ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
----------
TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH CÔNG
Đề tài:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN
THIỆN CƠ CHẾ PHÂN CẤP QUẢN LÝ
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY
GVHD
: TS. Nguyễn Thanh Dương
Nhóm thực hiện : Nguyễn Thái Dung
Trần Thị Mỹ Duyên
Lê Thúy Hằng
Phạm Sơn Nghĩa
Hoàng Thị Xuân
TP. Hồ Chí Minh, tháng 2 năm 2017
TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH CÔNG
GVHD: TS. NGUYỄN THANH DƯƠNG
MỤC LỤC
MỤC LỤC....................................................................................................................................................2
LỜI MỞ ĐẦU..............................................................................................................................................4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN
3.4 Các giải pháp hỗ trợ khác.................................................................................................................30
KẾT LUẬN................................................................................................................................................32
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................................33
Trang 3
TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH CÔNG
GVHD: TS. NGUYỄN THANH DƯƠNG
LỜI MỞ ĐẦU
Phân cấp ngân sách nhà nước là một trong những vấn đề được quan tâm trong cải
cách hành chính nhà nước ở nhiều nước. Việt Nam cũng xác định vấn đề quan trọng
này đối với công cuộc cải cách hành chính nhà nước. Trong chương trình tổng thể cải
cách hành chính giai đoạn 2001-2010 đã đề cập đến các nội dung đổi mới cơ chế quản
lý ngân sách nhà nước, đảm bảo vai trò chủ đạo của Trung ương đồng thời phát huy
tính chủ động, năng động sáng tạo và trách nhiệm của địa phương và các ngành trong
việc điều hành ngân sách.
Xu hướng tăng cường phân cấp được thể hiện rõ trong quá trình cải cách tài
chính công những năm gần đây. Đặc biệt Luật ngân sách ban hành năm 2002 đã tạo ra
sự chuyển biến đáng kể trong phân cấp ngân sách cho địa phương.
Tuy nhiên, việc thực thi phân cấp ngân sách nhà nước trên thực tế còn nhiều
vướng mắc và cũng còn không ít hạn chế. Mặc dù địa phương được trao quyền quản lý
ngân sách nhiều hơn, song hầu hết các địa phương vẫn phụ thuộc khá nhiều vào các
quyết định từ Trung ương, việc thực hiện phân cấp giữa các cấp chính quyền địa
phương còn nhiều lúng túng, phân cấp cho ngân sách cấp dưới phụ thuộc hoàn toàn
vào quyết định của chính quyền cấp tỉnh.
Để góp phần tiếp tục hoàn chỉnh hơn nữa luật NSNN nói chung và chế độ phân
cấp quản lý nhân sách nói riêng, nhóm chúng tôi chọn đề tài: “Thực trạng và giải
pháp hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý ngân sách nhà nước ở Việt nam trong
được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện chức năng, nhiện vụ của Nhà
nước.
Về bản chất, NSNN phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể
khác như doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân trong phân phối tổng sản phẩm xã hội,
thông qua việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, chuyển dịch một bộ
phận thu nhập bằng tiền của các chủ thể đó thành thu nhập của Nhà nước và Nhà nước
chuyển dịch thu nhập đó đến các chủ thể được thực hiện để thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ của Nhà nước.
1.1.2 Vai trò của NSNN
NSNN là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất trong nền kinh tế, có mối quan hệ chặt
chẽ với tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, có mối quan hệ khăng khít với tất
cả các khâu của cả hệ thống tài chính, đặc biệt là tài chính doanh nghiệp và tín dung.
NSNN không thể tách rời với vai trò của Nhà nước. Nhà nước quản lý và sử
dụng ngân sách để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình.
Trang 5
TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH CÔNG
GVHD: TS. NGUYỄN THANH DƯƠNG
Vai trò của NSNN được thể hiện qua các điểm sau:
Thứ nhất, vai trò huy động nguồn tài chính của NSNN để đảm bảo nhu cầu chi
tiêu của nhà nước.
Vai trò này được xác định trên cơ sở bản chất kinh tế của ngân sách nhà nước. Sự
hoạt động của nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội đòi hỏi phải có các
nguồn lực tài chính để chi tiêu cho những mục đích xác định. Các nhu cầu chi tiêu của
nhà nước phải đáp ứng từ các nguồn thu của ngân sách nhà nước, chủ yếu là từ thu
thuế. Nhà nước đặt ra một tỷ lệ huy động tổng sản phẩm xã hội vào NSNN, lấy đó làm
căn cứ điều chỉnh quan hệ giữa Nhà nước với doanh nghiệp và dân cư trong phân phối
động của thị trường. Sự mất cân đối giữa cung và cầu sẽ tác động đến giá cả, làm cho
giá cả tăng hoặc giảm đột biến gây ra biến động trên thị trường. Để đảm bảo lợi ích của
người sản xuất và người tiêu dùng Nhà nước sử dụng ngân sách để can thiệp vào thị
trường thông qua các khoản chi của Ngân sách Nhà nước dưới hình thức tài trợ vốn, trợ
giá và sử dụng các quỹ dự trữ Nhà nước về hàng hóa và dự trữ tài chính.
Trong quá trình điều chỉnh thị trường NSNN còn tác động đến sự hoạt động của
thị trường tiền tệ, thị trường vốn và trên cơ sở đó thực hiện giảm lạm phát, kiểm soát
lạm phát. Khi có lạm phát: Nhà nước rút tiền vào Ngân hàng bằng cách tăng lãi suất
tiền gửi ngân hàng. Để chống lạm phát Nhà nước áp dụng các biện pháp: giải quyết cân
đối NSNN, khai thác các nguồn vốn vay trong và ngoài nước dưới hình thức phát hành
trái phiếu chính phủ, thu hút viện trợ nước ngoài, tham gia trên thị trường vốn với tư
cách là người mua và bán chứng khoán.
Ba là, điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư trong xã hội. Nền kinh tế thị
trường với những khuyết tật của nó sẽ dẫn xã hội bị phân hóa về thu nhập. Nhà nước
cần phải có chính sách phân phối lại thu nhập hợp lý nhằm giảm bớt khoảng cách
chênh lệch về thu nhập trong dân cư. Ngân sách Nhà nước là một công cụ tài chính hữu
hiệu được Nhà nước sử dụng để điều tiết thu nhập của dân cư trên phạm vi toàn xã hội
ở cả hai mặt thu và chi bằng việc áp dụng thuế trực thu, thuế gián thu, chi phúc lợi
công cộng, chi trợ cấp với bộ phận dân cư nằm trong diện thực hiện chính sách xã hội
của Nhà nước.
Ở nước ta hiện nay Nhà nước khuyến khích người dân làm giàu hợp pháp bằng
cách cho vay, hỗ trợ vốn, giảm thuế,…Nhưng có thu nhập cao thì người dân phải nộp
thuế thu nhập và phí lệ phí cho Nhà nước. Nhà nước dùng tiền đó đầu tư vào chính
sách xã hội như giáo dục (hiện nay nước ta đã hòan thành phổ cập giáo dục cấp II),y tế
Trang 7
TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH CÔNG
GVHD: TS. NGUYỄN THANH DƯƠNG
Trang 8
TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH CÔNG
GVHD: TS. NGUYỄN THANH DƯƠNG
Ở Việt Nam, xu hướng tăng cường phân cấp quản lý đang ngày càng trở nên rõ
nét. Trong bối cảnh chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế
thị trường, nhà nước Trung ương thực hiện phân cấp ngày càng nhiều cho chính quyền
địa phương trong các hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Đi đôi với việc phân cấp
quản lý hành chính, tất yếu phải thực hiện phân cấp ngân sách cho các cấp chính quyền
địa phương để đảm bảo nguồn lực tài chính cần thiết cho việc thực thi những nhiệm vụ
này. Việc để cho chính quyền mỗi cấp trực tiếp đề xuất và bố trí chi tiêu sẽ có hiệu quả
cao hơn là sự áp đặt từ trên xuống. Đồng thời điều này còn khuyến khích chính quyền
địa phương phát huy tính độc lập, tự chủ, chủ động, sáng tạo của địa phương trong phát
triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.
Trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, các hoạt động kinh tế - xã hội ngày
càng đa dạng, phức tạp. Nhà nước Trung ương không thể quản lý mọi hoạt động một
cách tập trung theo khuôn mẫu cứng nhắc, cũng như không thể giải quyết được vấn đề
phát sinh tại mỗi địa phương. Xu hướng chung là các nước ngày càng phân cấp nhiều
hơn cho chính quyền địa phương trong quản lý hành chính cũng như trong lĩnh vực tài
chính - ngân sách.
1.2.3 Nguyên tắc phân cấp quản lý NSNN
Việc phân cấp quản lý NSNN được căn cứ vào những nguyên tắc cơ bản sau:
Thứ nhất, phân cấp NSNN được tiến hành đồng bộ với phân cấp quản lý kinh tế
và tổ chức bộ máy hành chính.
Nguyên tắc này đảm bảo tính pháp lý cho mỗi chính quyền về quyền hạn, trách
nhiệm trong điều hành NSNN các cấp. Đồng thời, phân cấp NSNN phải đồng bộ với
phân cấp quản lý kinh tế nhằm đảm bảo tính tương hợp giữa nguồn thu với việc trang
trải các nhu cầu chi tiêu nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội của các cấp
Ở Việt Nam, phân cấp ngân sách thường được xem xét trên ba nội dung cơ bản:
Một là, phân cấp về thẩm quyền ban hành các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn,
định mức thu – chi ngân sách nhà nước.
Hai là, phân cấp về vật chất là sự phân chia giữa các cấp ngân sách về các khoản
thu và nhiệm vụ chi, cũng như các quy tắc về chuyển giao ngân sách từ cấp trên xuống
cấp dưới và ngược lại.
Ba là, phân cấp về quy trình ngân sách – quan hệ giữa các cấp chính quyền trong
quản lý quy trình ngân sách: quyết định dự toán, phân bổ ngân sách và điều chỉnh dự
toán ngân sách; phê chuẩn quyết toán ngân sách.
Trang 10
TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH CÔNG
GVHD: TS. NGUYỄN THANH DƯƠNG
Trong số các nội dung nói trên thì phân cấp về vật chất, hay là việc xác định các
mối quan hệ của chính quyền nhà nước các cấp trong phân giao nguồn thu và nhiệm vụ
chi thường là vấn đề phức tạp và nhạy cảm nhất trong phân cấp ngân sách.
Trang 11
TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH CÔNG
GVHD: TS. NGUYỄN THANH DƯƠNG
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Thực trạng phân cấp quản lý NSNN ở Việt Nam hiện nay
2.1.1 Hệ thống NSNN ở Việt Nam
Ngân sách địa phương là tên chung để chỉ các cấp ngân sách của các cấp chính
quyền bên dưới phù hợp với địa giới hành chính các cấp. Ngoài ngân sách xã chưa có
đơn vị dự toán, các cấp ngân sách khác đều bao gồm một số đơn vị dự toán của cấp ấy
hợp thành.
- Ngân sách cấp tỉnh phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo lãnh thổ, đảm bảo thực
hiện các nhiệm vụ tổ chức quản lý toàn diện kinh tế, xã hội của chính quyền cấp tỉnh và
thành phố trực thuộc trung ương.
- Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách
huyện), bao gồm ngân sách cấp huyện và ngân sách các xã, phường, thị trấn.
- Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cơ sở có tầm quan
trọng đặc biệt và cũng có đặc thù riêng: nguồn thu được khai thác trực tiếp trên địa bàn
và nhiệm vụ chi cũng được bố trí để phục vụ cho mục đích trực tiếp của cộng đồng dân
cư trong xã mà không thông qua một khâu trung gian nào. Ngân sách xã là cấp ngân
sách cơ sở trong hệ thống NSNN, đảm bảo điều kiện tài chính để chính quyền xã chủ
động khai thác các thế mạnh về đất đai, phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng nông thôn
mới, thực hiện các chính sách xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự trên địa bàn.
Trong hệ thống ngân sách Nhà nước ta, ngân sách trung ương chi phối phần lớn
các khoản thu và chi quan trọng, còn ngân sách địa phương chỉ được giao nhiệm vụ
đảm nhận các khoản thu và chi có tính chất địa phương. Quan hệ giữa các cấp ngân
sách được thực hiện theo nguyên tắc sau:
Ngân sách trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương được phân
định nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể. Thực hiện việc bổ sung từ ngân sách cấp trên
cho ngân sách cấp dưới để đảm bảo công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các
địa phương. Số bổ sung này là khoản thu của ngân sách cấp dưới. Trường hợp cơ quan
quản lý Nhà nước cấp trên uỷ quyền cho cơ quan quản lý Nhà nước cấp dưới thực hiện
nhiệm vị chi thuộc chức năng của mình, thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên
cho ngân sách cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó. Ngoài việc bổ sung nguồn thu và uỷ
quyền thực hiện nhiệm vụ chi, không được dùng ngân sách cấp này để chi cho nhiệm
vụ của ngân sách cấp khác trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ.
Bộ tài chính chuẩn bị các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác về NSNN trình
chính phủ; ban hành các văn bản pháp quy về NSNN theo thẩm quyền; chịu trách
nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng thống nhất quản lý NSNN; hướng dẫn
kiểm tra các bộ, cơ quan khác ở trung ương và địa phương xây dựng dự toán NSNN
hàng năm; đề xuất các biện pháp nhằm thực hiện chính sách tăng thu, tiết kiệm chi
NSNN; chủ trì phối hợp với các bộ, ngành trong việc xây dựng các chế độ, tiêu chuẩn,
Trang 14
TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH CÔNG
GVHD: TS. NGUYỄN THANH DƯƠNG
định mức chi NSNN; thanh tra, kiểm tra tài chính với tất cả các tổ chức, các đơn vị
hành chính, sự nghiệp và các đối tượng khác có nghĩa vụ nộp ngân sách và xử dụng
ngân sách; quản lý quỹ NSNN và các quỹ khác của Nhà nước; lập quyết toán NSNN
trình Chính phủ.
Bộ kế hoạch và đầu tư có nhiệm vụ trình Chính phủ dự án kế hoạch phát triển
kinh tế, xã hội của cả nước và cân đối chủ yếu của nền kinh tế quốc dân, trong đó có
cân đối tài chính tiền tệ, vốn đầu tư xây dựng cơ bản làm cơ sở cho việc xây dựng kế
hoạch tài chính, ngân sách; phối hợp với bộ tài chính lập dự toán và phương án phân bổ
NSNN trong lĩnh vực phụ trách; phối hợp với bộ tài chính và các bộ ngành hữu quan
kiểm tra đánh giá hiệu quả của vốn đầu tư các công trình xây dựng cơ bản.
Ngân hàng Nhà nước có nhiệm vụ phối hợp với bộ tài chímh trong việc lập dự
toán NSNN đối với kế hoạch và phương án vay để bù đắp bội chi NSNN; tạm ứng cho
NSNN để xử lý thiếu hụt tạm thời quỹ NSNN theo quyết định của thủ tướng Chính
phủ.
Các bộ, ngành khác có nhiệm vụ phối hợp với bộ tài chính, UBND cấp tỉnh để
lập, phân bổ, quyết toán NSNN theo ngành, lĩnh vực phụ trách ; kiểm tra theo dõi tình
hình thực hiện ngân sách thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách; báo cáo tình hình thực hiện
2.1.3.1 Về các nguồn thu NSNN
Luật ngân sách năm 1996 và 2002 đều phân biệt ba loại nguồn thu: Nguồn thu
ngân sách Trung ương hưởng 100%, nguồn thu ngân sách địa phương hưởng 100% và
nguồn thu được phân chia tỷ lệ giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương.
Đối với phân cấp nguồn thu, sự khác nhau cơ bản giữa Luật năm 1996 và 2002 là Luật
năm 1996 quy định cụ thể nhiệm vụ thu cho 4 cấp chính quyền, Luật 2002 cho phép
chính quyền cấp tỉnh được quyền quyết định phân cấp nguồn thu cho cấp huyện và xã.
- Nguồn thu ngân sách Trung ương được hưởng 100%, gồm thuế xuất nhập khẩu,
VAT và thuế tiêu thụ đặt biệt với một số hàng hóa nhập khẩu, thuế và các khoản thu từ
dầu khí, các khoản thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành.
- Nguồn thu ngân sách địa phương hưởng 100%: gồm thuế nhà đất, thuế tài
nguyên thiên nhiên (trừ dầu khí), thuế môn bài, thuế chuyển quyền sử dụng đất, tiền sử
dụng đất, tiền thuê đất, thu từ cho thuê và bán nhà thuộc sở hữu nhà nước, lệ phí trước
bạ và phần lớn các loại phí khác.
- Nguồn thu được chia theo tỷ lệ giữa chính quyền Trung ương và địa phương:
Gồm thuế VAT (loại trừ VAT đối với hàng nhập khẩu), thuế thu nhập doanh nghiệp
(loại trừ những đơn vị hạch toán toàn ngành), thuế thu nhập cá nhân, thuế tiêu thụ đặc
biệt từ hàng hóa, dịch vụ trong nước và phí xăng dầu.
Trang 16
TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH CÔNG
GVHD: TS. NGUYỄN THANH DƯƠNG
Tỷ lệ phân chia nguồn thu được xác định trên cơ sở tổng thu từ nguồn thu mà
ngân sách địa phương được hưởng 100% và tổng chi ngân sách địa phương được tính
theo định mức phân bổ.
Luật ngân sách nhà nước không nêu rõ tỷ lệ phân chia nguồn thu giữa ngân sách
Trung ương và ngân sách địa phương mà giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết
NSTW
139,223 176,619 222,398 269,117 339,856 273,141 303,472
NSĐP(*)
85,553 107,228 128,445 161,940 208,673 130,859 159,028
Tổng thu
224,776 283,847 350,843 431,057 548,529 404,000 462,500
NSNN
(*) không bao gồm phần bổ sung của ngân sách Trung ương.
Năm 2009, 2010 chỉ là số liệu dự toán, chưa quyết toán
Qua các năm, quy mô thu NSNN đều có mức tăng khá cao (năm 2010 tăng hơn
200% so với năm 2004). Nhờ việc đưa luật NSNN vào thực hiện từ năm 2004 mà
Trang 17
TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH CÔNG
GVHD: TS. NGUYỄN THANH DƯƠNG
nguồn thu của NSNN được đảm bảo. Một số địa phương đã tích cực, chủ động trong
việc thu ngân sách, đảm bảo cho việc chi các hoạt động thường xuyên và đầu tư phát
triển kinh tế xã hội.
2.1.2.2 Về các khoản chi NSNN
So với Luật ngân sách nhà nước năm 1996, Luật ngân sách nhà nước năm 2002
về cơ bản không thay đổi nhiều trong việc giao nhiệm vụ chi giữa chính quyền Trung
triển, do vậy năm 2004, tỷ trọng chi thường xuyên xuống còn 55%.
+ Phân cấp chi ngân sách trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo.
Theo qui định của Luật ngân sách nhà nước năm 2002 các tỉnh được chủ động
phân bổ ngân sách chi nhiệm vụ chi, trong đó chỉ có chi cho giáo dục đào tạo và khoa
học công nghệ phải đảm bảo tỷ lệ do cấp trên quy định. Chi cho giáo dục của địa
phương đã tăng lên hàng năm từ 93,4% năm 1999 lên 97,9 vào năm 2002. Chi cho đào
tạo của địa phương cũng tăng từ 39,54% năm 1999 lên 41,55% vào năm 2002. Năm
2004, tổng chi cho giáo dục đào tạo của địa phương đạt tỷ lệ 85% tổng chi NSNN cho
lĩnh vực này.
+ Phân cấp chi ngân sách trong lĩnh vực y tế:
Trong tổng chi tiêu cho sự nghiệp y tế thì chi cho y tế địa phương tăng nhanh hơn
so với chi cho y tế Trung ương. Năm 2002, chi cho y tế tuyến Trung ương chỉ chiếm
dưới 25% trong tổng chi ngân sách nhà nước về y tế, còn 75% tổng chi tiêu cho lĩnh
vực này là từ ngân sách địa phương.
Việc phân bổ nguồn lực từ chi cho y tế ở mỗi cấp chưa hợp lý. Theo báo cáo
đánh giá chi tiêu công năm 2000, trong lĩnh vực y tế kinh phí cấp cho xã chỉ chiếm
khoảng 12% tổng kinh phí cho lĩnh vực này, còn 3/4 ngân sách thường xuyên cho y tế
tập trung ở các bệnh viện, nơi có 1/3 số người khám chữa bệnh thuộc vào nhóm 20%
dân số có thu nhập cao nhất.
Trên thực tế có sự chênh lệch lớn trong chi ngân sách về y tế giữa các vùng và
các tỉnh. Chẳng hạn năm 2002, thành phố Hồ Chí Minh có mức chi cho y tế từ ngân
sách địa phương là 222.874 đồng/người, trong khi đó Gia Lai có mức chi chỉ có 38.450
đồng/người.
- Phân cấp trong chi đầu tư xây dựng cơ bản:
Theo Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 của Chính phủ về quản lý
dự án đầu tư xây dựng, Chủ tich Ủy ban Nhân dân tỉnh được quyền quyết định dự án
Trang 19
Năm
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
NSTW(*)
173,927 217,365 271,011 333,684 407,533 314,544 423,172
NSĐP
114,236 145,103 172,315 214,864 277,860 176,756 265,219
Trang 20
TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH CÔNG
GVHD: TS. NGUYỄN THANH DƯƠNG
Tổng chi
NSNN
288,163 362,468 443,326 548,548 685,393 491,300 688,391
(*) bao gồm phần chi bổ sung ngân sách cho địa phương.
Năm 2009, 2010 chỉ là số liệu dự toán, chưa quyết toán
Do việc quản lý nguồn thu có hiệu quả, các khoản thu được bảo đảm và kịp thời
nên Chính phủ và các địa phương có thể chi cho đầu tư phát triển nhiều hơn. Tốc độ
Bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới nhằm trợ cấp
cho ngân sách cấp dưới thực hiện một số nhiệm vụ như:
- Hỗ trợ thực hiện các chính sách, chế độ mới do cấp trên ban hành chưa được bố
trí trong dự toán ngân sách.
- Hỗ trợ thực hiện dự án quốc gia, chẳng hạn đầu tư cho các xã nghèo (chương
trình 135), trồng rừng (chương trình 661), chương trình quốc gia về giáo dục, y tế
nhằm thực hiện các mục tiêu quan trọng của quốc gia ở cấp địa phương. Chi ngân sách
cho chương trình mục tiêu quốc gia đã tăng lên nhanh chóng. Mức chi tiêu cho chương
trình mục tiêu quốc gia trong tổng chi ngân sách năm 1998 là 2%, năm 1999 đến 2001
là 2,9%, năm 2004 là 3,4%. Chương trình này đã trở thành một công cụ quan trọng
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo.
- Hỗ trợ thực hiện các mục tiêu, công trình, dự án có ý nghĩa lớn đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội của địa phương mà ngân sách cấp dưới chưa bố trí đủ nguồn. Loại
hình bổ sung này thường được thực hiện theo phương thức đối ứng.
- Hỗ trợ xử lý các khó khăn đột xuất, khắc phục thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn trên
diện rộng, sau khi ngân sách cấp dưới đã sử dụng, dự phòng và một phần của quỹ dự
trữ tài chính của địa phương nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu.
Ngoài ra còn có các khoản bổ sung có mục tiêu riêng cho một số tỉnh nhất định
xuất phát từ đề xuất của tỉnh được Quốc hội phê chuẩn.
2.2 Đánh giá thực trạng phân cấp quản lý NSNN ở Việt Nam
2.2.1 Những kết quả đạt được.
Xu hướng phân cấp ngân sách đang ngày càng mạnh mẽ. Điều đó thể hiện rõ nét
trong việc phân cấp nhiều hơn cho chính quyền địa phương về nguồn thu và nhiệm vụ
chi ngân sách. Từ đó, một số địa phương đã tích cực, chủ động trong việc thu ngân
sách, đảm bảo cho việc chi các hoạt động thường xuyên và đầu tư phát triển kinh tế xã
hội. Các địa phương có quy mô thu NSNN hơn 1.000 tỷ đồng/ năm tăng từ 21 tỉnhthành phố (2006) lên tới 41 tỉnh – thành phố năm 2010, trong đó có 5/63 địa phương có
Trang 22
cơ quan khác của Nhà nước và trách nhiệm của các tổ chức cá nhân về NSNN.
Trang 23
TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH CÔNG
GVHD: TS. NGUYỄN THANH DƯƠNG
Có thể nói, luật đã quy định một cách tương đối rõ ràng về nhiệm vụ, quyền hạn
của các cơ quan chính quyền nhà nước trong lĩnh vực NSNN. Đặc biệt đối với HĐND
và UBND các cấp đã có sự đổi mới theo hướng tăng tính tự chủ, sáng tạo của địa
phương trong việc phát huy tiềm năng hiện có, bồi dưỡng và tăng thu cho ngân sách
cấp mình. Từ đó, chủ động bố trí chi tiêu hợp lý, có hiệu quả theo kế hoạch phát triển
kinh tế, xã hội của địa phương, phù hợp với quy hoạch tổng thể về chế độ thu chi thống
nhất trong cả nước. Điều này cơ bản phù hợp với phương hướng đổi mới chức năng,
nhiệm vụ của HĐND và UBND được Quốc hội và Chính phủ đề ra trong kỳ hội nghị
HĐND và UBND toàn quốc.
Tuy nhiên, trên thực tế, sự phối hợp giữa các cơ quan còn nhiều hạn chế: một số
nhiệm vụ, quyền hạn còn mang tính hình thức; một số quan hệ, chức năng và nhiệm vụ
chưa rõ ràng, nhất là trong quá trình phân bổ NSNN do nhiều cơ quan đều muốn tham
gia vào quá trình này đã làm mờ nhạt vai trò của cơ quan Tài chính (ví dụ trong việc
phân bổ NSNN theo lĩnh vực chi đầu tư xây dựng cơ bản và chi chương trình quốc gia
hiện vẫn có sự chia sẻ trách nhiệm giữa ba cơ quan: Bộ kế hoạnh và đầu tư, Bộ tài
chính, Cơ quan quản lý chương trình quốc gia).
Tại các địa phương, hoạt động của HĐND và UBND cũng còn nhiều bất cập như
ở khâu chấp hành NSNN, luật quy định sau khi dự toán NSNN được Quốc hội quyết
định, căn cứ các nhiệm vụ thu chi được cấp trên giao, UBND trình HĐND cùng cấp
quyết định dự toán NSĐP và phương án phân bổ ngân sách cấp mình. Như vậy là có sự
trùng lặp. Quốc hội đã quyết định dự toán trong đó bao hàm cả NSTƯ và NSĐP, vậy
việc HĐND quyết định lại dự toán NSĐP chỉ là hình thức và thực tế quyền quyết định
hưởng 100%, mặc dù theo nguyên tắc NSTƯ nắm giữ các nguồn thu quan trọng nhưng
một số nguồn thu nếu giao cho ngân sách cơ sở (huyện, xã) thì hiệu quả thu sẽ cao hơn,
hạn chế được tình trạng thất thu trong thực tế. Ví dụ: Đối với thuế tiêu thụ đặc biệt, trừ
những khoản dành lại cho ngân sách địa phương (các dịch vụ tiêu thụ đặc biệt mặt
hàng bài lá, vàng mã, hàng mã) thì còn những khoản phát sinh từ những cơ sở sản xuất
kinh doanh thủ công, phân tán ở các xã, phường vốn là những khoản mà trung ương
được hưởng 100% (thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ sản xuất thuốc lá, rượu, bia…). Do đó,
sự thất thu từ những khoản này là điều dễ hiểu.
Thuế GTGT (không kể thuế GTGT đối với hàng nhập khẩu) và thuế thu nhập
doanh nghiệp (trừ thuế thu nhập doanh nghiệp của những doanh nghiệp hạch toán toàn
ngành) là khoản thu được phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa trung ương và cấp tỉnh.
Theo luật thì trung ương và tỉnh hưởng mỗi bên một phần từ những khoản thu này. Đối
với tỉnh và trung ương thì đây là khoản chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng đối với ngân sách
Trang 25