Luận văn thạc sỹ - Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại công ty Cổ phần than Cọc Sáu - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI
------------

VŨ THỊ DUYÊN

HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ
GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
THAN CỌC SÁU
CHUYÊN NGÀNH: KẾ TOÁN
MÃ SỐ: 60.34.03.01

Người hướng dẫn khoa học:
TS. PHAN THỊ THU MAI

HÀ NỘI - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của
riêng tác giả. Luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn nhiệt tình của
TS. Phan Thị Thu Mai. Những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện
luận văn là hoàn toàn trung thực và có được từ những nghiên cứu, tìm
hiểu và thu thập số liệu mà tác giả đã tiến hành trong thời gian qua.
Nếu có sai sót, tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm!
Tác giả

Vũ Thị Duyên



BHYT
BHTN
KPCĐ
KPĐ
PX
KKTX
KKĐK

Ghi chú
Chi phí
Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất chung
Nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu trực tiếp
Công cụ dụng cụ
Nhân công trực tiếp
Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm y tế
Bảo hiểm thất nghiệp
Kinh phí công đoàn
Kinh phí đảng
Phân xưởng
Kê khai thường xuyên
Kiểm kê định kỳ


LỜI MỞ ĐẦU
Nhìn lại chặng đường 9 năm, kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO, nước ta đã đón
nhận được nhiều cơ hội và đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Hội nhập đã giúp nước ta
có nhiều cơ hội tiếp cận với khoa học kỹ thuật công nghệ mới, kỹ năng quản lý tiên

kinh tế - xã hội. Ở Việt Nam, ngành khai khoáng nói chung là ngành kinh tế mũi
nhọn, chiếm tỷ trọng GDP lớn và cũng là một trong những ngành công nghiệp gây
nhiều tác động nhất đến môi trường và xã hội.
Việt Nam có hơn 5000 điểm mỏ với khoảng 60 loại khoáng sản khác nhau.
Nguồn tài nguyên khoáng sản của Việt Nam tương đối phong phú và đa dạng về
chủng loại gồm các nhóm khoáng sản nhiên liệu (dầu khí, than); nhóm khoáng sản
sắt và hợp kim sắt (sắt, cromít, titan, mangan); nhóm khoáng sản kim loại màu
(bôxit, thiếc, đồng, chì-kẽm, antimon, molipden); nhóm khoáng sản quý (vàng, đá
quý); nhóm khoáng sản hoá chất công nghiệp (Apatít, cao lanh, cát thuỷ tinh); nhóm
khoáng sản vật liệu xây dựng (đá vôi xi măng, đá xây dựng, đá ốp lát).
Với tiềm năng về trữ lượng lớn, nguồn năng lượng than có tầm quan trọng
đặc biệt đối với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam cả quá khứ, hiện tại và tương
lai. Do điều kiện khai thác than cũng ngày một khó khăn, ngành than Việt Nam phải
đối mặt với một thực tế là giá thành than khai thác ngày một giảm. Giá thành là chỉ
tiêu ảnh hưởng trực tiếp đến lãi kinh doanh của doanh nghiệp. Vì thế, hạch toán
khoa học, tính toán chính xác chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm
trong các doanh nghiệp là điều kiện hết sức cần thiết, thông tin về chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm còn là căn cứ quan trọng để phân tích, đánh giá, tìm ra các
nguyên nhân ảnh hưởng đến biến động giá thành, cung cấp được các thông tin để bộ
máy quản trị doanh nghiệp có thể ra các quyết định về quản lý chi phí, giá thành và
tiến tới mục tiêu cuối cùng là đạt được tổng mức lợi nhuận cao nhất trong kinh
doanh của doanh nghiệp.
Xuất phát từ thực tế này, tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài cho luận văn
của mình: “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại công ty
Cổ phần than Cọc Sáu”.

2. Tổng quan về các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Khi tìm hiểu về để tài: Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm tại công ty Cổ phần than Cọc Sáu” tác giả cũng đã tìm hiểu và nhận thấy cho


sản phẩm tại Công ty Cổ phần Than Cọc Sáu”, tác giả nghiên cứu cơ sở lý luận về
kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm dưới góc độ kế toán tài chính và

3


kế toán quản trị, từ đó vận dụng lý luận cơ bản để phân tích, đánh giá thực trạng và
đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm tại Công ty Cổ phần Than Cọc Sáu. Qua kết quả nghiên cứu, tác giả hy
vọng những giải pháp của đề tài thực sự có ý nghĩa đối với thực tiễn hoạt động sản
xuất kinh doanh của công ty. Có thể giúp công ty trong việc tổ chức kế toán chi phí
sản xuất và giá thành sản phẩm đạt hiệu quả hơn.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Về mặt lý luận: Tổng hợp toàn bộ những vấn đề lý luận cơ bản của kế toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất công nghiệp.
- Về mặt thực tiễn: Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm tại công ty CP than Cọc Sáu, tìm hiểu những ưu điểm
đạt được cũng như những hạn chế còn tồn tại trong kế toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm tại công ty CP than Cọc Sáu, để qua đó tác giả mong rằng có thể
kiến nghị các giải pháp giúp công ty hoàn thiện và khắc phục được hạn chế còn tồn
tại nhằm tăng cường công tác quản trị chi phí trong công ty.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm với việc tăng cường quản trị chi phí sản xuất trong các doanh
nghiệp sản xuất công nghiệp; thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm tại Công ty Cổ phần than Cọc Sáu từ đó kiến nghị các giải pháp nhằm
hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại công ty Cổ phần than
Cọc Sáu.

công ty.
Từ nguồn dữ liệu thu thập ở trên tác giả vận dụng các phương pháp nghiên cứu
như: tổng hợp, so sánh .để trình bày, phân tích, đánh giá, nghiên cứu thực trạng kế toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần than Cọc Sáu.

6. Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa về lý luận: Đề tài nghiên cứu góp phần hệ thống vấn đề lý luận cơ
bản về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm khi áp dụng Chuẩn mực, chế
độ kế toán Việt Nam, thông tư hướng dẫn do Bộ tài chính ban hành áp dụng trong
kế toán các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp.

5


Ý nghĩa thực tiễn: Các giải pháp kiến nghị của đề tài sẽ là tài liệu giúp cho
Công ty Cổ phần than Cọc Sáu tham khảo, đề xuất được toàn bộ quá trình hạch toán
kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của đơn vị mình để từ đó kế
toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của Công ty có hiệu quả hơn.

7. Kết cấu đề tài
Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm trong doanh nghiệp sản xuất công nghiệp.
Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
tại Công ty Cổ phần than Cọc Sáu
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần than Cọc Sáu

6




hay không cần thiết. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động của mình các nhà quản lý
còn phải quan tâm đến tính xã hội của chi phí, tức là chi phí cá biệt của các doanh
nghiệp phải đảm bảo ở mức độ trung bình của xã hội và được xã hội chấp nhận, có
như vậy các nhà quản lý doanh nghiệp mới có thể đưa ra được những quyết định hợp
lý trong từng thời kỳ cụ thể để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Xét về thực chất thì chi phí sản xuất kinh doanh là sự chuyển dịch vốn của
doanh nghiệp vào đối tượng tính giá nhất định, nó là vốn của doanh nghiệp bỏ vào
quá trình sản xuất kinh doanh. Vì vậy, để quản lý có hiệu quả và kịp thời đối với
hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, doanh nghiệp luôn cần biết số chi phí đã
chi ra cho từng loại hoạt động, từng loại sản phẩm, dịch vụ là bao nhiêu, số chi phí
đã chi ra đã cấu thành trong số sản phẩm , lao vụ, dịch vụ hoàn thành là bao nhiêu,
tỷ trọng từng loại chi phí, khả năng hạ thấp các loại chi phí này…Chỉ tiêu thỏa mãn
được những thông tin mang các nội dung này chính là giá thành sản phẩm.
Như vậy, Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những hao phí
về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí khác được dùng để sản xuất hoàn
thành một khối lượng sản phẩm, lao vụ dịch vụ nhất định.
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu mang tính giới hạn và xác định, vừa
mang tính chất khách quan vừa mang tính chất chủ quan. Trong hệ thống các chỉ
tiêu quản lý doanh nghiệp, giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản
ánh kết quả sử dụng các loại tài sản trong quá trình sản xuất kinh doanh, cũng như
tính đúng đắn của những giải pháp quản lý mà doanh nghiệp đã thực hiện để nhằm
mục đích hạ thấp chi phí, tăng lợi nhuận.

1.1.2 Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
1.1.2.1 Phân loại chi phí sản xuất
Trên thực tế chi phí sản xuất trong doanh nghiệp bao gồm nhiều thứ khác
nhau, các doanh nghiệp có thể lựa chọn các tiêu thức khác nhau phân loại chi phí sản
xuất để phù hợp yêu cầu quản lý, hạch toán, kiểm tra cũng như phục vụ cho việc ra

- Chi phí nhân công trực tiếp: Phản ánh toàn bộ chi phí tiền lương, phụ cấp
tiền lương và các khoản trích theo lương: BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ của công
nhân trực tiếp sản xuất.
- Chi phí sản xuất chung: Là các khoản chi phí cần thiết khác phục vụ cho
quá trình sản xuất sản phẩm phát sinh ở phân xưởng, bộ phận sản xuất.
Phân loại chi phí sản xuất trên góc độ kế toán quản trị
* Theo mối quan hệ với phạm vi sản xuất: Theo cách phân loại này giúp cho
các doanh nghiệp có thể xác định được rõ vai trò, chức năng từng khoản mục chi
phí trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, gồm:
+ Chi phí sản xuất gồm: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công
trực tiếp, chi phí sản xuất chung.
9


+ Chi phí ngoài sản xuất: Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
* Theo nội dung kinh tế: chi phí được chia thành 5 yếu tố - giống như trong
kế toán tài chính (đã trình bày ở trên).
*Theo khả năng quy nạp chi phí vào đối tượng kế toán chi phí: Theo cách
phân loại này có ý nghĩa về mặt kỹ thuật qui nạp chi phí vào đối tượng tập hợp chi
phí sản xuất, giúp cho việc kiểm soát chi phí được thuận lợi hơn, gồm:
+ Chi phí trực tiếp: Là các chi phí tại thời điểm phát sinh liên quan trực tiếp
đến từng đối tượng kế toán tập hợp chi phí (từng loại sản phẩm, công việc, đơn đặt
hàng…) chúng ta có thể quy nạp trực tiếp cho đối từng đối tượng chịu chi phí (VD:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp).
+ Chi phí gián tiếp: Là các chi phí liên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập
hợp chi phí khác nhau, tại thời điểm phát sinh những chi phí này không thể quy nạp
trực tiếp cho từng đối tượng tập hợp chi phí được, mà khi các chi phí này phát sinh
phải tập hợp theo từng nơi phát sinh chi phí, sau đó cuối kỳ quy nạp cho từng đối
tượng theo các tiêu thức phân bổ gián tiếp (VD: chi phí sản xuất chung).
* Theo mối quan hệ giữa chi phí với mức độ hoạt động: Theo cách phân loại

* Theo mối quan hệ với kỳ tính kết quả kinh doanh
+ Chi phí thời kỳ: Là các chi phí phát sinh cho hoạt động kinh doanh trong
kỳ, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận trong cùng một kỳ kế toán. VD: chi phí bán
hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp.
+ Chi phí sản phẩm: Là những khoản chi phí phát sinh gắn liền với quá trình
sản xuất sản phẩm hoặc quá trình mua hàng hóa để bán: VD chi phí nhân công, chi
phí nguyên vật liệu, chi phí sản xuất chung.

1.1.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm
*Xét theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành, giá thành được
chia làm ba loại:
- Giá thành định mức: giá thành định mức được xác định trước khi bước vào
quá trình sản xuất. Giá thành định mức được tính trên cơ sở các định mức chi phí
hiện hành và chỉ tính cho một đơn vị sản phẩm. Định mức chi phí được xác định
trên cơ sở các định mức kinh tế - kỹ thuật của từng doanh nghiệp trong từng thời kỳ.
Giá thành định mức là công cụ để quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản xuất sản
phẩm, là căn cứ để đánh giá đúng đắn kết quả thực hiện các giải pháp kinh tế, kỹ
thuật mà doanh nghiệp đã đề ra trong quá trình SXKD.
- Giá thành kế hoạch: giá thành kế hoạch được xác định trước khi bước vào
quá trình sản xuất trên cở sở giá thành kỳ trước và các định mức, các dự toán chi
phí của kỳ kế hoạch. Giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp
trong việc tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm.
- Giá thành thực tế: Giá thành thực tế là chỉ tiêu được xác định sau khi kết thúc
quá trình sản xuất sản phẩm trên cở sở số liệu các chi phí phát sinh sản xuất thực tế
phát sinh và tập hợp được trong quá trình sản xuất sản phẩm.Giá thành sản xuất thực tế
là căn cứ để xác định kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

11



mặt của quá trình sản xuất: mặt hao phí sản xuất và mặt kết quả sản xuất. Chúng
giống nhau về chất vì đều là biểu hiện bằng tiền những hao phí về lao động sống và
lao động vật hóa mà doanh nghiệp phải bỏ ra. Chi phí sản xuất luôn gắn liền với
một thời kỳ nhất định không phân biệt cho loại sản phẩm nào? Đã hoàn thành hay
chưa hoàn thành. Giá thành sản phẩm là gắn liền với một khối lượng, công việc,
dịch vụ nhất định và đã hoàn thành.
Đứng trên góc độ quá trình hoạt động để xem xét thì quá trình sản xuất là
một quá trình hoạt động liên tục, còn việc tính giá thành sản phẩm thực hiện tại một
điểm cắt có tính chất chu kỳ để so sánh chi phí với khối lượng sản phẩm, lao vụ,
dịch vụ hoàn thành. Tại thời điểm tính giá thành có thể có một khối lượng sản phẩm
chưa hoàn thành, chứa đựng một lượng chi phí cho nó – đó là chi phí dở dang cuối
kỳ. Tương tự như vậy, đầu kỳ có thể có một số khối lượng sản phẩm sản xuất chưa
hoàn thành ở kỳ trước chuyển sang để tiếp tục sản xuất, chứa đựng một lượng chi
phí cho nó – đó là chi phí dở dang đầu kỳ. Như vậy giá thành sản phẩm hoàn thành
trong kỳ bao gồm chi phí sản xuất của kỳ trước chuyển sang và một phần của chi
phí sản xuất phát sinh trong kỳ.

Sơ đồ mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm được thể

12


hiện bằng công thức 1.2[9, tr.279]
Giá thành
sản xuất

=

Chi phí sản xuất
dở dang đầu kỳ

liên quan đến việc sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau như: phân xưởng, tổ sản
xuất, đội sản xuất, nhà máy... Vậy làm thế nào để xác định đúng đắn chi phí sản
xuất phát sinh trong kỳ là bao nhiêu, đòi hỏi kế toán phải xác định được phạm vi,
giới hạn để xác định chi phí. Đó chính là xác định đối tượng tập hợp chi phí. Hay
nói chính xác là xác định phạm vi và giới hạn của nơi phát sinh chi phí và nơi gánh
chịu chi phí.
Khi xác định đối tượng tập hợp chi phí, kế toán phải căn cứ vào mục đích sử
dụng chi phí sau đó đến đặc điểm quy trình tổ chức sản xuất, quy trình công nghệ
sản xuất, loại hình sản xuất, trình độ và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp.

1.1.4.2 Đối tượng tính giá thành
Sau khi kế toán xác định được đối tượng tập hợp chi phí sản xuất sẽ là cơ sở
để tính giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ theo đối tượng đã xác định.
Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm, bán thành phẩm, công việc,
lao vụ nhất định mà doanh nghiệp đã sản xuất hoàn thành đòi hỏi phải tính tổng giá
thành và giá thành đơn vị.
Cũng như khi xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất, việc xác định đối
tượng tính giá thành cũng cần căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất, quản lý sản
xuất, quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, khả năng, yêu cầu quản lý cũng như
tính chất của từng loại sản phẩm cụ thể.

1.1.5 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
Nội dung cơ bản của phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất, chính là
căn cứ vào đối tượng tập hợp chi phí đã xác định để mở sổ kế toán nhằm ghi chép,
phản ánh các chi phí phát sinh theo đúng đối tượng hoặc phân bổ chi phí sản xuất
phát sinh cho đúng đối tương đó.

14



Ti: Tiêu thức dùng để phân bổ chi phí của đối tượng i

1.2. Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm dưới góc độ kế
toán tài chính
1.2.1 Kế toán chi phí sản xuất theo chế độ kế toán hiện hành
1.2.1.1. Kế toán chi phí sản xuất tại doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho
theo phương pháp kê khai thường xuyên
* Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là chi phí bao gồm toàn bộ giá trị nguyên
vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu… sử dụng trực tiếp cho chế tạo sản

15


phẩm. Chi phí nguyên vật liệu thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. Chi phí nguyên vật liệu thường được quản
lý theo định mức chi phí do doanh nghiệp xây dựng. Đối với những vật liệu xuất
důng có liên quan trực tiếp đến từng đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt thì kế toán
tập hợp trực tiếp cho đối tượng đó. Trường hợp vật liệu xuất dùng có liên quan đến
nhiều đối tượng tập hợp chi phí không thể tách riêng cho các đối tượng có liên quan
thì áp dụng phương pháp tập hợp và phân bổ gián tiếp cho các đối tượng có liên
quan theo tiêu thức phù hợp như: Chi phí định mức, chi phí kế hoạch, khối lượng
sản phẩm sản xuất….
Để theo dõi khoản chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng: TK 621
– Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Tài khoản này được mở chi tiết theo từng đối
tượng tập hợp chi phí sản xuất và tài khoản này không có số dư.
Quy trình hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được tóm tăt phản ánh
qua sơ đồ 01- Kế toán chi phí NVL TT tại doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho
theo PP kê khai thường xuyên (phụ lục 1.1)
* Kế toán chi phí nhân công trực tiếp

-

TK6271 : Chi phí nhân viên phân xưởng

-

TK 6272 : Chi phí về nguyên vật liệu

-

TK 6273: Chi phí công cụ dụng cụ

-

TK 6274 : Chi phí khấu hao tài sản cố định

-

TK 6277: Chi phí dịch vụ mua ngoài

-

TK 6278: Chi phí bằng tiền khác

Quy trình hạch toán chi phí sản xuất chung được tóm tắt phản ánh qua sơ đồ
03 - Kế toán chi phí sản xuất chung tại doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo
phương pháp kê khai thường xuyên (Phụ lục 1.3)
* Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất
Sau khi tập hợp và phân bổ các loại chi phí sản xuất như đã trình bày ở trên
(chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất

* Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Đối với doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê
định kỳ thì chi phí nhân công trực tiếp phát sinh trong kỳ quy trình tập hợp và tài
khoản sử dụng tương tự như với doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương
pháp kê khai thường xuyên. Đến cuối kỳ khi tổng hợp chi phí sản xuất để chuẩn bị
công tác tính giá thành thì chi phí nhân công trực tiếp được kết chuyển về TK 631giá thành sản xuất.
Quy trình hạch toán chi phí nhân công trực tiếp được tóm tắt qua sơ đồ 06 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp tại doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo
phương pháp kiểm kê định kỳ (Phụ lục 1.6)

18


* Kế toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung bao gồm các chi phí sản xuất còn lại tham gia vào
cấu thành nên sản phẩm, dịch vụ ngoài chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí
nhân công trực tiếp. Chi phí sản xuất chung được theo dõi chi tiết theo các tài khoản
cấp 2 tương ứng và tương tự như với doanh nghiệp áp dụng hạch toán hàng tồn kho
theo phương pháp kê khai thường xuyên. Sau đó đến cuối kỳ được kết chuyển vào
TK 631- Giá thành sản xuất
Quy trình hạch toán chi phí sản xuất chung được hạch toán tóm tắt qua sơ đồ
07 Kế toán chi phí sản xuất chung tại doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo
phương pháp kiểm kê định kỳ (Phụ lục 1.7)
* Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất
Sau khi tập hợp và phân bổ các loại chi phí sản xuất như đã trình bày ở trên
(chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất
chung) cho từng đối tượng chịu chi phí để phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm
hoàn thành thì kế toán phải xác định tổng các chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ cụ
thể, do đó các khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực
tiếp, chi phí sản xuất chung cuối cùng được kết chuyển về cùng một tài khoản, đó là
TK 631- Giá thành sản xuất và tài khoản này không có số dư.

toàn bộ chi phí sản xuất sản xuất còn lại (chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản
xuất chung) được tính hết cho sản phẩm hoàn thành, công thức 1.4 [7, tr.113]
Giá trị NVL TT

Số lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ

( hoặc NVL
chính TT) nằm
trong sản phẩm
dở dang

=

( không quy đổi)
Số lượng
thành
phẩm

+

Toàn bộ giá
trị NVLTT
x (hoặc NVL

Số lượng sản phẩm dở

chính TT)

dang (không quy đổi)


dang

x

Số lượng
thành

Toàn bộ giá

+

phẩm

trị vật liệu

Số lượng sản phẩm dở

chính xuất

dang không quy đổi

dùng
( Công thức 1.5)

Chi phí chế

Số lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ

biến nằm
trong sản


Theo phương pháp này, đối với những chi phí bỏ một lần ngay từ đầu quy
trình công nghệ sản xuất thì tỷ lệ hoàn thành 100%, còn các chi phí sản xuất bỏ dần
trong quá trình sản xuất thì tỷ lệ hoàn thành < 100%).
Như vậy, nếu doanh nghiệp áp dụng phương pháp này thì độ chính xác cao,
tuy nhiên tính toán phức tạp, cần nhiều thời gian
* Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí định mức
Phương pháp này áp dụng phù hợp với các doanh nghiệp có xây dựng giá
thành định mức (hoặc giá thành kế hoạch). Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí
nhân công trực tiếp và chi phi sản xuất chung của sản phẩm dở dang được xác định
căn cứ vào định mức tiêu hao của những công đoạn đã thực hiện và tỷ lệ hoàn thành
(Ngoài giá thành định mức như nêu trên, chi phí sản xuất của sản phẩm dở dang
cũng có thể được xác định theo giá thành kế hoạch – trường hợp doanh nghiệp
không xây dựng giá thành định mức). Theo phương pháp này thì chi phí sản xuất
được đánh giá theo từng khoản mục, Công thức 1.7 và công thức 1.8 [14, tr.249].:

21


Chi phí NVLTT dở dang
cuối kỳ
Chi phí chế biến dở
dang cuối kỳ
(theo từng loại)

=

=

Số lượng sản phẩm dở dang


1.2.3 Các phương pháp tính giá thành sản phẩm
Sau khi kế toán tập hợp chi phí sản xuất phát sinh và đánh giá sản phẩm dở
dang cuối kỳ thì việc làm tiếp theo là xác định tổng giá thành và giá thành đơn vị
cho sản phẩm, dịch vụ, công việc hoàn thành.
Tùy thuộc vào đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất tại doanh nghiệp, mà
các doanh nghiệp lựa chọn phương pháp tính giá thành khác nhau. Sau đây là một
số phương pháp tính giá thành trong các doanh nghiệp:
* Phương pháp trực tiếp (giản đơn)
Phương pháp này áp dụng cho những doanh nghiệp có quy trình có quy trình
sản xuất giản đơn như: doanh nghiệp khai thác và sản xuất động lực. Đặc điểm của
quy trình sản xuất giản đơn là chỉ sản xuất một loại hoặc một số ít các mặt hàng với
số lượng lớn, tương đối ổn định, chu kỳ sản xuất ngắn, có thể có hoặc không có sản
phẩm dở dang. Theo phương pháp này, đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là phân
xưởng và đối tượng tính giá thành là sản phẩm, dịch vụ hoàn thành, công thức 1.9
[14, tr.263]
Tổng giá thành

Chi phí sản

Chi phí sản

sản phẩm hoàn = xuất dở dang +
thành trong kỳ

đầu kỳ

xuất phát
sinh trong kỳ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status