Pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người việt nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở việt nam (luận văn thạc sĩ luật học) - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN NGỌC TRÂM

PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH
CƯ Ở NƯỚC NGOÀI SỬ DỤNG ĐẤT Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN NGỌC TRÂM

PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH
CƯ Ở NƯỚC NGOÀI SỬ DỤNG ĐẤT Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107


và quý báu.
Cuối cùng, học viên xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng
nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ học viên trong quá trình học tập,
nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày 12 tháng 07 năm 2016.
Học viên

Nguyễn Ngọc Trâm


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1
1. Tính cấp thiết của đề tài
1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4
3.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn
4
3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
4
4. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
4
4.1. Mục đích nghiên cứu của luận văn
4
4.2. Nhiệm vụ của luận văn
5
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam
30
1.3.1. Giai đoạn trước năm 1993
30
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2003
32
1.3.3. Giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2013
34
1.3.4. Giai đoạn từ năm 2013 đến nay
36
1.4. Pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về quyền và nghĩa vụ của công
dân định cư ở nước ngoài trong quan hệ sử dụng đất
37
Kết luận chương 1
41
Chương 2
42
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI
VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI SỬ DỤNG ĐẤT Ở VIỆT NAM
42
2.1. Các quy đinh của pháp luật về các hình thức sử dụng đất của người Việt
Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam
42


2.2. Các quy định của pháp luật về thời hạn sử dụng đất của người Việt Nam
định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam
46
2.3. Các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ chung của người Việt
Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam

hữu nhà ở tại Việt Nam
64
2.6.2. Quy định trong trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài không
thuộc đối tượng mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam
66
2.7. Các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam
định cư ở nước ngoài thuê đất để xây dựng công trình ngầm
69
2.7.1. Quy định trong trường hợp thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian
thuê
70
2.7.2. Quy định trong trường hợp thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm
71
Kết luận chương 2
72
Chương 3
73
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN
VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI SỬ
DỤNG ĐẤT Ở VIỆT NAM
73
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người Việt
Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam
73
3.2. Một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của
người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam
74
Kết luận chương 3
79


Mặc dù các chính sách và pháp luật đất đai trong lĩnh vực quyền và
nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã có rất nhiều những
bước tiến so với những ngày đầu hình thành. Từ việc quy định cho họ chỉ có
quyền được thuê đất ở Việt Nam để thực hiện dự án đầu tư theo trong quy
định của pháp luật đất đai năm 1993. Đến nay, người Việt Nam định cư ở
nước ngoài đã có thể thực hiện rất nhiều quyền khác và tiến tới bình đẳng với
các chủ thể sử dụng đất khác trong nước. Nhưng thực tế phát triển của đất
nước cho thấy vẫn còn có những thiếu sót trong việc đảm bảo cho người Việt
Nam định cư ở nước ngoài được thực hiện đầy đủ các quyền cũng như nghĩa
vụ của mình trong các giao dịch đất đai là rất có ý nghĩa.
Có thể thấy, việc xây dựng được các cơ sở pháp lý bảo đảm thực hiện
tốt các quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng


9

đất ở Việt Nam trong nền kinh tế hội nhập như hiện nay đòi hỏi phải có sự
nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật về việc người
Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam. Trên cơ sở đó đề
xuất những giải pháp nhằm khác phục những bất cập, tồn tại cũng như đẩy
mạnh, phát huy những điểm hợp lý trong lĩnh vực này, đảm bảo quyền và lợi
ích hợp pháp của nhóm đối tượng này. Qua đó tạo động lực lòng tin và tiếp
tục thu hút nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài về
Việt Nam sinh sống đầu tư, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đề tài
“Pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài
sử dụng đất ở Việt Nam” với mong muốn góp một phần vào việc giải quyết
các vấn đề lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực sử dụng đất ở Việt Nam của
cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng

quyền của người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam để
thực hiện các dự án đầu tư.
- Chuyên đề 11 của Đề tài khoa học cấp trường của Đỗ Xuân Trọng,
Hoàn thiện pháp luật về quyền dân sự về nhà ở của tổ chức, cá nhân, người
Việt Nam định cư ở nước ngoài khi được phép mua nhà ở tại Việt Nam.
Nhìn chung, các bài viết, các công trình nghiên cứu nêu trên đã góp
phần tạo ra những cơ sở lý luận và chỉ ra được những vấn đề thực tiễn cho
việc quy định về quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước
ngoài sử dụng đất ở Việt Nam. Nhưng mỗi một công trình nghiên cứu lại
được thực hiện ở các giai đoạn khác nhau cũng như trên các khía cạnh khác
nhau và chủ yếu nghiên cứu về quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định
cư ở nước ngoài sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư ở Việt Nam – một
mảng trong tổng thể quyền và nghĩa vụ của họ khi sử dụng đất ở Việt Nam.
Một số công trình khác tuy đã trực tiếp nghiên cứu về quyền và nghĩa vụ của
người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi sử dụng đất ở Việt Nam nhưng lại
trước thời điểm Luật Đất đai Việt Nam năm 2013 ra đời nên đến thời điểm
hiện tại không còn phù hợp. Bởi vậy việc nghiên cứu pháp luật về quyền và
nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam
vào thời điểm này được xem là một công việc có ý nghĩa cấp bách khi Việt
Nam ngày càng mở cửa hội nhập sâu rộng với thế giới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn


11

Với tư cách là một công trình nghiên cứu luật học, đối tượng nghiên
cứu của đề tài luận văn được xác định là các quy định pháp luật nói chung và
quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước
ngoài sử dụng đất ở Việt Nam nói riêng; các tình huống thực tiễn phát sinh


- Làm rõ thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người Việt
Nam định cư ở nước ngoài cũng như thực tiễn thực hiện quyền và nghĩa vụ
của họ trong hoạt động sử dụng đất ở Việt Nam.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền và
nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, đáp ứng có hiệu quả các
yêu cầu do thực tế cuộc sống đặt ra và phù hợp với xu thế chung của thế giới.
4.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích nghiên cứu kể trên, đề tài luận văn có nhiệm vụ
sau đây:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về người Việt Nam định cư ở nước
ngoài với tư cách là một chủ thể đặc biệt nhưng lại bình đẳng với các chủ thể
khác trong nước về hoạt động sử dụng đất; cơ sở lý luận của việc quy định
quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài trong lĩnh vực
này.
- Nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng quyền và nghĩa
vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, các quy định pháp luật có liên
quan để làm rõ cơ sở thực tiễn của việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp
luật về lĩnh vực này.
- Đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện pháp luật đất đai nói
chung và các quy định về quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở
nước ngoài nói riêng trên định hướng xóa bỏ sự phân biệt giữa người Việt
Nam định cư ở nước ngoài và người Việt Nam ở trong nước khi sử dụng đất.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn dựa trên
cơ sở vận dụng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ
nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà
nước ta về chính sách và pháp luật đất đai trong sự nghiệp đổi mới nhằm xây
dựng và phát triển nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy mọi
tiềm năng phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bên

khẳng định nhu cầu cấp bách của việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho sự
phát triển của hoạt động đầu tư của người Việt Nam định cư ở nước ngoài về
Việt Nam.
- Luận văn đã đề xuất những định hướng và giải pháp hoàn thiện các
quy định về quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài
trong hoạt động sử dụng đất trước bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa ở nước ta và xu thế hội nhập thế giới.


14

7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền và nghĩa vụ của người Việt
Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam.
- Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền và nghĩa vụ của
người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam.
- Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền và
nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam.

Chương 1
LÝ LUẬN VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH
CƯ Ở NƯỚC NGOÀI SỬ DỤNG ĐẤT Ở VIỆT NAM
1.1. Lý luận về người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt
Nam
1.1.1. Khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Pháp luật Việt Nam qua từng thời kỳ lại có những định nghĩa khác
nhau về người Việt Nam định cư ở nước ngoài.


định cư ở nước ngoài bao gồm: người có quốc tịch Việt Nam nhưng sinh sống
ở nước ngoài và người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước
ngoài, chứ chưa phân biệt được rõ định nghĩa về “người Việt Nam định cư ở
nước ngoài” và định nghĩa về “người Việt Nam ở nước ngoài”. Cho đến Luật


16

Quốc tịch năm 1998 thay thế cho Luật Quốc tịch năm 1988 thì định nghĩa về
những chủ thể này đã được đưa ra, cụ thể tại khoản 3 và khoản 4 Điều 2:
“- Người Việt Nam ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc
Việt Nam đang thường trú hoặc tạm trú ở nước ngoài.
- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người
gốc Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.”.
Như vậy, theo quy định của Luật Quốc tịch năm 1998 thì để xác định
một người là người Việt Nam định cư ở nước ngoài hay người Việt Nam ở
nước ngoài căn cứ vào việc người này cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước
ngoài hay chỉ là đang thường trú, tạm trú ở nước ngoài. Trong pháp luật đất
đai, khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài được nhắc tới tại Điều 2
Nghị định số 81/2001/NĐ-CP ngày 05/11/2001 của Chính phủ v/v người Việt
Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở Việt Nam: “Người Việt Nam định cư ở
nước ngoài quy định tại Nghị định này là công dân Việt Nam và người gốc
Việt Nam cư trú, làm ăn sinh sống lâu dài ở nước ngoài đã được quy định tại
Luật Quốc tịch Việt Nam ngày 01/01/1999”, những người này về đầu tư, hoạt
động văn hóa, hoạt động khoa học thường xuyên hoặc về sống ổn định tại
Việt Nam.
Tới Luật Quốc tịch năm 2008, định nghĩa về người Việt Nam định cư ở
nước ngoài vẫn được kế thừa theo quy định tại khoản 3 Điều 3. Bên cạnh đó,
pháp luật quốc tịch năm 2008 còn quy định về người gốc Việt Nam định cư ở
nước ngoài tại khoản 4 Điều 3, cụ thể: “Người gốc Việt Nam định cư ở nước

Năm 1954, Hiệp định Genevơ được ký kết nhằm giúp chấm dứt chiến
tranh tại Việt Nam và cả Đông Dương, chấm dứt sự hiện diện của quân đổi
Pháp và chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương. Một trong những nội dung
thỏa thuận trong Hiệp định Genevơ đã tạm thời phân chia đất nước thành hai
miền Bắc – Nam, lấy ranh giới là vĩ tuyến mười bảy. Tại thời điểm đó, chính
quyền và quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tập trung về miền Bắc Việt
Nam, chính quyền và quân đổi khối Liên hiệp Pháp tập trung về miền Nam
Việt Nam (sau này lấy tên là Chính phủ Việt Nam Cộng hòa). Ngay sau thời
khắc chia Việt Nam ra làm hai vùng tập trung quân sự, một cuộc di cư lớn của
gần 900.000 người dân miền Bắc, đa số là người Công giáo, đã vào miền
Nam với niềm tin tôn giáo của họ.
Từ năm 1955 đến năm 1975, chính quyền ở miền Nam Việt Nam đã cố
gắng xây dựng một nhà nước mới từ sự viện trợ chủ yếu là của Hoa Kỳ và cả
1 Andrew T. Pham (2010), “The Returning Diaspora: Analyzing oversea Vietnamese (Viet Kieu)
Contributions toward Vietnam’s Economic Growth”, Depocen.


18

của Pháp. Trong giai đoạn này, mọi mặt kinh tế, chính trị và xã hội của người
dân đều chịu ảnh hưởng từ các nước phương Tây này làm cho sự khác biệt
giữa miền Bắc và miền Nam càng lớn. Và đến tháng 04/1975, chương trình
“Frequent Wind” của Chính phủ Hoa Kỳ đã di tản quân nhân, nhân viên dân
sự Hoa Kỳ và một số người Viêt Nam đã từng công tác hay có liên hệ với
Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Có 50.493 người đã
được di tản từ sân bay Tân Sơn Nhất vào thời điểm đó, và tính đến năm 1977,
gần 210.000 người Việt Nam đã di cư chủ yếu sang các nước Hoa Kỳ, Pháp,
Canada và Úc. Đây cũng chính là cuộc di cư lớn đầu tiên của người Việt Nam
ra nước ngoài.
Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, làn sóng di cư lớn thứ hai của

khích người Việt Nam, trí thức Việt Nam ở nước ngoài hướng về quê hương,
góp phần xây dựng đất nước; khen thưởng nhiều người có thành tích đóng
góp cho Tổ quốc”2. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 cũng ghi nhận tại Điều
18: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của
cộng đồng dân tộc Việt Nam. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khuyến khích và tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ
gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, giữ qan hệ gắn bó với gia
đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương.”. Luật Quốc tịch năm
2014 cũng đã quy định rõ tại Điều 7: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người gốc
Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê
hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước…”.
Với những chủ trương, chính sách ngày càng mở rộng của Nhà nước, tư
tưởng hướng về cội nguồn của cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước
ngoài đã có những bước phát triển tích cực trong những năm gần đây. Sự
tham gia của kiều bào vào các hoạt động xã hội trong nước ngày càng sâu
rộng. Số lượng người về thăm gia đình, quê hương ngày một tăng, nếu như
năm 1987 chỉ có khoảng 8.000 lượt người về thăm Việt Nam, thì năm 1992 đã
lên tới 97.000 lượt người; các năm 2000-2004, trung bình mỗi năm có khoảng
350.000 lượt kiều bào về Việt Nam thăm thân nhân, du lịch, tìm hiểu cơ hội
đầu tư kinh doanh. Năm 2004 đạt kỷ lục với 430.000 lượt người. Theo báo
cáo của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, trong giai đoạn 5
năm (từ năm 2005 đến năm 2010) trung bình mỗi năm có khoảng 500.000
Việt kiều về thăm quê hương, theo đó một lượng kiều hối rất lớn được chuyển
2 Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX tại Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng.


20


4 http://www.worldbank.org/en/topic/migrationremittancesdiasporaissues/brief/migration-remittances-data
ngày truy cập 24/09/2015.


21

mại, giúp giảm thiểu rủi ro trong việc huy động vốn, góp phần giải quyết việc
làm cho người lao động.

Dòng vốn kiều hối giai đoạn 2000 - 2015
14
12

(Tỷ USD)

10
8
6
4
2
0

Nguồn: Viện Chính sách di dân,“Dữ liệu chuyển tiền hàng năm”
(cập nhật tháng 04/2016)5
Bên cạnh đó, tiềm lực về chất xám, trí tuệ của cộng đồng người Việt
Nam định cư ở nước ngoài là tương đối lớn và có chất lượng, do có một bộ
phận lớn người Việt Nam định cư ở nước ngoài tập trung ở các khu vực Bắc
Hoa Kỳ, Tây Âu, Nga và Đông Âu – những nước phát triển trên thế giới.
Cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài thông qua các hoạt động
của các hội, đoàn dưới nhiều hình thức phong phú, chất lượng, đã góp phần

Theo quy định của pháp luật hiện hành, Luật Đất đai năm 2013 ghi
nhận các chủ thể là người sử dụng đất ở Việt Nam tại Điều 5, các chủ thể này
được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận
chuyển quyền sử dụng đất. Và người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo
quy định của pháp luật về quốc tịch cũng là một trong số những chủ thể được
Nhà nước công nhận là người sử dụng đất (khoản 6 Điều 5 Luật Đất đai năm
2013).
* Cơ sở lý luận của việc xây dựng pháp luật quyền và nghĩa vụ của người Việt
Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam
- Thứ nhất, quan điểm, đường lối của Đảng về đại đoàn kết dân tộc.
Bắt đầu từ Đại hội VII, Đảng ta đã xác định: “Đối với người Việt Nam
định cư ở nước ngoài, một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc
Việc Nam, Đảng và Nhà nước ta chủ trương bảo hộ quyền lợi chính đáng,
giúp đỡ nâng cao ý thức cộng đồng, tăng cường đoàn kết tương trợ, giữ gìn
6 Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao (2011), Báo cáo tổng quan về tình hình di cư của công dân Việt Nam ra nước
ngoài.


23

bản sắc văn hóa và truyền thống dân tộc”. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X
cũng nêu rõ “Đồng bào định cư ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời
và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng
tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các
nước”. Qua đó có thể thấy, từ sau khi đất nước đổi mới, người Việt Nam định
cư ở nước ngoài luôn được coi là một bộ phận không tách rời của dân tộc Việt
Nam, luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm tạo điều kiện quay về Việt Nam
làm ăn, sinh sống.
Bên cạnh đó, một bài học lớn trong quá trình cách mạng ở Việt Nam
mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX tổng kết là bài học phát huy sức mạnh

tính định hướng xã hội chủ nghĩa”. Công cuộc đổi mới hiện nay yêu cầu phải
hoàn thiện về thể chế này mà trước hết phải hình thành được các thị trường
mang tính “đầu vào” của hoạt động sản xuất – kinh doanh; đó là thị trường
vốn, thị trường lao động, thị trường bất động sản và thị trường khoa học công
nghệ. Đối với các thị trường vốn, thị trường lao động và thị trường khoa học
công nghệ, nước ta đã có nhiều đổi mới, giao lưu với các nước trên thế giới để
phát triển những thị trường này. Tuy nhiên, với đặc thù là đất đai thuộc sở
hữu toàn dân thì thị trường bất động sản Việt Nam những năm trước vẫn còn
khá “đóng” đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, Văn kiện Đại hội
Đảng lần thứ XI đã ghi nhận “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc
lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa
quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; Việt Nam là bạn, đối tác tin
cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; tạo môi trường
hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước”8 nên Việt Nam đã nỗ
lực và đạt được thành quả là thiết lập được quan hệ ngoại giao trên 150 quốc
gia và vùng lãnh thổ, trở thành thành viên chính thức của các tổ chức, diễn
đàn quốc tế quan trọng trong khu vực và trên thế giới như Hiệp hội các quốc
gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Hơp tác kinh tế Châu Á (APEC), Khu
vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA), Liên Hiệp Quốc (UN), Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO)… Kể từ khi gia nhập WTO, để thực hiện các
cam kết của mình, Việt Nam đã bắt đầu “mở cửa” với thế giới, mở cửa thị
trường bất động sản để các nhà đầu tư trong và ngoài nước có cơ hội bình
đẳng như nhau. Và với sức hấp dẫn từ lợi nhuận cao thu được từ hoạt động
đầu tư, kinh doanh bất động sản đem lại thì một lượng ngoại tệ lớn đã được
8 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia,
tr. 83, 84.


25


10 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc
gia, tr. 75.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status