BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THU HƯƠNG
BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM
ĐIỆN ẢNH TRÊN INTERNET THEO QUY ĐỊNH
CỦA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT
NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THU HƯƠNG
BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ĐIỆN
ẢNH TRÊN INTERNET THEO QUY ĐỊNH CỦA ĐIỀU
ƯỚC QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
như ngày hôm nay. Tận đáy lòng mình, học viên rất biết ơn cô!
Học viên cũng xin chân thành các thầy cô giảng dạy tại Khoa Pháp luật quốc tế
Trường Đại học Luật Hà Nội. Nhờ những kiến thức được các thầy cô truyền đạt trong
suốt quá trình theo học chương trình Thạc sĩ Luật học mà học viên có nền tảng kiến thức
để hoàn thành được luận văn. Bên cạnh đó, học viên cũng chân thành cảm ơn các thầy cô
Khoa Sau đại học Trường Đại học Luật Hà Nội cũng đã giúp đỡ cho học viên trong quá
trình hoàn thành luận văn.
Lời cuối, học viên xin gửi lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình, bạn bè
của học viên đã tạo điều kiện tốt nhất cho học viên trong suốt quá trình nghiên cứu và
hoàn thiện luận văn.
Hà Nội, ngày 1 tháng 8 năm 2016
Học viên
Nguyễn Thu Hương
DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
BLDS
Bộ luật dân sự
BLHS
Bộ luật hình sự
Bộ VH-TT&DL
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch
Công ước Berne
Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền
sở hữu trí tuệ 1994 - Agreement on trade – related aspects of
intellectual property rights 1994
Hiệp ước WCT
Hiệp ước của WIPO về quyền tác giả 1996 - The WIPO
Copyright Treaty
NOIP
National Office of Intellectual Property of Vietnam - Cục Sở
hữu trí tuệ Việt Nam
SHTT
Sở hữu trí tuệ
WIPO
World Intellectual Property Organization - Tổ chức sở hữu trí
tuệ thế giới
WTO
World Trade Organization - Tổ chức thương mại thế giới
MỤC LỤC
CỦA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM ............................ 29
2.1. Chủ thể được bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên
Internet ............................................................................................................. 29
2.1.1. Quy định của ĐƯQT ............................................................................ 29
2.1.2. Quy định của pháp luật Việt Nam ........................................................ 30
2.2. Các quyền được bảo hộ, thời hạn bảo hộ, giới hạn bảo hộ đối với tác
phẩm điện ảnh trên Internet............................................................................ 35
2.2.1. Các quyền được bảo hộ ........................................................................ 35
2.2.2. Thời hạn bảo hộ ................................................................................... 44
2.2.3. Giới hạn bảo hộ .................................................................................... 46
2.3. Hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên
Internet ............................................................................................................. 48
2.3.1. Quy định của ĐƯQT ............................................................................ 48
2.3.2. Quy định của pháp luật Việt Nam ........................................................ 49
2.4. Biện pháp bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên Internet
........................................................................................................................... 51
2.4.1. Biện pháp tự bảo vệ .............................................................................. 52
2.4.2. Biện pháp pháp lý ................................................................................. 54
Tiểu kết Chương 2 ............................................................................................... 61
Chương 3: THỰC TRẠNG BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC
PHẨM ĐIỆN ẢNH TRÊN INTERNET VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ĐIỆN ẢNH TRÊN
INTERNET TẠI VIỆT NAM ............................................................................. 62
3.1. Thực trạng bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên Internet
........................................................................................................................... 62
3.1.1. Thực trạng tại một số quốc gia trên thế giới ........................................ 62
3.1.2. Thực trạng tại Việt Nam ...................................................................... 64
3.1.3. Nguyên nhân của thực trạng ............................................................... 70
máy cá nhân một cách bất hợp pháp các tác phẩm điện ảnh dễ dàng hơn, và gần như
ai cũng cho rằng việc tải thông tin tự do từ Internet xuống máy cá nhân là việc bình
thường, không phải trả tiền sử dụng hay không bị đánh đồng đó là hành vi ăn cắp.
Nhận thức đó đã gây thiệt hại rất lớn đến quyền lợi hợp pháp của tác giả và chủ sở
hữu quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh. Thực trạng xâm phạm tràn lan quyền
tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên Internet không còn là một vấn đề quá xa lạ
đối với riêng Việt Nam, mà tồn tại ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới.
Sự kiện nước ta chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế
giới (WTO), tham gia các ĐƯQT liên quan đến bảo hộ quyền tác giả đó là: Công
ước Berne bảo hộ các tác phẩm văn học, khoa học và nghệ thuật; Hiệp định về
những khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS), phê
chuẩn gia nhập Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) với việc đảm bảo
2
thực thi cam kết về SHTT, sắp tới là gia nhập Hiệp ước của WIPO về quyền tác giả
(Hiệp ước WCT) và xuất phát từ thực trạng các hành vi xâm phạm quyền tác giả đối
với tác phẩm điện ảnh trên Internet, chúng ta nhận thức được việc bảo hộ quyền tác
giả đối với loại hình tác phẩm này đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên Internet đang là vấn đề
mà pháp luật quốc tế cũng như pháp luật Việt Nam đang tiếp tục nghiên cứu và
hoàn thiện. Nhận thấy đây là một vấn đề khá hay và mới mẻ trong lĩnh vực bảo hộ
quyền tác giả, học viên xin chọn đề tài “Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm
điện ảnh trên Internet theo quy định của Điều ước quốc tế và pháp luật Việt
Nam” làm đề tài cho Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật quốc tế của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên Internet là một đề
tài khá mới mẻ cả về lý luận và thực tiễn ở Việt Nam và các quốc gia trên thế giới.
Các đề tài nghiên cứu khoa học, bài báo đăng tạp chí, luận văn, luận án gần đây mới
tham luận với đề tài “Vấn đề bản quyền trong hoạt động điện ảnh”. Nội dung bài
tham luận tập trung vào làm rõ vấn đề bản quyền điện ảnh khi đất nước ta bước
sang thời kì phát triển theo cơ chế kinh tế thị trường và có sự so sánh với thị trường
bản quyền điện ảnh ở một số quốc gia trong khu vực như Trung Quốc. Bài tham
luận ra đời trong thời kỳ Việt Nam vẫn đang áp dụng BLDS năm 19995, chưa xây
dựng Luật SHTT và chưa có Luật Điện ảnh.
-
Năm 2009, luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Quản Tuấn Anh được thực
hiện tại trường Đại học Luật Hà Nội với đề tài “Bảo hộ quyền tác giả, quyền liên
quan trong môi trường kỹ thuật số - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”. Nội dung
của luận văn tập trung chủ yếu vào việc phân tích quy định của pháp luật Việt Nam
về quyền tác giả, quyền liên quan đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa
học trong môi trường kỹ thuật số. Từ đó, luận văn đưa ra những giải pháp nhằm
đảm bảo việc bảo hộ trên thực tế được hiệu quả hơn.
-
Năm 2012, khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Hải Linh được thực hiện
tại trường Đại học Luật Hà Nội với đề tài “Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm
âm nhạc theo quy định của pháp luật Việt nam và Hàn Quốc”. Khóa luận tập trung
nghiên cứu các quy định của Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm
nhạc và có sự so sánh với quy định của pháp luật Hàn Quốc, từ đó rút ra kinh
nghiệm cho Việt Nam khi tiến hành bảo hộ loại hình tác phẩm này.
-
Năm 2014, luận văn Thạc sĩ ngành Pháp luật về quyền con người của tác giả
và thực trạng xâm phạm quyền sao chép đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật,
khoa học trên Internet. Bài viết cũng đã chỉ ra các biện pháp mà các quốc gia trên
thế giới sử dụng để hạn chế hành vi xâm phạm quyền sao chép trên Internet và
khuyến khích áp dụng tại Việt Nam.
Các công trình nghiên cứu khoa học trên đã phần nào đáp ứng yêu cầu của
thực tiễn về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên Internet. Tuy
nhiên, hầu hết các công trình về đề tài này mới chỉ gói gọn trong các buổi Hội thảo,
vì vậy các vấn đề nghiên cứu còn mang tính chung chung, không chuyên sâu vào
lĩnh vực cụ thể. Do đó, dưới góc độ là luận văn thạc sĩ, luận văn sẽ nghiên cứu
quyền tác giả trên Internet một cách chuyên sâu hơn, cụ thể luận văn sẽ tập trung
vào lĩnh vực điện ảnh – một vấn đề mà sự vi phạm quyền tác giả đang được quan
tâm cả trên thế giới và Việt Nam.
3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh
trên Internet, cụ thể: chủ thể nào được bảo hộ, bảo hộ quyền tác giả ở khía cạnh nào,
bảo hộ như thế nào, thời gian bảo hộ, giới hạn bảo hộ, hành vi nào sẽ bị coi là xâm
5
phạm đến quyền tác giả tác phẩm điện ảnh trên Internet, những trường hợp tác
phẩm điện ảnh sẽ không được bảo hộ,... Bên cạnh đó, thông qua các số liệu thu thập
được từ thực trạng vi phạm của một số quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam, đề tài
sẽ đưa ra các giải pháp góp phần khắc phục tình trạng trên.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định về bảo hộ quyền tác giả đối với tác
phẩm điện ảnh trên Internet theo quy định của ĐƯQT và pháp luật Việt Nam. Đối
với ĐƯQT, luận văn tập trung phân tích các quy định tại các ĐƯQT mà Việt Nam
là thành viên và sẽ là thành viên, cụ thể: Công ước Berne, Hiệp định TRIPs, Hiệp
việc bảo hộ quyền cho các tác giả tác phẩm điện ảnh khi tác phẩm được lưu thông
trong môi trường Internet, biết được hành vi nào là hợp pháp, hành vi nào là bất hợp
6
pháp để tạo cho bản thân ý thức tôn trọng quyền tác giả nói chung và quyền tác giả
đối với tác phẩm điện ảnh nói riêng.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của đề tài
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài, học viên sẽ tập trung lí giải
và đưa ra lời giải cho một số câu hỏi, như:
-
Quyền tác giả là gì? Tại sao phải bảo hộ quyền tác giả?
-
Tác phẩm điện ảnh là gì? Quyền của tác giả đối với tác phẩm điện ảnh có gì
khác biệt so với quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học
không?
-
Tại sao phải bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên Internet?
Môi trường đó ảnh hưởng như thế nào đến quyền tác giả?
-
Các quy định của ĐƯQT và pháp luật Việt Nam về vấn đề này có tương
quan: báo cáo tại Hội thảo chuyên ngành, báo cáo của Cục Bản quyền tác giả,....;
7
tham khảo các công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài về bảo hộ quyền tác
giả đối với tác phẩm điện ảnh trên Internet, từ đó đưa ra được giải pháp kiến nghị
nhằm hoàn thiện pháp luật, hoàn thiện cơ chế quản lý của Nhà nước về vấn đề trên.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh, dù tác phẩm điện ảnh được lưu thông
trong môi trường truyền thống hay trên Internet, đều cần được bảo hộ một cách hiệu
quả. Với lượng kiến thức và nguồn thông tin có được trong quá trình nghiên cứu,
học viên hi vọng đề tài của mình sẽ làm rõ các vấn đề pháp lý cơ bản về quyền tác
giả đối với tác phẩm điện ảnh, đặc biệt là việc bảo hộ quyền tác giả trên Internet. Đề
tài sẽ là kênh thông tin về các biện pháp hữu ích có thể áp dụng để góp phần bảo hộ
hiệu quả quyền tác giả cho các tác phẩm điện ảnh trên Internet. Hơn hết, đề tài có ý
nghĩa rất lớn, là thành quả sau quá trình thực hiện chương trình đào tạo Thạc sĩ luật
học của học viên tại Trường Đại học Luật Hà Nội.
8. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, danh mục từ viết tắt, kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục, bố cục của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền tác giả và bảo hộ quyền tác giả đối
với tác phẩm điện ảnh trên Internet
Chương 2: Nội dung pháp lý cơ bản về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm
điện ảnh trên Internet theo quy định của Điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam
Chương 3: Thực trạng bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên
Internet và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm
điện ảnh trên Internet tại Việt Nam
quyền tác giả (copyright owner) sẽ được hưởng khi “sao chép, nhân bản” tác
1
2
https://vi.wikipedia.org/wiki/Quyền_tác_giả, ngày truy cập 14/04/2016.
http://marketingbox.vn/Lich-su-nganh-in.html, ngày truy cập 14/04/2016
9
phẩm. Nghĩa là, theo Luật Bản quyền, các quốc gia sẽ đứng về phía các nhà khai
thác giá trị kinh tế của tác phẩm chứ không phải đứng về phía người sáng tạo ra tác
phẩm. Còn theo hệ thống pháp luật quyền tác giả của hệ thống luật lục địa (Civil
law), quyền tác giả được gọi bằng thuật ngữ “Quyền tác giả - Author’s right”, trong
đó trọng tâm là bảo vệ quyền của người sáng tạo ra tác phẩm, nhấn mạnh đến quyền
lợi về mặt tinh thần (moral rights) mà tác giả của tác phẩm sẽ được hưởng như
quyền được trích dẫn khi tác phẩm được sử dụng hoặc quyền bảo đảm tác phẩm
không bị sửa đổi, bổ sung, thay đổi, chuyển thể dưới mọi hình thức mà không được
sự đồng ý của tác giả.
Trong xu thế hội nhập, pháp luật Việt Nam đã xây dựng tương đối đầy đủ các
quy định về quyền tác giả. Chế định quyền tác giả được ghi nhận trong nhiều văn
bản luật như Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Luật
SHTT năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009, BLDS năm 2005 và các văn bản dưới
luật khác như Nghị định số 100/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 21 tháng 9 năm
2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật
sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan; Nghị định số 131/2013/NĐ-CP
của Chính phủ ngày 16 tháng 10 năm 2013 Quy định xử phạt vi phạm hành chính
về quyền tác giả, quyền liên quan,…. Khoản 2 Điều 4 Luật SHTT 2005 định nghĩa:
“quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra
hoặc sở hữu”. Theo đó, quyền tác giả bảo hộ các sáng tạo của tác giả trong lĩnh vực
nhiếp ảnh và các tác phẩm được diễn tả bằng một kỹ thuật tương tự như nhiếp ảnh;
các tác phẩm nghệ thuật ứng dụng, minh họa, địa đồ, đồ án, bản phác họa và các tác
phẩm tạo hình liên quan đến địa lý, địa hình, kiến trúc hay khoa học3.
Xuất phát từ hoạt động tư duy của con người trong quá trình lao động, sáng tạo
và được thể hiện dưới dạng hình thức vật chất nhất định, đối tượng của quyền tác
giả luôn mang tính sáng tạo, được bảo hộ không phụ thuộc vào giá trị nội dung và
giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Tính sáng tạo của tác phẩm không phụ thuộc vào
tính mới của tác phẩm, nghĩa là dù một tác phẩm có nội dung không mới nhưng nếu
có tính sáng tạo thì tác phẩm đó vẫn được bảo hộ quyền tác giả. Bên cạnh đó, pháp
luật về quyền tác giả sẽ không bảo hộ hình thức thể hiện tác phẩm dưới dạng nào đó
mà không phản ánh hay không chứa đựng nội dung nhất định. Tác phẩm phải do tác
3
Điều 2.1 Công ước Berne.
11
giả trực tiếp thực hiện lao động bằng trí tuệ của mình mà không phải sao chép từ tác
phẩm của người khác. Những tác phẩm được thể hiện dưới hình thức nhất định, có
nội dung cụ thể nhưng trái với đạo đức xã hội, lợi ích dân tộc, xâm phạm đến quyền
con người, quyền công dân,….sẽ không được pháp luật bảo hộ.
Quyền tác giả bảo hộ hình thức thể hiện tác phẩm
Pháp luật về quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức chứa đựng tác phẩm khi tác
phẩm được tạo ra và thể hiện dưới hình thức nhất định mà không bảo hộ nội dung
tác phẩm. Tác phẩm đó phải là thành quả lao động sáng tạo của tác giả được thể
hiện ra bên ngoài dưới hình thức nhất định để người khác có thể biết tới tác phẩm
trên thực tế, bởi pháp luật sẽ không thể bảo vệ tác phẩm khi tác phẩm mới chỉ được
định hình trong suy nghĩ hay ý tưởng của tác giả.
Về hình thức thể hiện tác phẩm, Công ước Berne cho phép các quốc gia lựa
Bảo hộ quyền tác giả là bảo hộ sự sáng tạo cá nhân về hình thức thể hiện ý
tưởng, do đó khi con người sáng tạo và thể hiện ý tưởng dưới một hình thức khách
quan nhất định thì cũng đồng thời phát sinh quyền tác giả mà không cần một điều
kiện hay thủ tục nào.
Quyền tác giả mang tính lãnh thổ
Đối với quyền tác giả, tác phẩm văn học hoặc nghệ thuật, các tác phẩm sẽ
được bảo hộ ngay khi tác phẩm được tạo ra, hoặc ở một số nước, ngay khi tác phẩm
được định hình dưới dạng vật chất bất kỳ theo pháp luật của quốc gia đó, và chỉ có
hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó. Tuy nhiên, liên quan đến việc bảo hộ ở
nước ngoài, một tác phẩm được công dân hoặc cư dân của một nước là thành viên
của Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật hoặc thành viên của
WTO tạo ra sẽ được bảo hộ tự động ở tất cả các nước thành viên khác của Công ước
Berne hay WTO. Như vậy, cơ chế bảo hộ quyền tác giả cho tác phẩm sẽ được đảm
bảo thi hành rộng rãi và đúng với tiêu chí đảm bảo quyền tác giả đối với “sản phẩm
con đẻ” của mình.
Quyền tác giả mang tính thời gian
Quyền tác giả tự động phát sinh từ thời điểm tác phẩm được định hình dưới
một hình thức vật chất nhất định, bất kể tác phẩm đã công bố hay chưa công bố, đã
đăng ký hay chưa đăng ký5. Tuy nhiên, về thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với tác
phẩm được xác định khác nhau tùy theo pháp luật từng quốc gia.
5
Xem Điều 2.2 Công ước Berne và Khoản 1 Điều 6 Luật SHTT 2005.
13
Theo Luật SHTT 2005, quyền tác giả được bảo hộ vô thời hạn đối với các
quyền nhân thân quy định tại các Khoản 1, 2 và 4 Điều 19, cụ thể: đặt tên cho tác
Lumière ở Lyon6. Do đây chỉ là những đoạn phim ghi lại cảnh sinh hoạt thường
ngày nên nó gần với các bộ phim tài liệu hơn là phim điện ảnh. Phải đến thập niên
1910, đạo diễn Hoa Kỳ D.W.Griffith đã đưa điện ảnh tiến thêm một bước mới khi
chuẩn hóa các thuật ngữ điện ảnh và các công đoạn làm phim cũng như cho ra đời
bộ phim mang tính cách mạng về kỹ thuật dàn dựng và kịch bản The Birth of a
Nation7.
Trong xu thế hòa chung với nền điện ảnh của thế giới, khái niệm tác phẩm
điện ảnh được ghi nhận trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam.
Luật SHTT là văn bản pháp lý đầu tiên ghi nhận tác phẩm điện ảnh và tác phẩm
được tạo ra theo phương pháp tương tự (gọi chung là tác phẩm điện ảnh) là loại
hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả tại Điểm e Khoản 1 Điều 14 Luật SHTT
2005. Tuy nhiên, phải đến khi Nghị định 100/2006/NĐ-CP ra đời, chúng ta mới có
một định nghĩa rõ ràng về tác phẩm điện ảnh. Theo đó, tác phẩm điện ảnh là
“những tác phẩm được hợp thành bằng hàng loạt hình ảnh liên tiếp tạo nên hiệu
ứng chuyển động kèm theo hoặc không kèm theo âm thanh, được thể hiện trên một
chất liệu nhất định và có thể phân phối, truyền đạt tới công chúng bằng các thiết bị
kỹ thuật, công nghệ, bao gồm loại hình phim truyện, phim tài liệu, phim khoa học,
phim hoạt hình và các loại hình tương tự khác”8.
Bên cạnh đó, Luật Điện ảnh 2006 ra đời cũng đã có những quy định cụ thể và
chi tiết về loại hình nghệ thuật này. Theo đó, điện ảnh được hiểu là một loại hình
nghệ thuật tổng hợp thể hiện bằng hình ảnh động, kết hợp với âm thanh, được ghi
trên vật liệu phim nhựa, băng từ, đĩa từ và các vật liệu ghi hình khác để phổ biến
đến công chúng thông qua các phương tiện kỹ thuật. Với đặc trưng là một loại hình
nghệ thuật tổng hợp, với ngôn ngữ đặc trưng là hình ảnh và âm thanh, các tác giả
kịch bản, đạo diễn, quay phim, dựng phim, sáng tác âm nhạc, thiết kế mỹ thuật,
thiết kế âm thanh, ánh sáng,……đã đưa đến công chúng những tác phẩm điện ảnh
có giá trị lịch sử và nghệ thuật. Khoản 2 Điều 4 Luật Điện ảnh 2006 định nghĩa:
6
http://hocdungphim.com/nghe-dung-phim-la-gi.html, ngày truy cập 14/04/2016.
truyền hình.13
9
http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=2849, ngày truy cập
16/04/2016.
10
https://phimtailieutruyenhinh.wordpress.com/2015/08/20/su-khac-nhau-giua-phong-su-va-phim-tai-lieu/,
ngày truy cập 16/04/2016.
11
https://sites.google.com/site/giaitrisukien/giai-tri/dhien-anh-va-cac-the-loai-phim, ngày truy cập
16/04/2016.
12
https://vi.wikipedia.org/wiki/Phim_hoạt_hình, ngày truy cập 16/04/2016.
13
Khoản 3 Điều 4 Luật Điện ảnh 2006.
16
Với đặc tính là tác phẩm được hình thành dựa trên sự sáng tạo của tác giả bằng
các hiệu ứng và các thiết bị kỹ thuật nhất định, tác phẩm điện ảnh cũng được ghi
nhận là một sản phẩm nghệ thuật cần được bảo hộ và là đối tượng được bảo hộ
quyền tác giả theo quy định của ĐƯQT và pháp luật Việt Nam. Do đó, quyền tác
giả đối với tác phẩm điện ảnh cũng được bảo hộ đầy đủ như quyền tác giả đối với
tác phẩm văn học và nghệ thuật khác. Tuy nhiên, với tính chất là một loại hình nghệ
thuật đặc biệt nên tác phẩm điện ảnh có những đặc điểm riêng biệt so với các tác
phẩm văn học, nghệ thuật khác, cụ thể:
-
+ Cùng với các hoạt động đặc trưng trên, người thiết kế mỹ thuật; thiết kế âm
thanh; ánh sáng; mỹ thuật trường quay; thiết kế đạo cụ; kỹ xảo và các công việc
khác có tính sáng tạo,….đã hợp thành một tập thể sáng tạo tác phẩm điện ảnh hoàn
chỉnh.
Ở những nước có nền kinh tế thị trường phát triển, tổ chức, cá nhân đầu tư tài
chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật để sản xuất tác phẩm điện ảnh cũng được coi là một
thành phần quan trọng tạo ra sự kết hợp hoàn hảo cho tác phẩm điện ảnh. Cá nhân,
tổ chức này có thể làm công tác đi chọn kịch bản, tìm đạo diễn, hoạch định kế
hoạch làm phim, kế hoạch kinh doanh, bán phim và tìm các nhân tố khác để thực
hiện bộ phim, từ đó đầu tư tiền và cơ sở vật chất – kỹ thuật để sản xuất phim. Họ
gần như có toàn quyền trong việc tổ chức sản xuất và khai thác tác phẩm này.
Chính vì điện ảnh là một môn nghệ thuật tổng hợp, tác phẩm điện ảnh được
tạo ra do một tập thể tác giả đồng sáng tạo nên mỗi cá nhân sáng tạo của loại hình
nghệ thuật này có vị trí, vai trò và đóng góp riêng trong tác phẩm điện ảnh. Giá trị
lao động sáng tạo của họ được Nhà nước bảo hộ thông qua hệ thống pháp luật và
hoạt động của hệ thống thực thi quyền tác giả. Luật SHTT Việt Nam đã ghi nhận
bảo hộ quyền tác giả tác phẩm điện ảnh cho tập thể tác giả tại Điều 19 về quyền
nhân thân (quyền đặt tên cho tác phẩm; quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác
phẩm; quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm) và Điều 20 về quyền tài sản (quyền
sao chép tác phẩm; quyền công bố tác phẩm;….). Theo đó, các cá nhân, tổ chức
khác muốn sử dụng tác phẩm điện ảnh sẽ phải tuân thủ các quy định của Luật SHTT
về sự đồng ý, cho phép của cả tập thể tác giả nói trên và trả thù lao, nhuận bút để
đảm bảo tất cả các tác giả đều được tôn trọng quyền tác giả đối với sản phẩm của
mình, đồng thời tạo nguồn cảm hứng cho các tác giả tiếp tục sáng tạo nghệ thuật
trong lĩnh vực riêng mà mình đảm nhận.
18
-
thực trong đó chứa đựng những thực thể hữu hình, Internet là một môi trường
không xác định được bằng những số đo thực tế, trong đó các thực thể vô hình di
chuyển một cách tự do và được định hướng bởi người sử dụng. Môi trường này tạo
điều kiện cho phép các thiết bị kết nối mạng có thể dễ dàng kết nối và trao đổi tài
liệu với nhau mà không đòi hỏi thêm bất cứ điều kiện gì. Các thiết bị kết nối mạng
này bao gồm hàng ngàn mạng máy tính nhỏ hơn của các doanh nghiệp, của các viện