ sinh thái
trong khu vực. Trong điều kiện khí hậu nóng ẩm ở nước ta, bụi trong không khí rất dễ
trở thành tác nhân gây nhiễm khuẩn đường hô hấp mãn tính cũng như các bệnh về da
và đường tiêu hoá. Bên cạnh đó lượng bụi lắng trong không khí có thể cản trở quá
trình quang hợp của thực vật dẫn tới sự giảm sút năng suất của hệ sinh thái nói chung
và cây trồng nói riêng [5].
Quá trình gia công sơ bộ kim loại phát sinh một lượng lớn bụi chứa kim loại
nặng và bụi của vật liệu độc hại.
Trong quá trình nấu, người ta thường dùng than, củi. Việc đốt than phát sinh một
lượng lớn bụi, khói và các khí ô nhiễm như CO2, SO2, NOx và chất hữu cơ bay hơi.
Hoạt động cơ khí nói riêng và tái chế kim loại nói chung sử dụng một lượng lớn than,
chính vì thế mà thải lượng ô nhiễm của nó cũng là lớn nhất. Khí thải phát sinh từ quá
trình nấu chảy nguyên liệu. Do trong nguyên liệu có dính nhiều tạp chất cũng như các
lớp sơn, mạ bị cháy và thải vào không khí lượng khói bụi, khí thải lò đốt.
Quá trình nhúng rửa, mạ sản phẩm với hỗn hợp hóa chất độc hại đựng trong các
bể, thùng chứa, không được đậy nắp khiến cho không gian phân xưởng ô nhiễm bởi
mùi ngột ngại. Ngoài ra, hơi axít, hơi kiềm, hơi kim loại, hơi hoá chất từ các quá trình
hàn chập, quá trình mạ, lò nấu kim loại và hoạt động của các xưởng rút sắt dây là các
nguồn phát thải các khí gây ô nhiễm này. Hơi kim loại như chì, đồng, kẽm…trong
như sự gia tăng sự ăn mòn đối với các công trình xây dựng.
Nước sử dụng để làm mát các thiết bị máy móc, vệ sinh thiết bị, mặt bằng nhà
xưởng. Nước sẽ cuốn theo các tạp chất bẩn còn trong máy móc như các hóa chất, muối
axit, muối kim loại, xianua, các kim loại nặng như thủy ngân, kẽm, sắt, crom, niken…
dầu mỡ công nghiệp, chất rắn lơ lửng trực tiếp chảy ra cống thải rồi ra nguồn tiếp nhận
mà không qua hệ thống xử lý nào.
c) Chất thải rắn
Chất thải rắn phát sinh từ hoạt động sản xuất của làng nghề bao gồm chất thải rắn
sinh hoạt và chất thải rắn sản xuất.
Chất thải rắn sinh hoạt của làng nghề phần lớn đều là chất thải hữu cơ dễ phân
hủy với tỷ lệ các thành phần dễ phân hủy chiếm tới 65% trong chất thải sinh hoạt.
Hoạt động sản xuất của làng nghề cơ khí thải ra một lượng lớn chất thải rắn
không nguy hại chủ yếu là xỉ từ than cháy [9]. Bên cạnh đó quá trình phân loại cũng
thải loại một lượng đáng kể rỉ sắt và vụn kim loại. Chất thải rắn nguy hại bao gồm: bao
7
bì đựng hóa chất, thùng đựng sơn, giẻ lau dầu mỡ, quần áo dính dầu mỡ trong quá
trình tiếp xúc với máy móc...Việc thải chất thải rắn là tro, xỉ và vụn quặng kim loại
không theo quy hoạch sẽ gây nên tình trạng gây mất vệ sinh trong khu dân cư, làm
tăng hàm lượng kim loại nặng, giảm độ xốp cũng như sự màu mỡ của đất trồng. Ngoài
ra còn dẫn tới tình trạng ô nhiễm đối với các nguồn nước mặt cũng như nước dưới đất.
1.1.3. Tác động của hoạt động sản xuất cơ khí tới môi trường và sức khỏe cộng
đồng
Quy mô sản xuất tại các làng nghề cơ khí chủ yếu là quy mô nhỏ, khó phát triển
vì mặt bằng sản xuất chật hẹp xen kẽ với khu vực sinh hoạt. Phần lớn các hoạt động
kinh tế nói chung và hoạt động sản xuất kinh doanh làng nghề nói riêng được tổ chức
bởi các hộ gia đình, chiếm 70% tổng số cơ sở sản xuất. Hơn nữa, các làng nghề hiện
nay nhìn chung đều gặp khó khăn về mặt bằng cho sản xuất. Đa số các hộ sản xuất
kinh doanh ngay trên diện tích đất nhà ở, mặt bằng sản xuất chật hẹp. Ở những làng
Đa Hội-Bắc Ninh
270.000
2.457
81
2.894,4
2.359,8
14,88
Vân Chàng-Nam Định
42.280
384,75
12,68
453,2
369,5
2,33
Xuân Tiến-Nam Định
Ngoài ra, tại các làng nghề cơ khí còn có một số loại hình ô nhiễm khác như ô
nhiễm nhiệt và ô nhiễm tiếng ồn. Nhiệt phát sinh chủ yếu từ các lò nung, cán kim loại
và từ hoạt động của các thiết bị, máy móc nơi sản xuất. Tiếng ồn phát sinh từ các máy
cắt kim loại, hoạt động của các thiết bị máy móc, máy nghiền than, sàn lò đúc, tiếng ồn
phát ra từ việc đập, nghiền những tảng xỉ nhôm, tiếng búa, tiếng máy dập hàn kim loại.
Do hạn chế về vốn và kỹ thuật, ở nhiều làng nghề cơ khí hiện nay chưa được
quan tâm xây dựng các hệ thống xử lý chất thải, khói bụi độc hại. Ở một số làng nghề
cơ khí đã có sự báo động xuống cấp và tình trạng ô nhiễm môi trường hết sức nặng nề.
Hầu hết các cơ sở sản xuất chỉ lo sản xuất kinh doanh, không chăm lo đến bảo vệ môi
trường sinh thái. Những tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái và sức khoẻ cộng
đồng đang trở thành những vấn đề bức xúc ở các khu vực này [5].
b) Ô nhiễm môi trường nước
Các làng nghề gia công cơ khí có nguồn nước thải bị ô nhiễm chất rắn lơ lửng và
đặc biệt là ô nhiễm kim loại nặng như Fe, Cr, Zn với hàm lượng thường xuyên cao gấp
nhiều lần quy chuẩn cho phép. Ở các cơ sở sản xuất làng nghề, lượng nước thải không
được xử lý triệt để, mà chỉ xử lý sơ bộ qua một hệ thống lắng lọc hoặc thải thẳng vào
hệ thống thoát nước, gây ô nhiễm môi trường nước ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống
người dân. Nguồn nước mặt tại các làng nghề tái chế kim loại đã có dấu hiệu bị ô
nhiễm bởi các ion kim loại có nguồn gốc từ nước thải như Fe, Zn...Kết quả phân tích
các mẫu nước mặt tại các làng nghề tái chế kim loại như Vân Chàng – Nam Định,
Phước Kiều – Quảng Nam, Xuân Tiến – Nam Định cho thấy thông số COD vượt quy
chuẩn cho phép từ 1,1 đến 1,5 lần. Hàm lượng Pb2+ , Zn2+ tại mẫu nước mặt làng nghề
Xuân Tiến – Nam Định cao hơn giới hạn cho phép lần lượt 2 lần và 1,3 lần. Hàm
lượng Fe trong các mẫu phân tích cũng nằm sát ngưỡng quy chuẩn cho phép [4].
c) Ô nhiễm môi trường đất
Do môi trường nước, môi trường không khí ở các làng nghề bị ô nhiễm bởi nước
thải, khí thải, chất thải rắn đổ bừa bãi còn dính đầy nhựa, sơn, dầu, mỡ chưa được thu
gom và xử lý triệt để đã tác động trực tiếp và gián tiếp đến môi trường đất ở các làng
nghề bởi vì sau khi thấm vào trong đất, chất ô nhiễm sẽ tồn lưu trong đất, gây thoái
hóa đất. Các loại chất thải rắn này phần lớn chưa được thu gom và xử lý theo đúng quy
thải phát sinh từ làng nghề đang gây ô nhiễm môi trường và có tác hại lớn đến sức
khỏe cộng đồng dân cư. Trong thời gian gần đây các bệnh về mắt, ngoài da, hô hấp
của người dân làng nghề có tỷ lệ tăng lên. Ô nhiễm môi trường làng nghề gây ảnh
hưởng trực tiếp tới các hoạt động kinh tế, xã hội của chính các làng nghề, gây ra
những tổn thất không nhỏ về kinh tế do phải bỏ ra các chi phí đầu tư xử lý ô nhiễm,
chí phí về khám chữa bệnh của người dân.
Theo báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2014, tại các làng nghề tái chế
kim loại, ô nhiễm không khí do sự phát thải khí độc, nguồn nhiệt cao và bụi kim loại
từ các lò đúc, nấu kim loại… trong quá trình sản xuất đã gây ra các bệnh phổ biến như
bệnh hô hấp, bụi phổi và bệnh về thần kinh. Các bệnh có tỷ lệ mắc cao là bệnh phổi
thông thường, bệnh tiêu hóa, bệnh về mắt, bệnh phụ khoa, lao phổi (0,4 – 0,6 %) và
ung thư phổi (0,35 – 1%).
10
Số liệu nghiên cứu tại làng nghề tái chế kim loại Châu Khê được nêu trong báo
cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2014 cho thấy tỷ lệ người mắc các bệnh liên quan
đến ô nhiễm rất cao. Trên 60% dân cư trong vùng có các triệu chứng bệnh liên quan
đến thần kinh, hô hấp, bệnh ngoài da, điếc. Một điểm đáng lưu ý là tỷ lệ mắc bệnh ở
02 nhóm là người tham gia sản xuất và không tham gia sản xuất (người già, trẻ em) là
tương đương nhau. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này là do khu sản xuất
vẫn đan xen lẫn với khu dân cư, hoạt động sản xuất thường trong khuôn viên hộ gia
đình, nơi tất cả các thành viên cùng ăn ở, sinh hoạt nên khả năng tiếp xúc với chất thải
của 02 nhóm đối tượng là như nhau [1]. Kết quả nghiên cứu được thể hiện tại hình 1.2
60
50
%
40
Mỹ/năm, tương đương 5% GDP ngành nông nghiệp của Java. Trong đó khoảng 315
triệu đô la Mỹ đối với vùng sản xuất nông nghiệp bị ảnh hưởng trực tiếp và phần còn
lại là đối với các vùng sản xuất nông nghiệp lân cận. Các tác giả cũng đưa ra kiến nghị
cần có giải pháp chia sẻ lợi ích giữa hộ làm nghề và hộ bị ảnh hưởng bởi chất thải phát
sinh từ làng nghề và các khu vực phụ cận làng nghề [26].
Một nghiên cứu khác tại Trung Quốc (Fan Zhang, 2011) ước tính chi phí cận
biên của việc thu gom, xử lý nước thải và phương pháp xử lý đối với hoạt động sản
xuất công nghiệp tại Vô Tích, một thành phố mới phát triển. Kết quả nghiên cứu đã
ước tính tổng lượng nước tiêu tốn cho hoạt động sản xuất làng nghề và tiểu thủ công
nghiệp là khoảng 59,04 ngàn km3 nước/ngày và thải ra môi trường khoảng 34,09 km3
nước thải/ngày, gây thiệt hại kinh tế cho Trung Quốc khoảng 27,7 triệu đô la/ngày,
tương đương 8,8 tỷ đô la/năm [27].
1.2.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam
Năm 2010 một nghiên cứu về các giải pháp kiểm soát ô nhiễm tại làng nghề
Dương Liễu của Nguyễn Mậu Dung, Trần Thị Thu Hà đăng trên báo cáo khoa học của
EEPSEA đã tiến hành phân tích các hậu quả về mặt môi trường do hoạt động chế biến
nông sản và hiệu quả chi phí của các lựa chọn kiểm soát ô nhiễm ở làng Dương Liễu.
Theo nghiên cứu, làng nghề có hơn 500 hộ gia đình ở Dương Liễu tham gia chế biến
nông sản. Trung bình, mỗi hộ gia đình sản xuất hơn một tấn tinh bột sắn mỗi ngày và
thải ra khoảng 15 m3 nước thải chưa được xử lý với các thông số COD, BOD và SS có
hàm lượng cao vào môi trường. Hàm lượng COD và BOD trong nước thải do việc làm
sạch và ngâm dao động từ 550-982 mg/l, cao hơn giới hạn khoảng 10-12 lần so với
quy chuẩn trong khi nước thải từ quá trình lắng tinh bột có nồng độ COD và BOD dao
động từ 6.400-12.289 mg/l, cao hơn giới hạn 120 lần. Nước thải gây ô nhiễm nghiêm
trọng trong làng, dẫn đến tỷ lệ mắc các bệnh cao như đau đầu, đau lưng, bệnh đường
hô hấp, kích ứng da, đau bụng, đau mắt và ung thư. Theo kết quả của nghiên cứu này,
các bệnh thường gặp ở thôn Dương Liễu là đau đầu (52%), đau lưng (43%), bệnh
đường hô hấp (38%) và kích ứng da (36%). Dạ dày, đau mắt và ung thư cũng được coi
là bệnh phổ biến bởi khoảng 16-20% số người dân mắc phải. Tiếng ồn do máy móc
của ô nhiễm môi trường tại các cơ sở sản xuất sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ dừa đến
sức khỏe người dân tại huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đã chỉ ra rằng hầu hết các cơ
sở chưa thống kê được lượng chất thải phát sinh hàng ngày, chưa có biện pháp xử lý
đối với các loại hóa chất nguy hại và cũng như chưa thu gom và xử lý nước thải. Đa số
ở các công nhân xuất hiện các triệu chứng là đau đầu chóng mặt (65,79%), khó thở tức
ngực cũng thường xuyên xuất hiện khi phải làm việc lâu (43,42%). Loại bệnh chủ yếu
công nhân mắc phải là bệnh về hô hấp (43,42%). Loại bệnh thường gặp thứ hai ở các
công nhân là tai mũi họng (34,21%). 29% hộ dân cư xung quanh có thành viên trong
gia đình có biểu hiện đau đầu do tiếng ồn; 9% hộ có biểu hiện của khó thở, tức ngực
và 24% hộ có người có biểu hiện thường xuyên ho hoặc hắt hơi. 23,18% hộ mắc các
bệnh về tai mũi họng, 16,82% hộ mắc các bệnh về đường hô hấp, 10,91% bị mắc các
bệnh ngoài da và 8,18% mắc các bệnh liên quan về đường tiêu hóa. Tỷ lệ mắc bệnh ở
những người chịu ảnh hưởng của tình trạng này gấp 1,66 lần so với những người ít
chịu ảnh hưởng. Từ đó, các tác giả cũng đề xuất một số kiến nghị đối với chính quyền
địa phương, trạm y tế xã, cơ sở mỹ nghệ và các công nhân làm việc trực tiếp tại các cơ
sở để giảm thiểu nguồn gây ô nhiễm của các cơ sở sản xuất mỹ nghệ từ dừa [12].
13
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Khắc Hải và cộng sự năm 2004 cho thấy công
nhân luyện kim đang phải làm việc trong môi trường có điều kiện vi khí hậu bất lợi
cho sức khoẻ. Nhiệt độ không khí ở các công đoạn dao động 30- 34oC (60% mẫu đo
vượt tiêu chuẩn cho phép). Tỷ lệ công nhân phải làm việc trong môi trường nóng và
ẩm là 50- 90%; phải tiếp xúc với hơi khí độc từ 60- 80%. Nồng độ bụi tại các vị trí làm
việc dao động 0,30-36,0 mg/m3 (50% mẫu đo vượt tiêu chuẩn cho phép). Nồng độ bụi
hô hấp tại các vị trí làm việc dao động 0,21- 13,63 mg/m3 với 42% mẫu đo vượt tiêu
chuẩn cho phép. Hàm lượng silic tự do trong bụi hô hấp dao động 3,7-42% [13].
Năm 2008, tác giả Đào Phú Cường và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu môi
trường lao động ở một số cơ sở sản xuất cơ khí vừa và nhỏ tại tỉnh Nam Định. Kết quả
nghiên cứu cho thấy 86,8% mẫu ánh sáng, 83,1% mẫu tiếng ồn, 79,1% mẫu độ ẩm,