Đổi mới nội dung chương trình đào tạo cử nhân ngành giáo dục thể chất trường đại học tây bắc - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH

-----------------------

PHẠM ĐỨC VIỄN

ĐỔI MỚI NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
CỬ NHÂN NGÀNH GIÁO DỤC THỂ CHẤT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC

BẮC NINH - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH

-----------------------

PHẠM ĐỨC VIỄN

ĐỔI MỚI NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
CỬ NHÂN NGÀNH GIÁO DỤC THỂ CHẤT

BGD&ĐT

: Bộ Giáo dục & Đào tạo

cm

: centimet

CP

: Chính phủ

CSVC

: Cơ sở vật chất

CT

: Chương trình

CTĐT

: Chương trình đào tạo

GD

: Giáo dục

GDĐH


Nxb

: Nhà xuất bản



: Quyết định

s

: giây

SV

: Sinh viên

TDTT

: Thể dục thể thao

TDTT NK

: Thể dục thể thao ngoại khóa

THPT

: Trung học phổ thông

TW


3.5. Mức độ đáp ứng yêu cầu về trang thiết bị và cơ sở hạ tầng phục
vụ cho công tác giảng dạy, học tập
3.6. Thực trạng hình thái và thể lực đầu vào của sinh viên ngành

Sau
Tr.71
73

Giáo dục thể chất, Trường Đại học Tây Bắc
3.7. Thực trạng kết quả phân loại trình độ thể lực đầu vào của sinh

74

viên Ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học Tây Bắc
3.8. Kết quả phỏng vấn lựa chọn tiêu chí đánh giá nội dung Chương
trình đào tạo cử nhân Ngành Giáo dục thể chất ở Trường Đại

Sau
Tr.77

học Tây Bắc
3.9. Thực trạng nội dung Chương trình đào tạo cử nhân Ngành Giáo

80

dục thể chất ở Trường Đại học Tây Bắc
3.10. Kết quả phỏng vấn cán bộ quản lý và giáo viên về hoạt động

82


3.15. Thực trạng kết quả phân loại trình độ thể lực đầu ra của sinh

87

viên Ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học Tây Bắc
3.16. Kết quả đánh giá phẩm chất và năng lực công tác của cử nhân
ngành Giáo dục thể chất theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội
3.17. Thực trạng việc làm của cử nhân khóa 52 Ngành Giáo dục thể

Sau
Tr.88
89

chất Trường Đại học Tây Bắc thời điểm 1 năm sau khi tốt
nghiệp (n=130)
3.18. So sánh các tiêu chuẩn được lựa chọn của luận án với các bộ

93

tiêu chuẩn liên quan
3.19. Kết quả khảo sát ý kiến đánh giá về chương trình đào tạo của
các đối tượng liên quan
3.20. Chương trình và kế hoạch đào tạo

Sau
Tr.109
Sau
Tr.112

3.21. Thống kê nội dung lược bỏ giữa chương trình mới so với

3.26 Kết quả đánh giá mục tiêu chương trình đào tạo thực nghiệm

126

3.27 So sánh kết quả đánh giá mục tiêu chương trình đào tạo thực

126

nghiệm với chương trình đào tạo cũ
3.28 Kết quả đánh giá nội dung chương trình đào tạo thực nghiệm

127

3.29 So sánh kết quả đánh giá nội dung chương trình đào tạo thực

128

nghiệm với chương trình đào tạo cũ
3.30 Kết quả đánh giá hoạt động nội khóa của chương trình đào tạo

128

thực nghiệm
3.31 So sánh kết quả đánh giá hoạt động nội khóa chương trình

129

đào tạo thực nghiệm với chương trình đào tạo cũ
3.32 Kết quả đánh giá hoạt động ngoại khóa của chương trình


MỞ ĐẦU

1

Mục đích nghiên cứu

4

Nhiệm vụ nghiên cứu

4

Giải thuyết khoa học

5

Ý nghĩa khoa học

5

Ý nghĩa thực tiễn

5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

6

1.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về Giáo dục - Đào tạo và giáo dục thể



1.3.2. Các bước thiết kế và phát triển chương trình đào tạo

20

1.3.3. Một số tiếp cận phổ biến trong xây dựng, phát triển chương trình

21

đào tạo
1.3.4. Thiết kế chương trình đào tạo theo hướng tiếp cận năng lực đầu ra

22

1.3.5. Một số yêu cầu trong xây dựng nội dung chương trình đào tạo

27

1.4. Tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá chương trình đào tạo và các mô hình

32


đánh giá chương trình đào tạo
1.4.1. Khái niệm về đánh giá chương trình, các tiêu chuẩn, tiêu chí đánh

32

giá chương trình đào tạo
1.4.2. Mô hình và đối tượng tham gia đánh giá chương trình đào tạo

47

1.7.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

47

1.7.2. Các công trình nghiên cứu có liên quan tại Việt Nam

49

Kết luận chương

52

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

53

2.1. Phương pháp nghiên cứu

53

2.1.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu

53

2.1.2. Phương pháp quan sát sư phạm

54


61

2.2.3. Địa điểm nghiên cứu

62

2.2.4. Kế hoạch và thời gian nghiên cứu

62

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

63


3.1. Đánh giá thực trạng nội dung Chương trình đào tạo cử nhân Ngành

63

Giáo dục thể chất Trường Đại học Tây Bắc
3.1.1. Phương pháp tiếp cận trong đánh giá nội dung Chương trình đào

63

tạo cử nhân Ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học Tây Bắc
3.1.2. Đánh giá thực trạng các yếu tố đảm bảo thực hiện nội dung

65

Chương trình đào tạo cử nhân Ngành Giáo dục thể chất ở Trường Đại học


3.3. Ứng dụng đánh giá hiệu quả của nội dung Chương trình đào tạo cử 122
nhân Ngành Giáo dục thể chất ở Trường Đại học Tây Bắc
3.3.1. Tổ chức thực nghiêm

122

3.3.2. Đánh giá hiệu quả thực nghiệm

124

3.3.3. Bàn luận kết quả nghiên cứu nhiệm vụ 3

134

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

137

1. Kết luận

137

2. Kiến nghị

138

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
TÀI LIỆU THAM KHẢO


dưới, phân hóa sâu ở các lớp trên. Vài năm tới, GV cấp THCS sẽ phải điều
chỉnh phương pháp dạy theo hướng liên môn. Trong khi đó, GV hiện nay hầu
hết được đào tạo chuyên ngành. Thực tế ấy đòi hỏi phải có chương trình, nội


2
dung, phương pháp bồi dưỡng, đào tạo lại để chủ động trang bị cho đội ngũ GV
hiện có những kiến thức, kỹ năng cần thiết đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới chứ
không thể chờ các trường sư phạm.
Tuy nhiên, trong thực tiễn quá trình đào tạo còn nhiều hạn chế. Nghị quyết
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ ra rằng,
“trong những năm vừa qua lĩnh vực giáo dục và đào tạo vẫn còn nhiều hạn chế
và yếu kém” [2]. Chính vì vậy, Đảng ta đã xác định cần phải có những đổi mới
trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo để tạo ra
đội ngũ lao động tri thức đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ trong tình hình
mới. Nghị quyết Đại hội đã nêu rõ một trong 5 nhiệm vụ để phát triển đất nước
là: “Phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân
lực” [2]. Điều đó cho thấy giáo dục đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong
chiến lược phát triển của mỗi quốc gia. Đội ngũ giáo viên là lực lượng nòng cốt
biến các mục tiêu giáo dục thành hiện thực, giữ vai trò quyết định chất lượng và
hiệu quả giáo dục. Xu thế đổi mới giáo dục đang đặt ra những yêu cầu mới về
phẩm chất, năng lực của người giáo viên. Giáo viên trước hết phải là một nhà
giáo dục, có đủ năng lực hoạt động nghề nghiệp, là một công dân gương mẫu,
hăng hái tham gia vào sự phát triển cộng đồng, giáo viên không chỉ đóng vai trò
truyền đạt các tri thức khoa học kỹ thuật mà đồng thời phải là người tổ chức và
trực tiếp thực hiện các hoạt động giáo dục.
Thể dục thể thao (TDTT) là một bộ phận không thể thiếu được trong hệ
thống giáo dục xã hội chủ nghĩa. Đó là phương tiện giáo dục, giáo dưỡng, bồi
dưỡng thế hệ trẻ cho tương lai phát triển toàn diện về Đức, Trí, Thể, Mỹ, Lao
động, nhằm xây dựng con người mới XHCN, đó là những con người có khả

sắc văn hoá các dân tộc thiểu số trên địa bàn nơi công tác theo định hướng Nghị
quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam: “Tiếp tục
xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, bảo tồn và
phát huy các giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc” [2], đáp ứng được nhu cầu
thưởng thức văn hóa và giải trí của xã hội trong các hoạt động lễ hội của địa
phương. Tuy nhiên thực tế trong CTĐT cử nhân ngành GDTC và Cao đẳng của
các trường vùng núi phía Tây Bắc lại chưa có trường nào xây dựng chương trình
dựa trên cơ sở đáp ứng những nhu cầu đó. Trong CTĐT, bên cạnh những nội
dung cơ bản, các môn thể thao hiện đại của ngành GDTC, sự cần thiết phải lựa
chọn đưa vào CTĐT các trò chơi dân gian, các môn thể thao dân tộc nhằm phát
huy tiềm năng của các trường, phù hợp với sở thích của học sinh và đáp ứng


4
được nhu cầu xã hội thuộc khu vực các tỉnh vùng núi phía Tây Bắc.
Cùng với mục tiêu đổi mới chung của ngành giáo dục, các trường Đại học, Cao
đẳng, Trung học chuyên nghiệp đã và đang phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo toàn
diện, coi việc nâng cao chất lượng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của các trường
trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Để đáp ứng yêu cầu cấp bách đó, cùng với các
giải pháp đồng bộ như tăng cường cơ sở vật chất phục vụ công tác dạy và học, đổi mới
kế hoạch đào tạo, đổi mới phương pháp giảng dạy nâng cao chất lượng giáo dục, nâng
cao trình độ chuyên môn của mỗi giáo viên thì vấn đề xây dựng, đổi mới nội dung
CTĐT của các trường là một vấn đề rất cần thiết và phải được chú trọng đúng mức.
Hiểu rõ tầm quan trọng của lĩnh vực này, nhiều nhà khoa học giáo dục đã quan tâm
nghiên cứu. Tuy nhiên các đề tài chủ yếu được tiến hành nghiên cứu chương trình cho
các chuyên ngành ở trình độ Đại học và Cao đẳng...., Nguyễn Cẩm Ninh “Nghiên cứu
xây dựng nội dung giảng dạy cử nhân ngành Quản lý TDTT”; Trần Vũ Phương
"Nghiên cứu xây dựng CTĐT ngành GDTC trình độ Cao đẳng theo hướng góp phần
nâng cao năng lực hoạt động nghề nghiêp, chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu
cầu xã hội"; Nguyễn Văn Hòa “Đánh giá CTĐT cử nhân ngành Huấn luyện thể thao

Ý nghĩa khoa học:
Hệ thống hóa và hoàn thiện các vấn đề lý luận liên quan tới các quan điểm
của Đảng và Nhà nước về Giáo dục - Đào tạo và GDTC; Những yêu cầu cấp
bách trong đổi mới giáo dục và GDTC; quan điểm về xây dựng và đánh giá
CTĐT cũng như định hướng đổi mới đào tạo cử nhân ngành GDTC tại Trường
Đại học Tây Bắc.
Ý nghĩa thực tiễn:
Đánh giá được thực trạng các điều kiện đảm bảo và nội dung CTĐT cử
nhân ngành GDTC tại Trường Đại học Tây Bắc, trên cơ sở đó, tiến hành đổi mới
nội dung CTĐT cử nhân ngành GDTC tại Trường theo hướng khoa học, phù
hợp với điều kiện thực tiễn và đáp ứng nhu cầu xã hội. Bước đầu ứng dụng nội
dung chương trình đổi mới trong thực tiễn đã thu được hiệu quả thiết thực.


6
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về Giáo dục - Đào tạo và giáo dục
thể chất
1.1.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về vai trò của Giáo dục - Đào tạo
trong sự nghiệp phát triển đất nước
Giáo dục và Đào tạo là một vấn đề hết sức quan trọng trong đời sống kinh
tế - chính trị của mỗi nước, là biểu hiện trình độ phát triển của mỗi quốc gia.
Sinh thời, Hồ Chí Minh đã từng nói: “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” [23].
Vì vậy, ngay từ những ngày đầu mới giành được chính quyền, Đảng ta luôn xác
định, phát triển GD-ĐT nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực có chất
lượng tốt là một nhiệm vụ quan trọng của cách mạng Việt Nam.
Từ Nghị quyết của Đại hội lần thứ IV đến nay, Đảng đã xem giáo dục là bộ
phận quan trọng của cuộc cách mạng tư tưởng; thực thi nhiệm vụ chăm sóc và
giáo dục thế hệ trẻ từ nhỏ đến lúc trưởng thành. Nghị quyết Đại hội X tiếp tục

phát triển đất nước [4]. Các quan điểm chỉ đạo đó đã được cụ thể hóa trong nghị
quyết số 44/NQ-CP ngày 9/6/2014 và kế hoạch hành động của ngành Giáo dục
(Ban hành kèm theo Quyết định số 2653 /QĐ-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2014
của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) [27].
Như vậy, quan điểm về đổi mới giáo dục và đào tạo của Đảng ta đã không
ngừng được bổ xung và phát triển cho phù hợp với những yêu cầu của thời đại
mới. Những quan điểm này là cơ sở, là nền tảng để Bộ, các Sở, Phòng GD-ĐT,
các trường học trên cả nước tiến hành đổi mới công tác dạy và học mang lại hiệu
quả giáo dục ngày càng cao.
1.1.3. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác Giáo dục thể chất
Giáo dục thể chất“là một trong những hình thức hoạt động cơ bản có định
hướng rõ của TDTT trong xã hội” [78], TDTT là một bộ phận của nền văn hóa,
trình độ phát triển TDTT là một trong những tiêu chí đánh giá trình độ văn hóa và
năng lực sáng tạo của dân tộc, là phương tiện giao lưu văn hóa nói chung, văn hóa
thể chất nói riêng, mở rộng các mối quan hệ quốc tế. Vì vậy, Đảng và Nhà nước
ta luôn chú trọng đến công tác đổi mới nhằm phát triển hơn nữa công tác GDTC.
Đảng và Nhà nước ta đã chỉ rõ, nhiệm vụ chính của GDTC là: Nâng cao sức
khỏe, đảm bảo sự phát triển bình thường của cơ thể học sinh, sinh viên; phát triển
thể lực, trang bị những kỹ năng vận động cơ bản và cần thiết cho cuộc sống; hình
thành thói quen rèn luyện thân thể, giữ vệ sinh và giữ phẩm chất đạo đức, nhân
cách học sinh, sinh viên, những chủ nhân tương lai của đất nước [66], [78].
Đảng, Nhà nước ta khẳng định, sự phát triển GDTC phải đảm bảo theo
quan điểm đường lối chung của Đảng, Nhà nước, của ngành TDTT và Ngành
GD-ĐT, phải đảm bảo tính dân tộc, tính khoa học và tính nhân dân. Trong đó,
Đảm bảo tính dân tộc có nghĩa là: Hình thức, nội dung các hoạt động GDTC phải
mang bản sắc dân tộc, vì mục đích, lợi ích dân tộc. Đảm bảo tính khoa học là: Kế
thừa có chọn lọc các tri thức về TDTT của nhân loại; mọi hoạt động GDTC phải
phù hợp với quy luật phát triển tâm, sinh lý của con người [26], [78].
Trong công tác đổi mới GDTC trường học thì nhiệm vụ đổi mới CTĐT
nhằm bồi dưỡng, chuẩn hóa đội ngũ giáo viên GDTC đóng vai trò là nòng cốt.

là: Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân
dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ
đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngay trong
Luật Giáo dục, vấn đề giáo dục sức khỏe cho học sinh, sinh viên trong trường
học các cấp đã được quan tâm chú ý [61].
1.2. Những yêu cầu cấp bách trong đổi mới giáo dục và giáo dục thể
chất thời kỳ hội nhập
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, giữa một thế
giới đầy biến động, nhiều cơ hội và nhiều thách thức, mỗi người Việt Nam và cả


11
dân tộc Việt Nam đang đối mặt với những yêu cầu gay gắt về kinh tế, văn hóa,
khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh... thì rất cần nghiên cứu, bổ sung để
có một xác định cụ thể, đầy đủ về sứ mạng và mục tiêu của giáo dục.
Hơn hai chục năm qua, Đảng đã nêu ra một loạt quan điểm về giáo dục
theo đường lối đổi mới kinh tế - xã hội. Khẳng định: “Giáo dục và đào tạo, cùng
với khoa học và công nghệ, là quốc sách hàng đầu”, “coi đầu tư cho giáo dục là
một trong những hướng chính của đầu tư phát triển tạo điều kiện cho giáo dục đi
trước và phục vụ đắc lực sự phát triển kinh tế - xã hội”... Nhưng nhìn lại, những
quan điểm đúng đắn đó mới dừng ở nhận thức ban đầu, chưa được cụ thể hóa và
quán triệt đầy đủ trong hành động. Vì vậy, giáo dục chưa thực sự chuyển biến.
Tình trạng yếu kém, lạc hậu về giáo dục đang là nỗi bức xúc của cả xã hội và là
nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự yếu kém, lạc hậu trong phát triển kinh tế - xã hội
nói chung.
Vừa qua, Đại hội XI đặt vấn đề: “Đổi mới căn bản, toàn diện về giáo dục
và đào tạo”, qua đó có thể nói, Đảng đã thấy sự cấp bách và bức xúc của vấn đề
này. Đổi mới hay cải cách, trong trường hợp này, không đơn thuần là khác biệt
về câu chữ. Đổi mới chắp vá, thiếu một tầm nhìn tổng thể, một kế hoạch đồng
bộ, như những năm qua và ngay như hiện nay, thì còn xa mới có tính căn bản và

tiến hành phổ cập còn nặng tính hình thức, hai cấp tiểu học và trung học cơ sở
chưa bảo đảm cho mọi công dân đạt được một trình độ giáo dục tối thiểu cần
thiết để hưởng sự công bằng về cơ hội phát triển. Để giải quyết vấn đề này, đã
có nhiều ý kiến đề nghị cấu trúc lại để tiểu học và trung học cơ sở gắn kết thành
một tổng thể hoàn chỉnh, có tính chất bắt buộc đối với mọi công dân và không
thu học phí. Còn sau giáo dục cơ sở, để thực hiện phân luồng, thì có thể mở ra
nhiều loại trường trung học có đào tạo nghề, trong đó trung học phổ thông tập
trung chuẩn bị cho việc học tiếp ở cấp sau trung học.
Về giáo dục nghề nghiệp, là bộ phận có nhiệm vụ đào tạo ra những người
lao động có tay nghề, trải qua mấy lần thay đổi về tổ chức và cũng được quan
tâm đầu tư, nhưng vẫn chưa ra khỏi tình trạng bất cập. Việc nhiều công trình xây
dựng phải sử dụng lao động nước ngoài, ngay cả đối với những công việc không
đòi hỏi kỹ thuật cao, tất nhiên có khuyết điểm, sai lầm trong quản lý lao động...
song không thể không thấy đó là sự yếu kém trong công tác dạy nghề. Rõ ràng,
cùng với việc mở mang kinh tế, tạo thêm việc làm, rất cần nâng cấp hệ thống
giáo dục nghề nghiệp để đạt chất lượng cao trong đào tạo và có sức thu hút thế
hệ trẻ.
Về giáo dục đại học, không thể cắt nghĩa nổi sự gia tăng ồ ạt về số lượng
các trường trong mấy năm vừa qua. Chỉ từ 2006 đến 2010, đã có thêm 64 trường
đại học và cao đẳng, trong khi các trường hiện có vẫn thiếu giảng viên có đủ
trình độ để bảo đảm chất lượng. Hơn nữa, không ít giáo sư, phó giáo sư vẫn phải


13
“chạy sô”, với số giờ dạy vượt xa mức quy định, khiến không thể có thời gian
nghiên cứu khoa học, mà nghiên cứu khoa học lại là yêu cầu bắt buộc ở cấp học
này. Bước vào thời kỳ đổi mới, đã từng có chủ trương “mở rộng đầu vào, sàng
lọc trong quá trình đào tạo, thắt chặt đầu ra” nhưng rồi quy trình này bị dỡ bỏ và
các trường đại học, cao đẳng đang thực hiện một quy trình đảo ngược: “thắt chặt
đầu vào, đã vào là tốt nghiệp”. Đến năm học này, cả đầu vào cũng phải nới rộng

anh em (cần bảo tồn và phát triển), cho nên trong cuộc cải cách sắp tới, phải có
những phương án xử lý khác nhau đối với chương trình giáo dục phổ thông cũng
như cần có nhiều bộ sách giáo khoa.
Về nội dung đào tạo đại học, cao đẳng, rất cần loại bỏ những kiến thức lạc
hậu, bảo đảm để chương trình, giáo trình cập nhật với những thành tựu mới
trong khoa học (cả tự nhiên và kỹ thuật, cả xã hội và nhân văn). Về phương
pháp đào tạo, phải lấy tự học là chính, đồng thời tạo cơ hội để sinh viên tham gia
các hoạt động nghiên cứu, giải quyết những vấn đề do xã hội đặt ra. Chỉ có thực
sự đổi mới một cách căn bản nội dung và phương pháp đào tạo thì các trường
đại học và cao đẳng mới đóng góp có hiệu quả vào việc thực hiện chủ trương
“phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” và
“gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa
học, công nghệ” [65].
Thay đổi căn bản và toàn diện một nền giáo dục là một công trình lớn của
quốc gia, không thể một vài năm mà xong. Tình thế rất bức thiết, phải khẩn
trương nhưng lại phải căn cơ, bài bản, không thể riêng một mình ngành giáo dục
làm nổi. Trước mắt, Trung ương cần bàn và ra nghị quyết, xác định mục tiêu,
yêu cầu và những vấn đề trọng tâm cần tập trung để nền giáo dục thực sự đổi
mới căn bản và toàn diện. Trong đó, rất quan trọng là quyết định thành lập một
tổ chức làm nhiệm vụ xây dựng đề án tổng thể, nêu ra được giải pháp và lộ trình,
để trình Trung ương và Quốc hội theo quy định của pháp luật. Tổ chức này, có
thể là Ủy ban Cải cách giáo dục, cần bao gồm các nhà khoa học, các chuyên gia
trong nước và nước ngoài, am hiểu và có kinh nghiệm về giáo dục và các lĩnh
vực liên quan đến giáo dục. Bộ Giáo dục và Đào tạo có vai trò quan trọng trong
hoạt động của Ủy ban nên cần chấn chỉnh, kiện toàn, đổi mới thật sự về năng lực
và cung cách quản lý [82].
Một trong những mục tiêu đổi mới mạnh mẽ nhằm hiện thực hóa Nghị
quyết 29/NQ-TƯ về đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT chính là đổi mới



đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Chứng kiến cuộc cách mạng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status