Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tách chiết và tinh sạch enzyme protease từ nội tạng cá basa - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP. HCM

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Đề tài :
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
QUÁ TRÌNH TÁCH CHIẾT VÀ TINH SẠCH ENZYME
PROTEASE TỪ NỘI TẠNG CÁ BASA.
NGÀNH

:

CÔNG NGHỆ SINH HỌC

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : PGS.TS NGUYỄN TIẾN THẮNG
CN ĐỖ THỊ TUYẾN
SINH VIÊN THỰC HIỆN
MSSV : 107111115

:

TRẦN TÚ NHI
LỚP : 07DSH3

TP. HỒ CHÍ MINH, 2011


Đồ án tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS. Nguyễn Tiến Thắng
CN. Đỗ Thị Tuyến


SVTH : Trần Tú Nhi

1

MSSV : 107111115


Đồ án tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS. Nguyễn Tiến Thắng
CN. Đỗ Thị Tuyến

Với mong muốn góp phần giải quyết yêu cầu trên, em thực hiện đề tài
“Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tách chiết và tinh sạch
enzyme protease từ nội tạng cá Basa”.

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :

B.

Mục đích chung là nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tách chiết
và tinh sạch enzyme từ nội tạng cá, cũng như tính chất của enzyme này.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU :

C.

1. Xác định quy trình tách chiết và tinh sạch enzyme protease từ nội tạng cá :
-

Khảo sát sự biến đổi hoạt tính enzyme protease theo nhiệt độ.

-

Khảo sát độ bền nhiệt của enzyme protease.

-

Khảo sát sự biến đổi hoạt tính enzyme protease theo pH.

-

Khảo sát sự biến đổi hoạt tính enzyme protease theo nồng độ muối ăn.

-

Khảo sát sự biến đổi hoạt tính enzyme protease khi có mặt một số ion kim
loại, chất đặc hiệu nhóm.

SVTH : Trần Tú Nhi

2

MSSV : 107111115


Đồ án tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS. Nguyễn Tiến Thắng
CN. Đỗ Thị Tuyến


-

Xây dựng đường chuẩn tyrosine.

-

Xác định hoạt tính protease theo phương pháp Amano.
KẾT CẤU ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP :

E.

Đồ án tốt nghiệp gồm :
-

Chương 1 : Tổng quan tài liệu

-

Chương 2 : Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

-

Chương 3 : Kết quả và thảo luận

-

Chương 4 : Kết luận và đề nghị

SVTH : Trần Tú Nhi

1.1.1 Giới thiệu chung về enzyme :
Enzyme là chất xúc tác sinh học có bản chất là protein. Enzyme tham gia xúc
tác cho hầu hết các phản ứng hóa học xảy ra trong cơ thể sống, đảm bảo cho quá
trình chuyển hóa các chất trong cơ thể với tốc độ nhịp nhàng, cân đối theo chiều
hướng xác định. Do đó đảm bảo cho sự tồn tại của cơ thể sống.
Hiện nay người ta đã khám phá hơn 2000 enzyme trong đó hơn 200 enzyme
thu được ở dạng tinh thể. Enzyme ngày nay được ứng dụng rộng rãi và có hiệu quả
trong mọi lĩnh vực như y dược, chăn nuôi, thú y, một số ngành công nghiệp đặc biệt
là công nghiệp chế biến thực phẩm : bia, rượu, bánh mì, tương chao, nước mắm…
1.1.2 Bản chất, cấu trúc enzyme :
1.1.2.1 Bản chất của enzyme :
Enzyme là protein có hoạt tính sinh học nên nó có đủ tính chất của protein.
Giống với các protein hình hạt khác, enzyme có thể hòa tan trong nước, dung dịch
đệm phosphate, dung dịch đệm Tris, dung dịch muối sinh lý…
Dung dịch enzyme có tính chất của dung dịch keo ưa nước. Enzyme trong
dung dịch dễ dàng bị kết tủa dưới tác dụng của muối trung hòa như sulphatamon
hoặc các dung môi hữu cơ như ethanol, acetone ở nhiệt độ thấp nhưng không bị mất
hoạt tính xúc tác. Do đó, có thể dùng các tác nhân này để thu chế phẩm enzyme.
Ngược lại dưới tác dụng của các yếu tố gây biến tính protein (nhiệt độ cao, acid
hoặc kiềm đặc, muối kim loại nặng nồng độ cao) enzyme thường bị mất khả năng
xúc tác. Và mức giảm hoạt tính tương ứng với mức độ biến tính của phân tử protein
– enzyme.
1.1.2.2 Cấu trúc enzyme :
Phân tử enzyme một thành phần cũng như hai thành phần đều chứa phần
protein. Enzyme một cấu tử trong thành phần phân tử chỉ có protein. Enzyme hai
cấu tử trong thành phần cấu tạo gồm : protein (“feron” hoặc “apoenzyme”) và phi
protein (“agon” hoặc “coenzyme”). Trung tâm hoạt tính của enzyme chiếm phần rất

SVTH : Trần Tú Nhi


Transpherase : enzyme xúc tác cho phản ứng chuyển vị.

-

Hydrolase : enzyme xúc tác cho quá trình thủy phân.

-

Liase : enzyme tham gia xúc tác cho phản ứng loại CO2 hay phản ứng tách
thuận nghịch phân tử nước.

-

Isomerase : enzyme xúc tác cho phản ứng chuyển hóa tương hỗ phức tạp
giữa galactose và glucose.

-

Ligase : enzyme này xúc tác cho phản ứng carboxyl hóa pyruvic tạo thành
oxaloacetic acid.

1.1.4

Cơ chế tác dụng của enzyme :
Bản chất của phản ứng enzyme là khi có sự tham gia xúc tác của enzyme,

các cơ chất sẽ được hoạt hóa mạnh, từ đó làm thay đổi tính chất hóa học của cơ
chất, kết quả sau phản ứng sẽ tạo ra những sản phẩm của phản ứng. Do tác dụng của

SVTH : Trần Tú Nhi


Cơ chế xúc tác tổng quát của enzyme được trình bày như sau :
E + S  ES  E + P
E : enzyme ; S : cơ chất ; ES : Phức hệ enzyme – cơ chất ; P : Sản phẩm
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phản ứng của enzyme :
Phản ứng do enzyme xúc tác phụ thuộc vào nhiều yếu tố như : bản chất và
nồng độ cơ chất, nồng độ enzyme, pH môi trường phản ứng, nhiệt độ, các ion kim
loại, các chất vô cơ và hữu cơ khác ( có tác dụng kìm hãm hay hoạt hóa enzyme).
1.1.5.1 Ảnh hưởng của nồng độ cơ chất :
Ở giai đoạn đầu của phản ứng, khi nồng độ cơ chất thấp, tốc độ enzyme sẽ
phụ thuộc tuyến tính vào nồng độ cơ chất. Khi nồng độ cơ chất đủ lớn sao cho tất cả
nồng độ enzyme đều tham gia phản ứng để tạo ra phức hợp enzyme – cơ chất, phản
ứng sẽ tạo ra được vận tốc cực đại. Nhưng đôi khi tiếp tục tăng nồng độ cơ chất lên
thì tốc độ phản ứng cũng sẽ không tăng.
1.1.5.2 Ảnh hưởng của nồng độ enzyme :
Nói chung, trong điều kiện thừa cơ chất, tốc độ phản ứng phụ thuộc tuyến
tính vào nồng độ enzyme. Nhưng nếu tăng nồng độ enzyme quá lớn, tốc độ phản
ứng tăng chậm hoặc không tăng.

SVTH : Trần Tú Nhi

7

MSSV : 107111115


Đồ án tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS. Nguyễn Tiến Thắng
CN. Đỗ Thị Tuyến


SVTH : Trần Tú Nhi

8

MSSV : 107111115


Đồ án tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS. Nguyễn Tiến Thắng
CN. Đỗ Thị Tuyến

Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến vận tốc phản ứng enzyme
cho thấy nhiệt độ thích hợp của nhiều enzyme vào khoảng 40 – 500C, trên 500C
hoạt tính thường bị giảm mạnh do làm hỏng cấu trúc phân tử enzyme. Các enzyme
có nguồn gốc thực vật và một số enzyme vi sinh vật có nhiệt độ thích hợp cao hơn.
Nhiệt độ thích hợp của enzyme còn phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau như : thời
gian xác định hoạt tính, pH…
Ở nhiệt độ thấp dưới 00C, hoạt tính enzyme bị giảm nhiều, nhưng có thể hồi
phục khi đưa về nhiệt độ bình thường.
Ở nhiệt độ 700C, phần lớn enzyme bị mất hoàn toàn hoạt tính, gọi là nhiệt độ
tới hạn. Ở nhiệt độ tới hạn, enzyme bị biến tính, hiếm khi được hồi phục hoạt tính
trở lại.
1.1.5.6 Ảnh hưởng của các ion kim loại :
Các ion kim loại có thể kìm hãm hoặc hoạt hóa enzyme. Các ion kim loại
nặng ở nồng độ gây biến tính protein, có tác dụng kìm hãm không thuận nghịch
enzyme.
Tác dụng của ion kim loại phụ thuộc nhiều vào nồng độ của chúng, mức độ
hoạt hóa chỉ tăng theo nồng độ ion kim loại ở những nồng độ thấp trong một giới


và là nguyên nhân gây ra sự biến đổi thịt cá sau khi chết, khi tách ra khỏi cơ thể cá
thì protease vẫn giữ được khả năng xúc tác quá trình thủy phân. Do đó, cần nghiên
cứu các đặc tính của protease nội tạng nhằm sử dụng nguồn enzyme này từ phế liệu
cá trong công nghiệp chế biến thủy sản, tạo ra các sản phẩm có giá trị cao từ thịt cá.
1.2.2 Phân loại enzyme protease :
Theo Baret và Donald (1986) thì protease được chia thành hai nhóm lớn là
endopeptiase (proteinase) và exopeptidase.
Nhóm endopeptiase
Là các enzyme phân giải các liên kết ở giữa chuỗi mạch polypeptide. Theo
phân loại của Ủy ban enzyme thuộc Hội Hóa Sinh quốc tế, các enzyme nhóm này
gồm 4 phân nhóm là :
-

Phân nhóm 1 : Proteinase – xerin : gồm các enzyme như tripsin,
chimotripsin.

-

Phân nhóm 2 : proteinase – xistein hay proteinase – thiol : gồm các enzyme
cathepsin.

-

Phân nhóm 3 : aspactic – protease hay protease acid : gồm các enzyme
pepsin, gastricsin…

-

Phân nhóm 4 : metalo – proteinase như colagenase, calpain…

tổng hợp trong các tế bào màng nhày của dạ dày và tiết ra dưới dạng không hoạt
tính gọi là pepsinogen. Pepsinogen có khối lượng phân tử 39.000 – 40.000 Da, bền
trong môi trường trung tính và acid yếu, nhưng dưới tác dụng của acid clohydric và
sự có mặt của một lượng nhỏ pepsin tự do trong dạ dày, sẽ chuyển hóa thành pepsin
dạng hoạt tính là một chuỗi polypeptide có khối lượng 32.700 Da. Pepsin có tác
dụng của một proteinase, transpeptidase và esterase nhưng chủ yếu có tác dụng của
endopeptidase và thủy phân chủ yếu các liên kết peptide sát gốc Lα – acid amin
thơm và dicacboxyl.
Enzyme đường ruột
Trong màng nhày ruột và trong dịch ruột, người ta xác định được có 22
enzyme tham gia vào quá trình tiêu hóa thức ăn. Trong đó các enzyme protease gồm
:

enterokinase,

amino



peptidase,

amino



tripeptidase,

dipeptidase,

cacboxylpeptidase.

khác tiếp tục thủy phân tạo thành sản phẩm cuối cùng là các acid amin.
1.2.4 Lược sử nghiên cứu về protease :
Loài người sử dụng enzyme protease trong sản xuất và đời sống từ lâu đời
trước khi biết đến chúng. 5000 năm trước công nguyên, con người đã sử dụng renin
có trong dạ dày bê như chất đông tụ để sản xuất phomat. Các thổ dân Nam Mỹ cổ
đại đã sử dụng lá đu đủ để làm mềm thịt và phương pháp này đã được kế thừa, phát
triển thành kỹ thuật làm mềm thịt nhân tạo bằng papain và các enzyme protease
khác. Ở Việt Nam, từ lâu đời, ông cha ta đã chế biến nước mắm trên cơ sở quá trình
tự phân giải thịt cá nhờ hệ enzyme có sẵn trong nội tạng và cơ thịt cá, trong điều
kiện nồng độ muối cao.
Đến thế kỷ 18, Reomur mới phát hiện dịch dạ dày của loài chim ăn thịt có
khả năng tiêu hóa thịt. Năm 1836 Schwann nghiên cứu hoạt tính phân giải protease
của dịch vị trong dạ dày chó. Năm 1857, Corvisart tách được chế phẩm thô tripsin
từ dịch tụy. Năm 1862, Danilevxki tách được tripsin và amylaza từ tụy tạng. Từ
những năm 50 của thế kỷ 20, các nhà khoa học bắt đầu nghiên cứu, thu nhận và ứng
dụng enzyme protease từ vi sinh vật, đồng thời phát triển và hoàn thiện công nghệ
thu nhận protease từ các mô động vật và thực vật. Từ đó đến nay, hàng loạt các
protease từ vi sinh vật, từ động vật và thực vật đã được sản xuất và ứng dụng vào
mọi lĩnh vực sản xuất và đời sống. Đặc biệt, những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ

SVTH : Trần Tú Nhi

12

MSSV : 107111115


Đồ án tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS. Nguyễn Tiến Thắng

 Trong cơ thể động vật thủy sản, cơ quan tập trung enzyme lớn và có hoạt
tính cao là nội tạng nên thường được sử dụng làm nguồn thu enzyme. Tuy

SVTH : Trần Tú Nhi

13

MSSV : 107111115


Đồ án tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS. Nguyễn Tiến Thắng
CN. Đỗ Thị Tuyến

nhiên, nội tạng cá thường có mùi tanh hôi, không hấp dẫn đối với công nhân
sản xuất, lại rất khó bảo quản ở điều kiện tự nhiên.
 Protease của động vật thủy sản là một hệ gồm rất nhiều loại protease khác
nhau. Để tách riêng và làm tinh sạch từng enzyme cần trải qua hàng chục
bước khác nhau với kỹ thuật phức tạp. Chính vì vậy, cho đến nay, trên thị
trường chưa có protease thương mại từ nguyên liệu thủy sản. Để phát triển
sản xuất chế phẩm enzyme từ thủy sản phải nghiên cứu, hoàn thiện công
nghệ và giảm giá thánh sản phẩm.
Từ những năm 50 của thế kỷ trước, ở nhiều nước đã phát triển công nghệ sản
xuất các chế phẩm enzyme từ vi sinh vật. Hàng trăm loại chế phẩm protease từ các
chủng vi sinh vật khác nhau đã được sản xuất và mua bán trên thị trường sản lượng
các chế phẩm protease thương mại tăng nhanh, liên tục và tỷ trọng các protease từ
vi sinh vật trong tổng doanh số enzyme trên thị trường thế giới luôn ở mức cao nhất
với các protease từ các nguồn khác. Việc sản xuất các chế phẩm protease thương
mại từ vi sinh vật có những ưu điểm như :


MSSV : 107111115


Đồ án tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS. Nguyễn Tiến Thắng
CN. Đỗ Thị Tuyến

xác cao nên cần phải có các phòng thí nghiệm, phân tích chuyên dùng, trang bị
dụng cụ hiện đại, chi phí đầu tư lớn.
Trong khi đó, các enzyme protease có nguồn gốc từ động vật và thực vật
luôn được đánh giá an toàn, sau khi thu nhận có thể sử dụng ngay vào quá trình chế
biến mà không cần kiểm tra độc tính. Với sản lượng 100 triệu tấn cá biển và 30
triệu tấn cá nước ngọt hằng năm, cả thế giới có tới 6,5 – 9 triệu tấn nội tạng và nếu
đưa vào để thu nhận enzyme protease, nguồn lợi thu được là không nhỏ.
1.3.2 Nghiên cứu và ứng dụng protease trong chế biến thủy sản ở Việt Nam :
Đến nay trong phạm vi quốc gia, ngành thủy sản chưa có một cơ quan, đơn
vị chuyên nghiên cứu và ứng dụng enzyme trong chế biến thủy sản. Các Viện
nghiên cứu, các trường đào tạo cán bộ khoa học công nghệ chuyên ngành thủy sản
chưa có chương trình nghiên cứu và ứng dụng enzyme nói chung, enzyme thủy sản
nói riêng. Chính vì vậy, có thể nói ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu về enzyme của
cá và động vật thủy sinh cũng như các hướng ứng dụng chúng vào sản xuất và đời
sống, vào chế biến thủy sản hầu như chưa có gì. Những năm gần đây, một số nhà
khoa học và công nghệ đã bắt đầu quan tâm đến vấn đề này, nhưng mới chỉ là
những nỗ lực cá nhân, chưa được sự quan tâm của nhiều người, chưa được sự đầu
tư về tài, lực cho nghiên cứu nên kết quả mới là bước đầu và còn rất khiêm tốn. Các
tài liệu, số liệu về enzyme thủy sản và ứng dụng enzyme trong ngành thủy sản còn
nghèo nàn, thiếu hệ thống.
Tuy nhiên có một ngành chế biến có truyền thống lâu đời là chế biến nước

So với kết quả nghiên cứu về enzyme protease của thực vật, động vật máu
nóng và vi sinh vật có lịch sử phát triển hàng trăm năm thì việc nghiên cứu, ứng
dụng enzyme protease cá trong chế biến thủy sản mới chỉ tập trung vào việc tận
dụng enzyme protease có sẵn trong nguyên liệu. Các lĩnh vực nghiên cứu, ứng dụng
protease trong chế biến thủy sản còn hạn chế, chỉ mới dừng ở trong phòng thí
nghiệm, chưa chuyển giao công nghệ để sản xuất công nghiệp.
Yêu cầu sản xuất chế phẩm protease từ thủy sản để sử dụng trong chế biến
cũng như cung cấp cho ngành khác đang đặt ra trực tiếp và cấp bách. Các công trình
nghiên cứu về protease của cá và các lĩnh vực ứng dụng đang tăng lên nhanh chóng
ở nhiều nước có nghề cá phát triển. Tiềm năng phát triển sản xuất chế phẩm
protease từ thủy sản và ứng dụng để chế biến ra những sản phẩm mới rất là to lớn.
Trong thời đại bùng nổ thông tin, sự hội nhập và trao đổi thông tin đang rất khẩn
trương và thuận lợi, các nhà khoa học công nghệ nước ta cần nhanh chóng tiếp thu
các thành tựu mới trong lĩnh vực này để áp dụng vào sản xuất, góp phần phát triển
nhanh chóng công nghệ chế biến thủy sản ở đất nước.

SVTH : Trần Tú Nhi

16

MSSV : 107111115


Đồ án tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS. Nguyễn Tiến Thắng
CN. Đỗ Thị Tuyến

1.3.3 Nguồn thu enzyme protease :
Enzyme nói chung và enzyme protease nói riêng được thu nhận chủ yếu từ


17

MSSV : 107111115


Đồ án tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS. Nguyễn Tiến Thắng
CN. Đỗ Thị Tuyến

tạng động vật để thủy phân làm mềm nguyên liệu, hoặc thủy phân nguyên
liệu tạo thành dịch dễ hấp thu, dễ tiêu hóa.
-

Trong chế biến nước giải khát, trong công nghiệp bia, các chế phẩm protease
được sử dụng làm trong dịch quả, dịch bia.

-

Dùng protease trong công nghiệp chế biến sữa, làm pho mát.

-

Protease được dùng làm tăng giá trị sản phẩm về mặt thương mại của sản
phẩm có giá trị thấp. Ví dụ như dùng protease để thủy phân protein trong phế
liệu công nghiệp thực phẩm (xương, collagen…) thành các dạng hòa tan, thu
dịch đạm thủy phân làm thức ăn cho người hoặc thức ăn chăn nuôi.

-


GVHD: PGS.TS. Nguyễn Tiến Thắng
CN. Đỗ Thị Tuyến

g. Trong chế biến thủy sản :
Nước mắm được hình thành từ quá trình thủy phân protein trong thịt cá dưới
tác dụng của hệ enzyme protease có sẵn trong nguyên liệu trong điều kiện
muối mặn và thời gian dài. Người ta đã sử dụng chế phẩm protease để bổ
sung trong quá trình sản xuất nước mắm với lượng nhất định nhằm rút ngắn
thời gian chế biến. Nhờ vậy mà làm tăng hiệu quả kinh tế, tăng sự luân
chuyển vốn.
Ngoài ra, người ta còn sử dụng enzyme protease vào việc sản xuất bột đạm
cá, bột đạm hòa tan, … từ các loại cá có giá trị kinh tế thấp (như cá mối, cá
tạp…). Sở dĩ làm như vậy vì hướng sản xuất này có thể tận dụng được các
phế liệu trong quá trình chế biến, tiết kiệm nguyên liệu, tăng giá trị sản
phẩm, … đem lại hiệu quả kinh tế cao.

1.4

SƠ LƯỢC VỀ SẮC KÝ LỌC GEL :

1.4.1 Bản chất của phương pháp :
Phương pháp được sử dụng để tinh sạch protein, xác định trọng lượng phân
tử và phân tích định lượng tương tác phân tử.

Hình 1.1. Tách các phân tử bằng lọc gel

SVTH : Trần Tú Nhi

19


1.4.2. Đặc tính của gel :
Có 4 loại gel thường được sử dụng.

SVTH : Trần Tú Nhi

20

MSSV : 107111115


Đồ án tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS. Nguyễn Tiến Thắng
CN. Đỗ Thị Tuyến

Dextran – có bản chất là polysaccharide tự nhiên do hãng Pharmacia – LKB
(Thụy Điển) cung cấp với tên thương mại là Sephadex (bảng trang 84). Giới hạn
tách của gel dextran - 600.000 Daltons, vì dextran tự nhiên chứa ít liên kết ngang
nên khó giữ nguyên vẹn hạt nếu kích thước lỗ to hơn. Tuy nhiên nếu dextran được
bổ sung thêm các liên kết ngang bởi N,N’-methylene bisacrylamide thì dextran có
giới hạn tách gia tăng (xem sephacryl cũng do Pharmacia –LKB cung cấp).
Gel polyacrylamide : Tạo bởi quá trình đồng hóa polymer của acrylamide và
N,N’-methylene bisacrylamide (Bio-Rad cung cấp – Biogel –P là tên thương mại)
Gel agarose : Là thành phần polysaccharide tự nhiên của agar, cấu tạo từ
galactose và anhydrogalactose. Mạng gel được ổn định nhờ liên kết hydro nhiều
hơn là do các liên kết ngang. Hãng Bio - Rad cung cấp agarose với tên thương mại
là Bio - gel A, còn Pharmacia – cung cấp tên thương mại là sepharose và seperose.
Gel kết hợp polyacrylamide và agarose có tên thương mại là ultragel, nó cho
phép có độ phân tách cao với cấu trúc khá vững của agarose cho phép sử dụng áp

- Thời gian thực hiện bắt đầu từ tháng 10/2010 đến tháng 12/2011.
- Quá trình nghiên cứu tại phòng “ Các chất có hoạt tính sinh học” thuộc Viện
Sinh Học Nhiệt Đới thành phố Hồ Chí Minh.
2.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU :
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là nội tạng cá basa
Giới thiệu chung về cá Basa :

Hình 2.1 Cá Basa
-

Cá Basa còn có tên gọi là cá giáo, cá sát bụng là loài cá da trơn cá giá trị kinh
tế cao, được nuôi tập trung nhiều nước trên thế giới.

-

Theo hệ thống phân loại Tyson Roberts phân loại cá basa như sau :

 Cá basa thuộc bộ cá nheo Silurifomes, họ cá tra Pangasiidae, giống cá basa
Pangasius, loài cá basa Pangasius bocuorti (sau vage 1880).
 Họ Pangasiidae có 21 loài thuộc 2 giống : giống Pangasius có 19 loài và
giống Helicophagus có 2 loài. Có một số loài sống trong nước lợ, và 2 loài
sống ở biển.

SVTH : Trần Tú Nhi

23

MSSV : 107111115



 Cá trưởng thành chỉ thấy trong ao nuôi, rất ít gặp trong địa phận Việt Nam.
Do cá có tập tính di cư ngược dòng sông Mê Công để sinh sống và tìm nơi
sinh sản tự nhiên. Bãi đẻ của cá nằm khu vực ngã tư giao tiếp 2 con sông Mê
Công và Tonlesap, nơi giáp Campuchia và Lào. Nhưng tập trung nhất từ
Kampi đến hết Rongiev thuộc địa giới 2 tỉnh Kratie và Stung Treng.
-

Tỷ trọng :

 Cá Basa có tốc độ lớn khá nhanh, sau một năm nuôi lớn được 0,7-1,3kg/ con.
Nuôi trong bè sau 2 năm đạt 2,5kg/ con. Trong tự nhiên gặp cỡ cá dài 0,5m.

SVTH : Trần Tú Nhi

24

MSSV : 107111115



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status